Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan - Pdf 48

LUÂN VĂN:


Thực
hiệntrong
pháplĩnh
luậtvực
xử lỷ
phạm
hành
chính
hảìviquan
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Sở Thuế quan và Thuế gián thu (tên gọi đầu tiên của
Hải quan Việt Nam ngày nay) đuợc thành lập bởi sắc lệnh số 27/SL do Bộ truởng Bộ Nội
vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch nuớc ký, với nhiệm vụ "đảm bảo công việc của
Sở Tổng thanh tra độc quyền muối và thuốc phiện và các sở thuong chính Bắc, Trung và
Nam Bộ" [5].
Cho đến nay, đã 60 năm trôi qua, Hải quan Việt Nam đã có những đóng góp
xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới hoạt
động hải quan có tác động rất quan trọng và ảnh huởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt
động xuất nhập khẩu, đến môi truờng đầu tu nuớc ngoài, đến hoạt động du lịch; ảnh
huởng trực tiếp đến việc bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nuớc, bảo hộ lợi ích nguời
tiêu dùng, bảo vệ môi truờng, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia.
Thực hiện thắng lợi đuờng lối đổi mới kinh tế, chủ động hội nhập của Đảng. Trong điều
kiện mới, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, ngành Hải quan
cần phải làm là đảm bảo thực hiện tốt pháp luật hải quan, trong đó có việc đảm bảo thực
hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua, việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử

về pháp luật hải quan. Theo đường lối đổi mới và nhất là nhằm thực hiện chủ trưong
"quản lý đất nước bằng pháp luật", việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật,
về co chế thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật hải quan nói riêng đã có sự phát triển
mạnh. Có thể kể đến một số công trình sau:
- Luận án Tiến sĩ Luật học: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan trong
điều kiện hiện nay ở nước ta" của Vũ Ngọc Anh, 1999.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về kiểm tra giảm
sát hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Anh Công, 2001.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường quản lỷ nhà nước bằng pháp luật đổi
với hoạt động hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Trần Văn Dũng, 2001.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc ở
nước ta hiện nay - thực trạng và các phương hướng, giải pháp" của Lê Thanh Bình,
2002.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường quản lỷ nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Bùi Văn Thịnh, 2003.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh
vực xử lỷ vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay" của Đặng Thanh Sơn, 2003.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải
quan và giải pháp xử lý "của Lê Nguyễn Nam Ninh, 2004.
- Luận văn thạc sĩ luật học: "Hoàn thiện pháp luật trong quản lỷ nhà nước về
hải quan đổi với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay" của Bùi
Văn Hải, 2005.
- Đề tài nghiên cứu cấp ngành: "Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản
qui phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan đổi chiểu với các cam kểt quốc tể liên quan"
của Viện Nghiên cứu Hải quan, 2003.
- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu một sổ giải pháp nhằm hoàn thiện


pháp luật xử lỷ vi phạm hành chỉnh về hải quan theo yêu cầu của hội nhập kinh tể quốc
tể " của Vụ Pháp chế - Tổng cục Hải quan, 2005.



- Đe xuất và luận chứng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đổi tượng nghiên cứu của luận văn: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn
thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam.
- Phạm vỉ nghiên cứu: Trong khuôn khổ có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên
cứu những vấn đề cơ bản của việc bảo đảm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hải quan, và về thời gian, chỉ nghiên cứu chủ yếu giai đoạn từ sau
đổi mới (1986) đến nay, đồng thời có tham khảo các quy định pháp luật truớc đó khi
phân tích các vấn đề mang tính lịch sử.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về
tuyên truyền, giáo dục thực hiện pháp luật. Luận văn dựa trên cơ sở lý luận trực tiếp của
bộ môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật của khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa
- về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp của triết học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn,
phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu của một số bộ môn khoa học khác, như phương pháp luật học so sánh,
phương pháp xã hội học (điều ứa, khảo sát).
6. Những đóng góp mới của luận văn

Điểm mới nhất của luận văn là ở chỗ không chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan mà là nghiên cứu làm sáng tỏ các yêu
cầu, các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải
quan. Từ đó, các giải pháp đề xuất mang tính toàn diện, không chỉ có ý nghĩa đối với


1.1.1.1. Khải niệm pháp luật xử lý vi phạm hành chỉnh trong lĩnh vực hải
quan

Đe hiểu được khái niệm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trước hết cần phải
tìm hiểu một số khái niệm liên quan:
- Khái niệm vi phạm hành chỉnh.

Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến hàng ngày trong đời sống xã hội,
kinh tế, từ những hành vi nhỏ như vứt rác không đúng nơi, đúng chỗ, đến những hành vi có tính chất, mức độ lớn
hơn như điều khiển môtô, xe máy đi vào đường một chiều, vượt đèn đỏ, hoặc những hành vi trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh như tiến hành kinh doanh mà không đăng ký theo quy định của pháp luật, trốn thuế, thay đổi trụ
sở của doanh nghiệp mà không thông báo, hay những hành vi trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như vận chuyển
và xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trường không đúng theo quy định về bảo vệ môi trường; những hành
vi trong lĩnh vực thương mại như xuất nhập khẩu hàng hóa không đúng giấy phép hoặc không làm đúng thủ tục
hải quan trong lĩnh vực hải quan. Tóm lại, những hành vi vi phạm pháp luật trên thể hiện rất đa dạng, phong phú,
ở hầu hết các lĩnh vực của quản lý nhà nước, song đều có chung một số đặc điểm sau:

Một là, vi phạm hành chính đều là những hành vi xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước, phá vỡ trật tự
hành chính đang được duy trì và bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất và mức độ xâm hại của hành vi vi phạm hành chính mặc dù nguy
hiểm cho xã hội song chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự.

Hai là, chủ thể của hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân. Đối với tổ chức, thì hành vi này
được thực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao, phân công hoặc thực hiện hành vi
nhân danh tổ chức đó).

Các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm




Xử phạt hành chính thực chất là một loại hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đó là loại hoạt động
đặc biệt và rất phức tạp bao gồm một loạt các hành vi cụ thể liên quan mật thiết với nhau như phân tích, đánh giá
tính chất, mức độ của vi phạm hành chính, xác định thẩm quyền xử phạt, đối chiếu với quy định của pháp luật, áp
dụng hình thức và mức phạt và ra quyết định xử phạt hành chính.

Quyết định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây một hậu quả pháp lý đặc biệt, làm phát sinh
trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, tức là buộc họ phải chịu hậu quả bất lợ i trước
Nhà nước về tinh thần (bị hạn chế quyền) hoặc về tài sản (bị phạt tiền, bị tịch thu tang vật, phưong tiện...).
Xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm co bản sau:


Một là, xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế nhà nước, mang tính quyền lực nhà
nước.

Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ hoạt động xử phạt hành chính luôn luôn được
các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền thực hiện. Chỉ có các cơ quan hoặc cán bộ nhà nước nào được Nhà nước
trao thẩm quyền xử phạt hành chính và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có quy định về xử phạt hành
chính mới có quyền quyết định xử phạt.

Xử phạt hành chính là phản ứng của Nhà nước trước các hành vi xâm hại quy tắc quản lý nhà nước. Biểu
hiện của phản ứng đó chính là việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính. Việc áp dụng các biện pháp xử
phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành vi xử sự của con người vi phạm, tức là buộc họ phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi trước Nhà nước và có tác dụng đình chỉ vi phạm hành chính qua đó mà bảo vệ và duy trì
trật tự quản lý nhà nước.
Hai là, cơ sở để xử phạt hành chính là vi phạm hành chính.
Chỉ có hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình
sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý mới bị xử phạt hành chính.

Đặc điểm có tính nguyên tắc trên đây đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm

tuân theo các trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định chứ không tuân theo các quy định về tố tụng hình
sự kể cả trường hợp Tòa án nhân dân thực hiện quyền xử phạt hành chính.
Từ những đặc điểm trên có thể đi đến định nghĩa sau: Xử phạt vỉ phạm hành chỉnh là một loại hoạt động
cưỡng chế hành chỉnh cụ thể mang tỉnh quyền lực nhà nước phát sinh khi cỏ vỉ phạm hành chỉnh; biểu hiện ở việc
áp dụng các chế tài hành chỉnh mang tỉnh chất trừng phạt do các chủ thể, cỏ thẩm quyền nhân danh Nhà nước
thực hiện theo quy định của pháp luật.

