Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài
Về mặt lý luận:
Công tác xử lý vi phạm hành chính luôn được xem xét, chú trọng trong
mọi lĩnh vực,chính vì vậy mà trong mọi ngành nghề,lĩnh vực cuả xã hội
đều quy định các chế tài xử lý vi phạm hành chính.
Về mặt thực tiễn:
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, Việt
Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó với việc trở thành thành viên của
các tổ chức
Việc hội nhập kinh tế một mặt tạo ra nhiều cơ hội lớn cho nước ta
phát triển kinh tế nhưng mặt khác cũng tạo ra nhiều thách thức cho đất
nước ta, đặc biệt là cơ quan quản lý Nhà nước tronng đó có ngành Hải
quan.
Hội nhập kinh tế đồng nghĩa với việc hoạt động XNK và XNC gia
tăng, đây là nguy cơ tiềm ẩn nhiều hành vi vi phạm Hành chính trong
lĩnh vực Hải quan.Hơn thế nữa các hành vi vi phạm ngày càng được che
đậy một cách tinh vi. Do đó cần phải phát hiện kịp hời và xử lý nghiêm
những hành vi đó để đảm bảo an ninh chính trị và an ninh kinh tế cho đất
nước ta.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên và qua quá trình thực tập
tại Chi cục Hải quan cửa khẩu SBQT Nội Bài tôi nhận thấy công tác xử
1
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng của ngành Hải quan. Do đó tôi đã lựa chọn đề tài này.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đánh giá được thực trạng của công tác XLVPHC tại chi cục Hải
quan cửa khẩu SBQT Nội Bài, từ đó đề ra nâng cao hiệu quả của công tác
XLVPHC trong lĩnh vực hải quan.
Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu về công tác xử lý vi phạm hành chính
tổ chức thực hiện cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực Hải quan mà không phải là tội phạm và
theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chínhb. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Hải quan
Những dấu hiệu pháp pháp lý cơ bản để nhận biết một hành vi là
hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan, đó là:
- Hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
- Hành vi đó xâm phạm các nguyên tắc quản lý nhà nước về Hải
quan nhưng không phải là tội phạm hình sự
- Hành vi vi phạm đó được quy định trong văn bản pháp luật hiện
hành và có hình thức xử phạt tương ứng
1.1.2. Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan:
Theo quy định hiện hành của pháp luật thì vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Hải quan bao gồm:
- Vi phạm các quy định về thủ tục Hải quan
- Vi phạm các quy định về kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan
- Vi phạm các quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa
XK,NK
4
- Vi phạm các quy định về XK, NK, quá cảnh hàng hóa, hành lý,
ngoại hối, vàng, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hóa
phẩm, bưu phẩm, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh,
quá cảnh và các tài sản khác (sau đây gọi chung là hàng hóa; Vi phạm
các quy định của pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương
tiện vận tải.
1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan
1.2.1 Khái niệm, cơ sở pháp lý của xử lý vi phạm hành chính trong
97/2007/NĐ-CP
- Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Khiếu nại, tố cáo
và luật sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo
- Thông tư số 193/2009/TT-BTC ngày 01/10/2009 của Bộ Tài Chính
quy định chi tiết thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007
của Chính phủ quy định việc Xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế;
- Quyết định 2238/QĐ-TCHQ về việc ban hành bản hướng dẫn trình tự
xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Hải quan và bản hướng dẫn sử dụng mẫu biên bản,
quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính trong ngành Hải quan
1.2.2. Mục đích, vai trò của công tác xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực Hải quan.
a. Mục đích
Thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải
quan là nhằm mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành
6
chính trong lĩnh vực Hải quan, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực
quản lý của Nhà nước.
b. Vai trò
Xử lý vi phạm trong lĩnh vực Hải quan là một nhiệm vụ quan trọng
của Ngành Hải quan. Nó luôn gắn liền với công tác chống buôn lậu và
gian lận thương mại - nhiệm vụ chính trị được đặt lên hàng đầu đối với
Ngành Hải quan nói chung và đối với Chi cục nói riêng. Là một bộ phận
của công tác xử lý vi phạm về Hải quan nên xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Hải quan có vai trò quan trọng không kém. Nhất là khi xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã trở nên phổ biến, tự do hóa thương mại
lĩnh vực Hải quan là rất cần thiết đối với xã hội nói chung và đối với
Ngành Hải quan nói riêng.
