UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tên đề tài:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng Việt và
tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số
Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ
Họ và tên tác giả: Vũ Thị Lợi
Đơn vị: Trường Mầm non Sơn Ca
Dray Sáp, tháng 01 năm 2018
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát
triển của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chìa khóa để nhận thức thế
giới xung quanh và là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và
của nhân loại. Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng để giao tiếp và chiếm lĩnh
tri thức. Để nắm bắt được kiến thức do giáo viên truyền đạt, trẻ dân tộc không
chỉ cần nói rõ tiếng mẹ đẻ mà nhất thiết phải biết nói và sử dụng tiếng Việt
thành thạo.Trẻ dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên, hình thành và phát triển
ngôn ngữ một cách tự nhiên trong môi trường ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của cộng
đồng dân tộc mình. Khi đến trường, Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ,
cho nên trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nghe, hiểu và nói Tiếng Việt.
Dẫn đến thực tế trẻ sẽ không thể lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng mà
cô giáo hướng dẫn, tạo ra một “rào cản ngôn ngữ” khá lớn, ảnh hưởng đến
- Đưa ra một số phương pháp, biện pháp, kinh nghiệm trong việc dạy và
tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục tại lớp, sử dụng các
phương pháp nghiên cứu để phân tích, đánh giá về trình độ Tiếng Việt của trẻ.
- Đưa ra các biện pháp vào thực nghiệm tại nhóm lớp và quan sát, đánh giá
để tổng hợp kết quả thực hiện.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển
tâm lý của trẻ.
- Nghiên cứu về việc hình thành ngôn ngữ thứ 2 cho trẻ: Đặc điểm phát
triển, tiếp thu ngôn ngữ, các biện pháp, phương pháp, hình thức, nội dung để
phát triển ngôn ngữ thứ 2 cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Kết quả áp dụng của các biện pháp, giải pháp tăng cường Tiếng Việt cho
trẻ mầm non dân tộc thiểu số tại nhóm lớp phụ trách.
- Các hoạt động tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.
- Trẻ mầm non 5-6 tuổi tại Trường Mầm non Sơn Ca.
4. Giới hạn của đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng việc nghe, hiểu, nói Tiếng Việt và kết quả áp
dụng của các biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu
số tại nhóm lớp phụ trách.
- Từ tháng 9/2016 đến tháng 12/2017.
- Lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Vũ Thị Lợi
2
Trường Mầm Non Sơn Ca
Sự phát triển ngôn ngữ thứ hai của trẻ cũng tương tự như sự phát triển
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Yếu tố sinh lý
Vũ Thị Lợi
3
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc vào sự phát triển hài hòa của tất
cả các cơ quan trong cơ thể, nhưng trong đó có một số cơ quan tham gia trực
tiếp vào quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ: Bộ máy phát âm (khoang
miệng, thanh quản, khoang mũi): là cơ quan tạo ra cấu âm để phát ra âm, thực
hiện trực tiếp quá trình phát âm.
- Cơ quan thính giác: trẻ học nói thông qua con đường bắt chước bằng
cách nghe cách phát âm, cách diễn đạt, cách sử dụng từ…thực hiện trực tiếp
quá trình nghe và phân biệt âm thanh. Tri giác nghe đóng vai trò cực kỳ quan
trọng, nếu trẻ không nghe được thì sẽ không học nói được.
- Vùng ngôn ngữ ở bán cầu đại não: Điều khiển quá trình học nói.
- Dây thần kinh hướng nội, hướng ngoại: tham gia thực hiện quá trình học
nói. Tất cả các cơ trên đóng vai trò cực kì quan trọng trong quá trình học nói
của trẻ nên người lớn cần giúp trẻ bảo vệ và rèn luyện. Thường xuyên cho trẻ
xem và nghe người lớn phát âm, tạo ra môi trường âm thanh chuẩn mực và
phong phú.