Xử lý vi phạm hành chính còn là việc áp dụng các biện pháp hành chính khác khi có hành vi vi phạm
hành chính xảy ra. Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp
luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến múc truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các
điều 23, 24, 25, 26, 27 của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể như: Giáo dục tại xã phường, thị trấn; đưa
vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.
Từ khái niệm xử lý vi phạm hành chính có thể đi đến quan niệm về pháp luật xử lý vi phạm hành chính,
đó là: Tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do
có hành vi vi phạm hành chính, bao gồm các quy phạm, xác định hình thức xử phạt vi phạm hành chỉnh và một sổ
biện pháp xử lỷ hành chính khác.
- Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Điều 11 Luật Hải quan quy định:

Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm ứa, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải;
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải
quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [26].

Cơ quan hải quan là cơ quan trực tiếp thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đảm bảo duy trì sự quản lý của
Nhà nước đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu, phương tiện vận tải và hành khách xuất, nhập cảnh; điều tra chống
buôn lậu, chống gian lận thương mại... nhằm bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh của
hàng hóa xuất khẩu; thu thuế xuất, nhập khẩu bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp
pháp cho người tiêu dùng; bảo vệ môi trường; góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia; trật

- Khái niệm xử lý vi phạm hành chỉnh trong lĩnh vực hải quan.

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ việc xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực hải quan và áp dụng các biện pháp xử lý khác.

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hoạt động do co quan hải quan tiến hành (hoặc do
co quan nhà nuớc đuợc pháp luật qui định) đối với cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản
lý nhà nuớc trong lĩnh vực hải quan có lỗi cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạ m theo các qui định của pháp
luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Xuất phát từ khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở trên cho thấy, ngoài các
đặc điểm chung của xử phạt vi phạm hành chính thì xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có một
số đặc điểm riêng sau:

Một là, căn cứ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là các văn bản quy phạm pháp luật do


nhiều co quan ban hành gồm:

+ Quốc hội ban hành các luật trong đó có nhiều quy định về xử phạt vi phạm hành chính hoặc các biện
pháp xử phạt hành chính khác. Ví dụ, tại Điều 20 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, hay tại Điều 65, 68
Luật thuong mại quy định cho việc tái xuất đối với hàng hóa nhập khẩu xác định là nhầm lẫn không đúng với hợp
đồng...

+ ủy ban Thuờng vụ Quốc hội ban hành nhiều văn bản, điển hình là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
ban hành năm 2002 xác định các hành vi vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt hành chính, nguyên tắc xử phạt
hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính... và
khung phạt vi phạm hành chính về hải quan đến mức tối đa 70 triệu đồng.

+ Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trong



của hải quan. Người có thẩm quyền phải thực hiện đúng mục đích và yêu cầu của văn bản pháp luật cụ thể quy
định xử phạt vi phạm hành chính.

Ba là, trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực, các co
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và xử lý vi phạm hành chính để đáp ứng
nhu cầu đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính về hải quan. Ngoài Pháp lệnh xử lý vi phạ m hành chính
năm 2002 được ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành theo thẩm quyền, Chính phủ có quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hải quan và lĩnh vực khác có liên quan đến lĩnh vực hải quan. Pháp lệnh
này cũng không cho phép Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh trở xuống được ban hành văn bản
quy định về hành vi, chế tài xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác. Điều này đã cho
thấy, việc ban hành quy định xử lý vi phạm hành chính chỉ thuộc về thẩm quyền của co quan Nhà nước ở trung
ưong, các co quan nhà nước ở địa phưong có trách nhiệm thực hiện những quy định, xử lý vi phạm hành chính về
hải quan do các co quan quản lý nhà nước ở Trung ưong quy định.

Bổn là, khi thực hiện xử phạt vi phạm pháp luật hành chính, người có thẩm quyền xử phạt chỉ được thực
hiện quyền xử phạt của mình trong phạm vi mà pháp luật đã quy định.Trong trường hợp quyết định xử phạt hoặc
quyết định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền được pháp luật quy định cho phép là vi phạm
pháp luật và phải bị xử lý. Ví dụ như khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: Đội trưởng
đội nghiệp vụ thuộc Chi cục Hải quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) phạt tiền đến 500.000 đồng.

Năm là, kết quả của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thể hiện ở các quyế t định
xử phạt hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Việc
quyết định áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính thể hiện sự trừng
phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, qua đó giáo
dục ý thức tuân thủ pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan.

Biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực hải quan như các biện pháp khắc phục hậu quả do vi

+ Là hành vi không nộp chứng từ phải nộp thuộc hồ sơ hải quan được chậm nộp theo qui định của pháp
luật; hành vi kê khai không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật khi thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa.