1.2.3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan
Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan phải đảm
bảo được các nguyên tắc sau:
Một là: Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải
bị đình chỉ ngay.Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành
nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính
gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.
Hai là: Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm
hành chính do pháp luật quy định
8
Ba là: Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật
Bốn là: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một
lần
- Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt
- Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt
về từng hành vi vi phạm
- Hành vi vi phạm là hệ quả của một hành vi vi phạm khác thì chỉ xử
phạt đối với hành vi có chế tài xử phạt nặng hơn
Năm là: Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất,
mứcđộ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ,
tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng dược quy định rõ trong pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội và nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính
phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyêt
định hành chính trong lĩnh vực Hải quan. Theo đó, các tình tiết được sử
10
Tái phạm là trường hợp đã bị xử phạt về một hành vi vi phạm, nhưng
chưa hết một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể
từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà lại tiếp tục thực hiện
hành vi đó ở lô hàng khác.
3. Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ
thuộc vào mình về vật chật, tinh thần vi phạm.
4. Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích
thích khác.
5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm.
6. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó
khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm.
7. Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự
hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
8. Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm
quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó.
9. Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che dấu vi phạm hành chính.
Sáu là: Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc
tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm
hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Cụ
thể là trong các trường hợp sau:
11
1. Hàng hóa, phương tiện vận tải được đưa vào lãnh thổ Việt Nam do bị
hoả hoạn, thiên tai, địch họa, sự kiện bất ngờ, trong tình thế cấp thiết phải
khai hải quan theo quy định của pháp luật; hàng hóa, phương tiện vận tải
đó phải được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sau khi các yếu tố nêu trên
được khắc phục.
Trường hợp không khai sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện
hành.
lượng, trọng lượng quy định của pháp luật mà hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu không đúng với khai hải quan có trị giá không quá 10% trị giá hàng
hóa thực xuất khẩu, thực nhập khẩu, nhưng tối đa không quá 10.000.000
đồng.
6. Khai đúng tên hàng hoá thực xuất khẩu, nhập khẩu nhưng khai sai mã
số, thuế suất lần đầu.
Người khai hải quan khi khai sai mã số thuế, thuế suất lần đầu sẽ
được cơ quan Hải quan hướng dẫn khai lại cho chính xác, lập biên bản
chứng nhận và không xử phạt.
Việc khai sai mã số, thuế suất được coi là lần đầu khi trong thời
hạn một năm (tính đến ngày đăng ký tờ khai Hải quan xuất, nhập khẩu lô
13
hàng khai sai mã số, thuế suất) cá nhân, tổ chức chưa xuất nhập khẩu mặt
hàng đó hoặc đã xuất nhập khẩu mặt hàng đó nhưng khai mã số, thuế suất
chưa đúng và chưa bị phát hiện; và chưa được cơ quan Hải quan hướng
dẫn khai mã số, thuế suất mặt hàng này hoặc đẫ hướng dẫn nhưng chưa
đúng
7. Vi phạm quy định về khai hải quan đối với ngoại tệ, tiền Việt Nam
bằng tiền mặt, vàng (dạng khối, thỏi, hạt, miếng) của người xuất cảnh,
nhập cảnh bằng hộ chiếu, giấy thông hành mà tang vật vi phạm có trị giá
dưới 10.000.000 đồng.”
1.2.4. Xử phạt vi phạm hành chính
1.2.4.1. Khái niệm, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính
a. Khái niệm
Xử phạt vi phạm hành chính là một dạng hoạt động áp dụng pháp
luật hành chính, là quá trình các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
căn cứ vào pháp luật, tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi
phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… để ban hành các quyết định xử
phạt
b. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải
hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng;
b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa,
phương tiện vi phạm;
c) Buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm đã bị
tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật;
d) Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật .
Đặc biệt, trong trường hợp hành vi vi phạm không bị áp dụng hình
thức xử phạt bổ sung là tịch thu hàng hóa, phương tiện vi phạm hành
chính và các biện pháp khắc phục hậu quả thì hàng hóa, phương tiện vi
phạm hành chính có thể được thông quan theo quy định của pháp luật nếu
đối tượng vi phạm đã nộp đủ tiền phạt theo quy định hoặc được tổ chức
tín dụng, tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng
bảo lãnh đối với số tiền phải nộp để thực hiện quyết định xử phạt.”