- Yếu tố tâm lý
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có mối quan hệ qua lại chặt chẽ đối với sự
Việt nói riêng là có một cơ thể phát triển bình thường về mặt sinh lý, tâm lý
và được rèn luyện, giao tiếp trong môi trường ngôn ngữ đó. Nếu một trẻ dân
tộc thiểu số đã nói được phần nhiều tiếng mẹ đẻ thì tức là trẻ đã hoàn toàn có
đủ yếu tố sinh lý, tâm lý để học tiếng Việt trong một môi trường ngôn ngữ
được tổ chức tốt.
Khi trẻ mầm non tiếp xúc với ngôn ngữ thứ hai (Tiếng việt), thì căn bản
trẻ đã có một nền tảng về vốn tiếng mẹ đẻ, đồng thời các đặc điểm tâm lý,
sinh lý của trẻ cũng đã phát triển ở một mức độ nhất định. Vì thế chúng ta
không phân chia sự phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi như khi trẻ học tiếng mẹ
đẻ mà phân chia giai đoạn theo quá trình tiếp xúc, mức độ nghe, hiểu và nói
tiếng Việt của trẻ.
- Giai đoạn đầu: Trẻ chưa biết gì về tiếng Việt. Giai đoạn này trẻ bắt đầu
nhận biết ngữ điệu giọng nói của ngôn ngữ thứ hai, hiểu được một số từ Tiếng
Việt là tên gọi của người, vật, hành động nào đó. Nói câu đơn có 2- 3 từ. Câu
đơn có một cụm C – V, câu đơn mở rộng thành phần.
- Giai đoạn hai: Trẻ thông hiểu được phần lớn các hoàn cảnh giao tiếp,
các từ, mẫu câu thường dùng trong môi trường lớp học. Trẻ nói được các câu
có nhiều thành phần hơn, nói câu ghép dưới hình thức đơn giản, diễn đạt được
ý đơn giản. Có khả năng nói liên kết câu.
- Giai đoạn ba: Nghe và hiểu tiếng Việt, có vốn từ Tiếng Việt cơ bản,
phong phú, có khả năng nói đúng ngữ cảnh, đúng ngữ pháp, nói mạch lạc.
Vũ Thị Lợi
5
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
Việt nên tiếp cận tiếng Việt
-
Tư duy gián tiếp dẫn đến tiếp
cận Tiếng Việt áp đặt.
một cách tự nhiên.
-
Không biết hoặc biết ít tiếng
-
Tiếp thu hạn chế do không hình
Tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả:
thành ngay được liên hệ âm
Từ nghe, nói đọc, viết.
thanh - chữ viết, âm thanh – ngữ
Có tác động tích cực của gia
nghĩa, ngữ pháp.
đình, cộng đồng vì được sống
Vì vậy, chú trọng dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số là
một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng học cho trẻ.
Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu 5 năm của Trung tâm nghiên cứu
ngôn ngữ Cornell, học sớm ngôn ngữ thứ hai giúp trẻ tập trung chú ý tốt hơn
trong khi học so với trẻ chỉ biết tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, ngôn ngữ thứ hai hỗ
trợ tiếng mẹ đẻ hình thành và phát triển tốt nếu được giới thiệu sớm và bằng
phương pháp phù hợp. Việc học ngôn ngữ thứ hai giúp trẻ diễn đạt tiếng mẹ
đẻ đúng ngữ pháp, rõ ràng, mạch lạc hơn.
Nghiên cứu còn đưa ra những bằng chứng về các lợi ích khác:
• Trẻ phát triển tốt hơn về kỹ năng xã hội, kỹ năng giao tiếp linh hoạt và tâm
thế tự tin.
• Trẻ phát âm tốt hơn (cả tiếng mẹ đẻ lẫn ngôn ngữ thứ 2).
• Khả năng quan sát đối chiếu, so sánh linh hoạt hơn do trẻ luôn chuyển dịch
từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ kia.
• Từ mới sinh tới 6 tuổi là giai đoạn thích hợp nhất cho việc học ngôn ngữ thứ
hai. Qua giai đoạn này chúng ta phải cố gắng nhiều hơn, nhưng hiệu quả sẽ
kém hơn
* Các nhiệm vụ phát triển Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số
- Dạy trẻ vốn tiếng Việt cơ bản, tối thiểu để trẻ có khả năng giao tiếp bằng
tiếng Việt ở dạng ngôn ngữ nói (nghe – hiểu, nói) trong môi trường lớp học.