Neu người khai hải quan (pháp nhân, công dân tham gia hoạt động hải quan) không thực hiện các quy
định trên thì khi đó cơ quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện
pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến
2.000.000 đồng theo quy định tại Điều 8 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hải quan.
- Các quy phạm pháp luật xử lỷ vi phạm hành chỉnh về kiểm tra, giảm sát, kiểm soát hải quan.

Kiểm tra hải quan là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng tư liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa,
phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện (khoản 8 Điều 4 Luật Hải quan).
Vi phạm hành chính về kiểm tra hải quan là các hành vi sau:

+ Không đưa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đến đúng địa điểm qui định để làm thủ tục hải quan; không
cung cấp thông tin chứng từ tài liệu liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện vận tải xuất cảnh,
nhập cảnh khi cơ quan hải quan yêu cầu theo qui định của pháp luật; không chấp hành quyết định kiểm tra sau
thông quan không có lý do xác đáng; không lưu trữ đầy đủ hồ sơ hải quan, sổ sách chứng từ kế toán liên quan đến
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong thời hạn phải lưu trữ theo qui định của pháp luật; không
xuất trình hàng hóa đang lưu giữ là đối tượng kiểm tra sau thông quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan; không
bố trí người, phương tiện phục vụ việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải khí cơ quan hải quan yêu
cầu mà không có lý do xác đáng; chuyển nhượng sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thuế quan
không đúng quy định; tự ý sử dụng hàng hóa được giao quản lý chờ làm thủ tục hải quan.

+ Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trái với qui định của nhà nước về viện trợ nhân đạo; hành vi xuất khẩu,


nhập khẩu hàng hóa không khai hoặc không đúng với khai hải quan về số lượng, trọng lượng, chất lượng, mã số
hàng hóa, trị giá, xuất xứ, không đúng nội dung giấy phép.

Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo sự nguyên trạng của
hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan (khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan). Giám sát
hải quan được thực hiện trực tiếp bởi cán bộ, công chức hải quan hoặc gián tiếp như: niêm phong, kẹp chì hải
quan, dán tem, dùng máy soi, máy ngửi, camera để quan sát, xem xét, theo dõi hoặc dùng súc vật được huấn luyện
để dò tìm...

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về giám sát hải quan quy định các hành vi sau là các hành vi vi phạm
hành chính về giám sát hải quan:

+ Hành vi không bảo quản nguyên vẹn niêm phong hải quan, kho hàng hóa, hàng hóa, phưong tiện vận


tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan không có lý do xác đáng.
+ Hành vi di chuyển phưong tiện vận tải, hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan không đúng qui định.

+ Hành vi tự ý thay đổi bao bì, hình thức kiểu dáng công nghiệp, xuất xứ, nhãn mác, chủng loại, chất
lượng, số lượng, trọng lượng, tiêu thụ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan có các hành vi vi phạm như quy định trên về giám sát hải quan
thì co quan, cán bộ, công chức hải quan(được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng
hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng và áp
dụng các biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp theo quy định tại Điều 9 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy
định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Kiểm soát hải quan là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do co quan hải quan
áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm
pháp luật hải quan (khoản 10 Điều 4 Luật Hải quan).

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về kiểm sát hải quan quy định cụ thể những hành vi sau đây là hành


Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan có các hành vi vi phạm như quy định trên về kiểm soát hải quan
thì co quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng
hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng và còn
có thể bị tịch thu tang vật vi phạm hoặc có thể bị buộc nộp lại số tiền bằng trị giá, tang vật vi phạ m theo quy định
tại Điều 14 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
- Các quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; vi
phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phưong tiện vận tải.

Hàng hóa bao gồm hàng hóa xuất, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của nguời xuất
cảnh, nhập cảnh; kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu,
quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của hải quan; vật dụng trên phưong tiện vận tải xuất cảnh, nhập
cảnh, quá cảnh và các tài sản khác.

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa quy định cụ thể những
hành vi sau đây là hành vi vi phạm:

+ Hành vi vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo loại hình quà biếu như hành vi
xuất khẩu, nhập khẩu quà biếu không đúng với khai hải quan, quà biếu thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập
khẩu hoặc xuất nhập khẩu có điều kiện nhưng không có đủ điều kiện để xuất khẩu, nhập khẩu.