1.2.4.2. Thời hiệu xử phạt
Thời hiệu xử phạt là khoảng thời gian mà người có thẩm quyền có thể
đưa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân
thực hiện hành vi vi phạm hành chính và quyết định đó phải có hiệu lực
buộc người vi phạm phải thực hiện.
16
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hai
năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Đối với hành vi
khai thiếu nghĩa vụ thuế, hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi chậm nộp tiền thuế thì thời hiệu
xử phạt vi phạm hành chính là 05 (năm) năm, kể từ ngày vi phạm hành
chính được thực hiện.
Quá thời hiệu xử phạt trên đây thì không xử phạt vi phạm hành chính
nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; đối với hành vi
trốn thuế, gian lận thuế, chậm nộp tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì
người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số thuế phải nộp theo quy định.
2. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét
cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000.000. Tang vật vi
phạm có thể bị tịch thu.
5. Vi phạm về giám sát Hải quan tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tiền
từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra tổ chức, cá nhân vi
phạm còn bị phạt bổ sung hoặc bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
quả là tịch thu tang vật vi phạm, buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật
nếu tang vật vi phạm không còn; hoặc buộc thực hiện việc chuyển khẩu,
quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải đúng cửa khẩu, tuyến đường quy
định.
6.Vi phạm về kiểm soát Hải quan tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị phạt
tiền từ 500.000 đồng đến 30.000.000 đồng và trong một số trương hợp
18
có thể bị tịch thu tang vật, nếu tang vật không còn sẽ bị buộc nôp lại số
tiền bằng trị giá tang vật.
7. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế mà chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự thì tổ chức, cá nhân vi phạm ngoài việc phải nộp đủ
số tiền thuế theo quy định còn bị phạt từ 1 đến 3 lần số thuế đã trốn, gian
lận.
8. Vi phạm quy định về nộp thuế
Người nộp thuế, người bảo lãnh nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền
thuế: phải nộp đủ tiền thuế và bị phạt 0,05%/ngày/số tiền thuế chậm nộp.
Người nộp thuế do khai sai đã được hoàn thuế cao hơn: phạt
0,05%/ngày/số thuế được hoàn cao hơn.
Số ngày chậm nộp tiền thuế được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối
cùng của thời hạn nộp thuế hoặc thời hạn gia hạn nộp thuế đến ngày
người nộp thuế đã tự giác nộp đủ số thuế.
9. Vi phạm các quy định về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thì tổ
chức, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 500.000 dồng đến 20.000.000
đồng và cồn bị phạt bổ sung hoặc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu
của ngân sách nhà nước đối với trường hợp người nộp thuế bị xử lý vi
phạm pháp luật về thuế hoặc bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính
thuế;
20
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với trường
hợp không thực hiện các quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử
phạt vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực hải quan.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ
chức đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế thi
hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan nhưng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng việc khấu trừ một phần tiền lương, thu
nhập của cá nhân bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế của cơ quan
hải quan.
3. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối
với cá nhân, tổ chức có hành vi không cung cấp hoặc cung cấp không
chính xác thông tin, chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh khi
cơ quan hải quan yêu cầu theo quy định của pháp luật.
4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ
chức có liên quan có các hành vi thông đồng, bao che người nộp thuế
trốn thuế, gian lận thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế hành
chính trong lĩnh vực hải quan.
c. Đối với cơ quan Hải quan, công chức Hải quan
Xử lý vi phạm đối với cơ quan hải quan
1. Cán bộ, công chức hải quan có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực hải quan mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì cơ quan hải quan
phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
21
2. Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục, trình tự giải quyết bồi thường thiệt hại
Xử lý vi phạm đối với công chức hải quan
+ Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính
+ Khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật, phương tiện liên quan đến hành
vi vi phạm
1.3. Thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực Hải quan
1.3.1. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải
quan
1. Nhân viên Hải quan đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.
2. Đội trưởng Đội nghiệp vụ thuộc Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội
nghiệp vụ thuộc Chi cục Kiểm tra sau thông quan có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng.
23
3. Chi cục trưởng Hải quan (bao gồm Chi cục trưởng Chi cục Hải quan
cửa khẩu, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu, Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan); Đội trưởng Đội kiểm soát
thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau
đây gọi chung là Cục Hải quan); Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn
lậu và Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra
chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng.
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
4. Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra
sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan có
quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền tối đa đến 70.000.000 đồng đối với lĩnh vực hải quan,