- Chuẩn bị cho việc học, đọc viết khi vào lớp 1:
Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong hệ thống nguyên âm tiếng
Việt.
Dạy trẻ một số kĩ năng cần thiết như cầm bút, ngồi tư thế đúng, cầm sách,
mở sách, biết cách sao chép chữ theo mẫu, tô theo dấu chấm mờ, cách đọc
đúng từ trái qua phải (cách đưa mắt).
Vũ Thị Lợi
7
ngữ pháp cho trẻ.
- Dạy nói tiếng Việt cho trẻ qua các hoạt động khác
- Tổ chức dạy nói qua hoạt động vui chơi: gồm có trò chơi đóng vai theo
chủ đề, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập để phát triển Tiếng Việt.
- Tổ chức dạy nói qua hoạt động lao động.
Vũ Thị Lợi
8
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
- Tổ chức dạy nói qua hoạt động dạo chơi, tham quan: qua dạo chơi tham
quan trẻ có điều kiện mở rộng thêm vốn từ về môi trường tự nhiên, xã hội. Vì
vậy khi dạo chơi, tham quan giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể, chọn nội dung
tham quan đáp ứng nhu cầu và sở thích của trẻ. Cần chuẩn bị các câu hỏi đàm
thoại để khuyến khích trẻ trả lời những điều mắt thấy, tai nghe.
Tổ chức dạy nói qua các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
* Nội dung dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số.
- Rèn năng lực phát âm cho trẻ: dạy trẻ biết phát âm đúng, rõ ràng âm
thanh, ngôn ngữ để trẻ phát âm tốt tiếng Việt.
- Phát triển vốn từ cho trẻ: giúp trẻ mở rộng, củng cố và tích cực hóa vốn từ
cho trẻ.
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc: rèn luyện cho trẻ thói quen nói
đúng ngữ pháp, khả năng diễn đạt có logic, có trình tự. Trước hết là dạy trẻ
những câu đơn giản trong giao tiếp hàng ngày và trong các hoạt động ở lớp
liệu ngôn ngữ tốt cho trẻ học tiếng Việt.
- Mẫu lời nói: Trẻ nhắc lại câu nói mẫu của cô. Do vậy câu nói mẫu của cô
phải phát âm chuẩn xác, đúng ngữ pháp, văn phong sáng sủa, câu mẫu ngắn
gọn, phù hợp với đặc điểm giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ để trẻ dễ bắt
chước và nhắc lại.
* Phương pháp trò chuyện (đàm thoại).
Phương pháp trò chuyện, đàm thoại là phương pháp được áp dụng trong
hoạt động để dạy trẻ, mà ở đó có người hỏi và người trả lời. Người dạy kích
thích người học sử dụng ngôn ngữ của mình và hoàn thiện dần lời nói của bản
thân. Tùy thuộc vào mức độ phát triển tiếng Việt của trẻ mà cô giáo sử dụng
các câu hỏi khác nhau:
- Những câu hỏi định hướng lên vật như: Ai? Cái gì đây? Con gì đây? Đang
làm gì? Như thế nào?
- Những câu hỏi định hướng lên đối tượng người hay vật, lên không gian,
thời gian như: Đâu? Ở đâu? Cho ai? Của ai? Vào lúc nào?
- Những câu hỏi đòi hỏi trẻ phải hoạt động và so sánh như: Bao nhiêu? Có
bao nhiêu? Cao bao nhiêu? Dài bằng chừng nào? Bên nào nhiều hơn? Bên
nào ít hơn? Cái nào cao hơn?
- Những câu hỏi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, lập luận, giải thích, lý giải tại sao
như: Tại sao? Để làm gì? Cháu nghĩ như thế nào? Cháu cảm thấy như thế
nào? Điều gì sẽ xảy ra?