+ Hành vi vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của người xuất nhập cảnh như vi phạm
quy định về khai hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu hành lý; vi phạm quy định về hải quan khi xuất khẩu, nhập
khẩu hàng hóa ngoài định mức quy định về hành lý.
+ Hành vi vi phạm các quy định về khai hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa là tài sản di chuyển.

+ Hành vi vi phạm các quy định về khai hải quan đối với ngoại hối, vàng của người xuất cảnh, nhập cảnh
tùy theo trị giá tang vật vi phạm. Theo quy định hiện hành mỗi người khi xuất cảnh, nhập cảnh được phép mang
theo 3.000 USD và tưong đưong, 100 gram vàng mà không phải khai báo hải quan.

luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan như một phương tiện để thực hiện quyền lực của mình
trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các đối tượng tham gia hoạt động hải quan. Nhờ có sự quy
định chặt chẽ của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan mà các đối tượng tham gia hoạt
động hải quan thực hiện một cách nghiêm túc đảm bảo thực hiện đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của
nhà nước; đảm bảo thực hiện tốt cải cách hành chính nhà nước, giảm phiền hà, tiêu cực trong hoạt động hải quan
đảm bảo an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

+ Thúc đẩy phát triển kinh tế theo đúng chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, hội nhập kinh tế
đồng nghĩa với việc mở cửa nền kinh tế, gắn kết nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới thành một thể
thống nhất. Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài vào Việt Nam,
đồng thời đưa hàng hóa dịch vụ của Việt Nam đến với thị trường các nước. Pháp luật quản lý nhà nước về hải
quan phải gắn liền với pháp luật xuất nhập khẩu hàng hóa, thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cả nh hàng hóa,
phương tiện và đi đôi với nó là các quy định bắt buộc phải thực hiện, các quy định cấm, các thủ tục phải tuân
theo. Điều này đồng nghĩa với việc nếu vi phạm các quy định này đều bị xử phạt hành chính. Hội nhập kinh tế đòi
hỏi phải giảm thiểu hàng rào phi thuế quan, tăng cường tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch và đầu tư quốc tế,
đòi hỏi pháp luật phải thông thoáng, công khai, minh bạch, chính xác... Như thế pháp luật đó dễ áp dụng dễ thực
hiện và giảm các vi phạm hành chính xảy ra góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.


+ Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan còn góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho
cán bộ công chức cũng như các đối tượng tham gia hoạt động hải quan bởi với các quy định chặt chẽ các chủ thể
buộc phải tự giác chấp hành nếu không sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, pháp luật xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cũng là các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu các hành vi vi phạm pháp luật
hải quan; góp phần hoàn thiện pháp luật, bộ máy cán bộ công chức hải quan.
1.1.2 Thực hiện pháp luật xử lý vỉ phạm hành chính trong lĩnh vực hải

quan

1.1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chỉnh trong lĩnh vực hải quan


Thực hiện pháp luật là hành vi xử sự của con người được tiến hành phù hợp với yêu cầu của các quy
phạm pháp luật. Hành vi xử sự của con người trong hoạt động thực hiện pháp luật vừa mang tính chất xã hội,vừa
mang tính pháp lý. Vì vậy, thực hiện pháp luật bao hàm các hành vi (hành động hay không hành động) của các cá
nhân, các tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật.

Như vậy, ta có thể hiểu, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định
của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp
luật.
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật khoa học pháp lý phân chia thực hiện pháp luật
thành bốn hình thức sau:

Tuân thủ pháp luật: Đây là một dạng thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế
mình để không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử
sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, tập thể lên trên lợi ích
cá nhân lợi ích bộ phận cục bộ. Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi
nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Đó là những điều
pháp luật cấm. Đồng thời, vì lợi ích chung, tùy theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổ chức,
công dân phải làm một việc nào đó.
Chấp hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa

vụ pháp lý của mình với các hành động tích cực. Khác với việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý mang tính đương
nhiên của công dân, của cán bộ, của công chức nhà nước; là bổn phận và trách nhiệm mà các chủ thể phải thực

hiện theo quy định của pháp luật nhưng khuyến khích hoạt động có hiệu quả cao. Hoạt động chấp hành pháp luật

là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân và tổ chức cũng
như của cán bộ, công chức nhà nước.

Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó, các chủ thể pháp luật sử dụng các
quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Song nếu các chủ thể không sử dụng

pháp luật hải quan.
Đặc điểm chung:

Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có những đặc điểm của thực hiện
pháp luật, xử lý vi phạm hành chính nói chung.

Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu ngay từ khi pháp luật xuất hiện và có một số đặc điểm
chung sau:

+ Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
Tất cả các nhà nước để có thể tổ chức và quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng (ban hành)
pháp luật. Khi ban hành pháp luật nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ
lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội. Điều đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các tổ chức và cá
nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, đối với các nhà nước vấn đề quan trọng không
chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải tổ chức thật tốt để chúng được thực hiện
trong thực tế, làm cho các yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực.


+ Thực hiện pháp pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luậ t được đặt ra là để
điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người.
Hành vi đó có thể là hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất
cả những hoạt động nào của các cá nhân, các tổ chức mà phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi
là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật. Hành vi thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp nên nó
không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, luôn phù hợp với các quy định của
pháp luật.

+ Thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của co chế điều chỉnh pháp
luật. Thực hiện pháp luật, một mặt, nhằm đạt được những mục đích xã hội mà vì chúng nhà nước đã phải ban
hành pháp luật, mặt khác, còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó
có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và co



áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính mang tính quyền lực của nhà nước, chỉ thuộc về các cơ quan
hoặc cán bộ nhà nước được nhà nước trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, và được ghi rõ trong các văn
bản pháp luật. Việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính có tác dụng điều chỉnh hành vi xử sự của cá nhân,
tổ chức vi phạm tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước nhà nước về những
hành vi mà mình gây ra, qua đó bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính.

áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính là hoạt động phải tuân theo những quy định chặt chẽ của
pháp luật về cả hình thức và thủ tục để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng
cụ thể là: chỉ có những hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức phải truy cứu trách
nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý mới bị áp dụng pháp
luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính là hình thức thực hiện pháp luật mà nhà nước
thông qua các co quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy
định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật xử lý vi phạm
hành chính để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật hành
chính.
+ Đặc điểm thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, gồm:

Một là, các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và được ghi rõ trong
các văn bản quy phạm pháp luật. Việc xử lý vi phạm hành chính được giao cho nhiều co quan, cán bộ có thẩm
quyền khác nhau thực hiện. Theo quy định của pháp luật, thẩm quyến xử lý vi phạm hành chính thuộc về các co
quan sau:

ủy ban nhân dân các cấp; co quan công an nhân dân; bộ đội biên phòng; co quan cảnh sát biển; co quan
hải quan; co quan kiểm lâm; co quan thuế; co quan quản lý thị trường; co quan thanh tra chuyên ngành; giám đốc
cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ thủy nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không; tòa án nhân dân và co quan thi
hành án dân sự.

nhà nước. Do đó, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan các chủ thể có thẩm quyền
xử lý cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm được đảm bảo bằng biện pháp cưỡng chế
khi cần thiết.
Việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cần phải dựa trên co sở hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật (như đã trình bày ở phần

1.1.1.2. ) Các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan phải áp dụng đúng các quy định của pháp luật, xử lý đúng người, đúng vi phạm, đúng
trình tự thủ tục và được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành khi cần thiết cụ thể:

Do tính đặc thù trong lĩnh vực hải quan nên pháp luật xử lý vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực
hải quan hiện hành có quy định một số trường hợp cụ thể không xử phạt vi phạm hành chính hay được áp dụng
riêng một số nguyên tắc xử phạt. Ví dụ, trường hợp hành vi vi phạm nhập khẩu hàng hóa không đúng với khai báo
hải quan về số lượng, trọng lượng mà trị giá tang vật không vượt quá mức quy định cụ thể của Nghị định
138/2004/NĐ-CP thì không bị xử phạt... Ngoài ra, đối với những hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập khẩu
ngoại tệ theo hành khách xuất nhập cảnh, hành vi vi phạm của đối tượng là cư dân biên giới thì được áp dụng
nguyên tắc phạt theo trị giá của tang vật vi phạm.

Trong lĩnh vực hải quan, do vi phạm hành chính được xác lập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
nhau, có thẩm quyền xử phạt của co quan hải quan. Do vậy, nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật về xử phạt


được áp dụng thường xuyên trong xử phạt, mặc dù nguyên tắc này không được quy định trong pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính. Cụ thể:

Trong trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và văn bản quy phạm
pháp luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hon.

Trong trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và các văn bản quy


túy và những vật thuộc chế độ quản lý đặc biệt khác thì việc bảo quan được thực hiện quy định của pháp luật. Đối



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status