* Phương pháp dạy trẻ kể truyện
Phương pháp kể lại truyện có vai trò to lớn trong phát triển lời nói mạch
lạc cho trẻ. Kể lại chuyện xảy ra khi giáo viên đọc (hoặc kể) cho trẻ nghe một
Vũ Thị Lợi
10
Trường Mầm Non Sơn Ca
Thông qua quan sát, đàm thoại, đánh giá tôi nhận thấy: Trẻ trong địa bàn
đều là người dân tộc Ê Đê. Ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ là tiếng Ê Đê. Phần
lớn các cháu khi bước đầu đến trường đều không hiểu và không nói được
Vũ Thị Lợi
11
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
tiếng Việt. Môi trường tiếng Việt ở trường mầm non là đầu tiên và duy nhất
mà trẻ được tiếp xúc.
Đầu năm học: Trẻ hầu như chưa biết gì về vốn tiếng Việt. Ngay cả
những từ đơn giản liên quan đến hành động của bản thân như: vào lớp, ra
lớp, nói to, dừng lại, tiếp tục, chào cô, vỗ tay…hay những từ liên quan đến
những đồ vật xung quanh gần gũi với trẻ như mũ, dép, cặp, bàn, ghế,
bảng…đều lạ lẫm đối với trẻ.
Những yêu cầu đơn giản như “dừng lại”, “tiếp tục”, “chào cô”,…trẻ
không hiểu và không thực hiện được. Thậm chí cô giáo phải sử dụng rất
nhiều đến “ngôn ngữ cơ thể” để giao tiếp với trẻ.
Những câu hỏi mà cô giáo đặt ra như “Cháu tên gì?”, “Con gì đây?”,
“Cái gì đây?”, “Số mấy?”, “Bằng mấy?” trẻ không hiểu và không nói được
câu trả lời mà thường được đáp lặp lại là “tên gì!”, “gì đây!”, “số mấy!”,
“bằng mấy”.
Những câu giảng giải mà cô giáo giải thích hầu như trẻ không hiểu, từ đó
trẻ không tiếp thu được các kiến thức mang tính khái quát, trừu tượng.
Về phía giáo viên bất đồng ngôn ngữ trong giao tiếp, về nhận thức của
Điều này sẽ dẫn đến những hạn chế khi tổ chức các hoạt động dạy Tiếng
Việt và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
Tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng khả năng nghe nói, sử dụng tiếng
Việt của trẻ, thể hiện qua bảng tổng hợp sau:
Kết quả đánh giá đầu năm học: 33 trẻ/ 5- 6 tuổi
STT
Nội dung đánh giá
SL Trẻ Yếu
TB
Khá
Tốt
1
Khả năng nghe – hiểu
33
1
21
7
4
giáo dục cho trẻ Khám phá Tự nhiên – xã hội, Làm quen văn học, Làm quen
chữ cái và các hoạt động khác.
Đã chú ý đưa nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vào trong các hoạt
động học cũng như các hoạt động hằng ngày khác.
Kết quả đánh giá giữa năm học 33 trẻ/ 5- 6 tuổi
STT
Nội dung đánh giá
SL Trẻ Yếu TB
Khá Tốt
1
Khả năng nghe – hiểu
33
7
Vũ Thị Lợi
13
1
21
4
(nhận biết, phát âm chữ cái, tô
chữ…)
Các biện pháp sử dụng chưa đồng bộ, chưa có sự sắp xếp hợp lý giữa các
nhiệm vụ phát triển Tiếng Việt cho trẻ. Giáo viên còn mơ hồ, chưa có sự định
hướng rõ ràng, cụ thể về công việc phải làm, cần làm, làm những gì nhằm
mục đích dạy và tăng cường tiếng Việt cho trẻ.
- Giáo viên tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, có khả năng học hỏi,
nhận thức, tiếp thu tốt.
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quan tâm, thúc đẩy, động viên
giáo viên chú trọng công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ, tạo điều kiện
thuận lợi để giáo viên có thể tiếp thu, bồi dưỡng kiến thức về các phương
pháp tăng cường Tiếng Việt. Thường xuyên tổ chức các chuyên đề về tăng
cường Tiếng Việt để các đồng nghiệp có thể trao đổi, học hỏi và chia sẻ kinh
nghiệm với nhau về công tác dạy và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
- Môi trường tiếng Việt của trẻ còn hẹp và ít. Đa số các trẻ giao tiếp với
nhau và bố mẹ bằng tiếng mẹ đẻ (Tiếng Ê đê). Cháu chỉ giao tiếp bằng tiếng
Việt khi trò chuyện với cô giáo thông qua các hoạt động học tập và vui chơi
hàng ngày.
- Các bậc cha mẹ trẻ chưa ý thức được tầm quan trọng của tiếng Việt đối
với việc phát triển nhận thức của trẻ, từ đó chưa có sự phối hợp, giúp đỡ để
tạo môi trường học tiếng Việt rộng và phong phú hơn từ phía gia đình.
* Nguyên nhân chủ quan:
Do đặc điểm tâm sinh lí của trẻ khác nhau: Bộ máy pháp âm của trẻ chưa
hoàn thiện, khả năng ghi nhớ của trẻ còn yếu. kinh nghiệm dùng từ chưa được
luyện tập nhiều…
Đối với trẻ ở lứa tuổi này chưa biết được tầm quan trọng của việc học mà
trẻ chỉ thích đến trường có đồ chơi, có bạn đông vui, được cô dạy múa hát,
Vũ Thị Lợi
giáo viên thường trao đổi giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Vì thế ảnh hưởng
đến việc dạy tiếng Việt cho trẻ Mẫu giáo.
Ngoài số giáo viên là người đồng bào thì số giáo viên người Kinh rất hạn
chế trong việc nghe hiểu tiếng Ê đê, chỉ có vài giáo viên thông thạo tiếng dân
tộc Ê đê, đây cũng là một rào cản lớn trong việc tăng cường tiếng Việt cho
trẻ.
Vũ Thị Lợi
15
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
Theo sự chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện chương trình giáo
dục mầm non theo hướng tích hợp, lồng ghép các môn học linh hoạt, phù hợp
với nhận thức của từng lứa tuổi. Nhưng quá trình lồng ghép còn ôm đồm,
khập khểnh, chưa liên kết với nội dung chính.
Mặt khác, do dặc điểm kinh tế xã hội, trình độ dân trí của địa phương
nên vẫn còn tình trạng cha mẹ đi rẫy mang con theo nên ảnh hưởng không
nhỏ đến công tác duy trì sĩ số, dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ còn
hạn chế rất nhiều.
Để khắc phục được những vấn đề trên, giúp trẻ tiếp thu được kiến thức
mới, học Tiếng Việt một cách dễ dàng, đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến
trường mạnh dạn, tự tin và tích cực hoạt động, nâng cao khả năng nhận thức
cho trẻ, vốn kinh nghiệm của trẻ được kích thích, trẻ tiếp xúc với mọi người
xung quanh một cách dễ dàng hơn … luôn thôi thúc tôi tìm ra hướng đi đúng
Việt cho trẻ. Khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng, đưa ra một số giải pháp
cơ bản trong việc nâng cao chất lượng việc dạy và tăng cường Tiếng Việt nói
riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cho trẻ mầm non dân tộc
thiểu số.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
* Biện pháp 1. Đánh giá mức độ nghe, hiểu và nói tiếng Việt của trẻ ngay
từ đầu năm học.
Tôi cho rằng đánh giá là một công việc quan trọng trong qua trình giáo
dục trẻ nhằm có căn cứ để thiết kế, xây dựng nội dung giáo dục phù hợp.
Ngay trong tuần lễ đầu tiên trẻ đến trường, tôi đã tiến hành đánh giá để
có cái nhìn bao quát về vốn tiếng Việt của trẻ để có thể hình dung ra công
việc tiếp theo cần làm đối với trẻ.
Đánh giá khả năng nghe hiểu tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số theo các
tiêu chí sau:
Mức độ nghe hiểu Tiếng Việt.
Vốn từ Tiếng Việt.
Khả năng tạo câu và liên kết các câu.
Phương pháp đánh giá:
Mẫu phiếu đánh giá: Tham khảo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo
viên mầm non chu kì II (Tài liệu do Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đăk Lăk biên
soạn)
PHIẾU ĐÁNH GIÁ
MỨC ĐỘ NGHE, HIỂU VÀ NÓI TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ
Họ và tên trẻ:……………………………..Dân tộc:…………………
Ngày sinh:…………………………… Lớp:…………………………
Ngày đánh giá:……………………………………………………….
Vũ Thị Lợi
17
nhiều
- Nghe, hiểu tiếng Việt
- Nghe, hiểu, giao tiếp thông thường
- Hiểu, làm theo yêu cầu đơn giản
- Nghe hiểu 1 câu chuyện ngắn ( với 2 nhân
vât, 2 -3 tình tiết)
2) Kỹ năng nói:
Nội dung
- Trả lời được các câu hỏi thông thường
- Trả lời các câu hỏi theo nội dung đơn giản
- Miêu tả tranh đơn giản (2 nhân vật, 2-3 tình
tiết)
- Kể lại chuyện ngắn được nghe (khoảng 4-5
câu kể trở lên)
- Kể chuyện hàng ngày cho người khác hiểu
được
3) Kỹ năng về hoạt động đọc viết
Nội dung
- Thích thú với sách, truyện
- Biết cách cầm, giở các trang sách
- Nhận biết những nét cơ bản của chữ cái
- Nhận biết chữ số
- Biết tô chữ
Sau khi đánh giá, tôi tổng hợp tất cả thông tin thu thập được để có những
đánh giá chung cho toàn lớp về số lượng trẻ nói tốt Tiếng việt là bao nhiêu?
Mức độ biết Tiếng việt của cha mẹ, gia đình trẻ.
Vũ Thị Lợi
- Dạy trẻ phát âm đúng, chuẩn xác các từ, âm vị trong Tiếng Việt
- Mở rộng vốn từ, củng cố vốn từ và tích cực hóa vốn từ
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc.
- Chuẩn bị cho việc học, đọc viết khi vào lớp 1:
* Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong hệ thống nguyên âm
tiếng Việt.
Vũ Thị Lợi
19
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
* Dạy trẻ một số kĩ năng cần thiết như cầm bút, ngồi tư thế đúng, cầm
sách, mở sách, biết cách tô chữ theo mẫu, cách đọc đúng từ trái qua phải
(cách đưa mắt).
- Thông qua việc tập nghe, nói tiếng Việt, hình thành ở trẻ hứng thú khi
học tiếng Việt, thích giao tiếp bằng tiếng Việt và tập luyện cho trẻ một số nề
nếp, thói quen thích nghi với sinh hoạt, vui chơi, học tập, hoạt động tập thể…
trong và ngoài nhà trường.
Từ những căn cứ trên ta nhận thấy trẻ hầu như chưa biết gì về vốn tiếng
Việt, vì thế để trẻ tiếp thu được những kiến thức kĩ năng trong suốt năm học,
trước hết ta cần cung cấp cho trẻ những vốn từ cơ bản nhất, liên quan mật
thiết đến việc trẻ thực hiện được nề nếp lớp, các từ ngữ chỉ đồ vật, thao tác
đơn giản để có thể bước đầu trẻ hiểu và hợp tác với những yêu cầu của cô, từ
đó mới có thể tiếp tục tổ chức các hoạt động giáo dục khác.
quanh…
lại nhiều lần.
- Những từ về vận động
cơ thể: đứng lên, ngồi
xuống, vỗ tay, vào lớp,
ra lớp, cầm bút, làm
theo cô…
- Những từ ngữ về các
đồ vật xung quanh trẻ:
Vũ Thị Lợi
20
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
bàn, ghế, sách, vở, bút,
bảng, dép, cặp, mũ,
quần áo…
- Những từ ngữ liên
quan đến các bộ phận
cơ thể: Mắt, mũi, tay,
chân, đầu….
2
hỏi để trẻ trả lời,
nếu trẻ chưa trả
lời được cô trả
lời và yêu cầu
trẻ nhắc lại câu
trả lời của cô.
3
Tuần
- Tiếp tục củng cố
- Cô tiếp tục sử
6,7,8
những từ ngữ đã học.
dụng phương
- Học thêm những từ pháp bắt chước.
mới theo chủ đề.
- Cho trẻ làm quen với
Vũ Thị Lợi
21
Trường Mầm Non Sơn Ca
giáo tiến hành thực hiện kế hoạch đề ra. Trong quá trình thực hiện, cô thường
xuyên đánh giá kết quả để có sự điều chỉnh kế hoạch hợp lý, đạt được mục
tiêu đề ra.
* Biện pháp 3. Phối hợp linh hoạt các phương pháp, biện pháp trong hoạt
động dạy và tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số.
Để hoạt động dạy và tăng cường tiếng Việt của trẻ đạt hiệu quả cao,
giáo viên cần cân nhắc trong từng trường hợp, mức độ nghe hiểu của từng trẻ
mà lựa chọn những phương pháp, biện pháp thích hợp như:
** Phương pháp trực quan hành động
Đây là phương pháp dựa trên thực tế học tiếng mẹ đẻ để học Tiếng Việt:
khi học từ, trẻ quan sát hoạt động thực tế, bắt chước người lớn gọi hoạt động
đó.
Từ ngữ được lặp lại nhiều lần để khắc sau: Mỗi lần lặp lại luôn có hành
động, người thật, vật thật kèm theo.
Việc học từ và câu là kết quả tổng hợp của Nghe, Quan sát và Thực hành
Vũ Thị Lợi
22
Trường Mầm Non Sơn Ca
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
Đây là phương pháp thường được dùng ở giai đoạn đầu học Tiếng Việt.
Đối với thời gian đầu khi trẻ mới đến trường, còn nhiều thứ lạ lẫm và
mới mẻ, lại lần đầu tiếp xúc với Tiếng Việt, vốn từ rất ít hoặc không có. Vì
vậy, tôi thường chú ý sử dụng phương pháp này trong việc cung cấp vốn từ cơ
bản liên quan đến bản thân trẻ, đến những hành động của cơ thể, những đồ
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Tiếng việt và tăng cường Tiếng việt cho trẻ mầm non
dân tộc thiểu số.
trên cơ thể, trẻ phải tự nghe và xác định được tên bộ phận mà cô nhắc đến và
chỉ vào bộ phận đó.
2. Dùng đồ vật thật giới thiệu từ ngữ
Cô thông qua các hoạt động cụ thể giới thiệu các đồ vật thật. Vừa hoạt
động vừa nói từ ngữ mới:
Ví dụ: Cô cầm quả cam đặt lên bàn nói: Quả cam
Cô cầm quả cam bỏ vào giỏ nói “quả cam”…
Để trẻ biết được tên gọi tiếng Việt của các vật dụng cá nhân, đồ dùng, đồ
chơi trong lớp cô chỉ vào đồ vật đó, đồng thời nói tên, yêu cầu trẻ nói và lặp
đi lặp lại tên của đồ vậtt đó nhiều lần.
3. Dùng tranh giới thiệu từ ngữ
Cô chỉ bức tranh thể hiện từ mới, đồng thời nói từ ngữ mới.
Trẻ nghe và lặp lại theo cô.
Tranh ảnh minh hoạ có thể là tranh liên hoàn thể hiện liên tiếp các hành
động và các sự vật cụ thể.
4. Dùng câu chuyện để khắc sâu từ ngữ
Cô chuẩn bị trước một câu chuyện nội dung giản dị, có nhiều hành động và
các đồ vật và sự kiện cụ thể. Ví dụ: Chuyện “Đôi bạn nhỏ”
Cô vừa hành động vừa kể câu chuyện
Cô kể nhiều lần, tốc độ kể chậm và kèm theo ngữ điệu, điệu bộ để trẻ dễ
hiểu và cảm nhận.
Trẻ nghe, quan sát và bắt chước cô đồng thời học được luôn các từ ngữ, câu
mới.
Phương pháp này giúp trẻ học từ ngữ mới nhanh và dễ khắc sâu. Trẻ có từ
ngữ mới và dùng được luôn trong giao tiếp, gây hứng thú trong khi học Tiếng
Việt. Rất hiệu quả khi học các từ ngữ cơ bản, mẫu câu cơ bản, học khẩu ngữ