BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
ĐÀO THU HỒNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM
BỆNH TỰ KỶ BẰNG NATRI VALPROAT VÀ TÁC DỤNG
CẢI THIỆN HÀNH VI CỦA MÔI TRƢỜNG PHONG PHÚ
TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG
Chuyên ngành: Sinh lý học
Mã số: 62720107
T M TẮT UẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN QUÂN Y
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trần Hải Anh
2. PGS. TS. Cấn Văn Mão
Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Văn Tường
Phản biện 2: PGS. TS. Lê Thu Liên
Phản biện 3: GS. TS. Cao Tiến Đức
Việt Nam, các nghiên cứu về bệnh tự kỷ thường quan tâm về h a
cạnh dịch tễ học và đặc điểm lâm sàng, những nghiên cứu về mô
hình bệnh tự kỷ trên động vật và đánh giá hiệu quả của các biện pháp
can thiệp trên mô hình vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên
chúng tôi thực hiện đề tài này với hai mục tiêu:
1. Xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt
trắng chủng Swiss bằng tiêm natri valproat trước sinh.
2. Đánh giá tác dụng của môi trường phong phú lên hành vi trên
chuột nhắt được gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ.
2
2. Ý nghĩa khoa học
Luận án cung cấp các dữ liệu về thay đổi hành vi của chuột nhắt
trắng chủng Swiss phơi nhiễm trước sinh với natri valproat (VPA)
dải liều 300-500 mg/kg cân nặng, qua đó xây dựng được mô hình
bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bằng phơi nhiễm trước
sinh với natri valproat liều 500mg/kg cân nặng. Đồng thời, luận án
cung cấp các dữ liệu về tác dụng cải thiện hành vi của môi trường
phong phú trên chuột nhắt được gây mô hình bệnh tự kỷ.
3. Ý nghĩa thực tiễn
Mô hình có thể ứng dụng để xác định những thay đổi sinh học
liên quan đến cơ chế bệnh sinh bệnh tự kỷ và đánh giá tác dụng của
các dược chất hoặc phương pháp điều trị bệnh tự kỷ có hiệu quả.
4. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 124 trang. Đặt vấn đề 2 trang; Chương 1 (Tổng
quan tài liệu) 32 trang; Chương 2 (Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu) 14 trang; Chương 3 (Kết quả nghiên cứu) 41 trang; Chương 4
(Bàn luận) 33 trang; Kết luận 1 trang và Kiến nghị 1 trang.
Luận án có 22 bảng (2 bảng phụ lục), 35 hình (5 hình phụ lục) và
này dẫn đến rối loạn phổ tự kỷ.
1.4. Các phƣơng pháp gây mô hình bệnh tự kỷ
Mô hình động vật bệnh tự kỷ là sự mô phỏng tái lập những yếu tố
nguyên nhân sinh bệnh trên người, để với cùng yếu tố nguyên nhân
cũng sẽ thu được trên động vật những biểu hiện hành vi và bệnh học
tương đồng với các triệu chứng bệnh tự kỷ được mô tả trên người.
Các mô hình động vật được chia làm ba nhóm ch nh:
- Mô hình gây tổn thương não: gây tổn thương các vùng như tiểu
não, hạch hạnh nhân hoặc vỏ não trung gian trán trước.
- Mô hình các yếu tố môi trường: phơi nhiễm trong thời ỳ bào
thai hoặc sau sinh với thuốc chống co giật, yếu tố gây viêm.
- Mô hình di truyền: gây đột biến các gen liên quan đến tự ỷ, mô
hình các bệnh di truyền có liên quan với tự ỷ.
4
1.5. Các bài tập đánh giá hành vi động vật gây mô hình bệnh tự kỷ
Các bài tập đánh giá hành vi được thiết ế dựa trên tập hợp các
triệu chứng đặc trưng ở bệnh nhân tự ỷ như suy giảm tương tác xã
hội, suy giảm trong giao tiếp, có các hành vi lặp lại, các mối quan
tâm hạn chế; và các triệu chứng liên quan như lo lắng, đáp ứng của
các giác quan bất thường, vận động vụng về, suy giảm nhận thức,
chống lại sự thay đổi, rối loạn giấc ngủ…
1.5.1. Bài tập đánh giá tương tác xã hội
Để đo lường hoạt động tương tác xã hội có thể dùng bài tập mê lộ
ba buồng, bài tập đánh giá hành vi làm mẹ.
1.5.2. Bài tập đánh giá sự giao tiếp, thông tin liên lạc
Đánh giá đáp ứng của động vật với mùi hương xã hội, mùi hương
phi xã hội, phân tích âm thanh do chuột phát ra trong các hoàn cảnh
hác nhau là phương tiện đánh giá chức năng giao tiếp ở động vật.
triển thần kinh nên việc sử dụng MTPP được cho là có tác dụng điều
trị, cải thiện các khiếm khuyết do quá trình bệnh lý gây nên.
1.8. Nghiên cứu về bệnh tự kỷ tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, số lượt trẻ đến hám và điều trị rối
loạn phổ tự ỷ ngày càng gia tăng. Trong nước, có nhiều công trình
nghiên cứu về một số yếu tố nguy cơ, các dấu hiệu lâm sàng để phát
hiện sớm và can thiệp cho trẻ tự kỷ, hướng nghiên cứu gây mô hình
bệnh vẫn còn hiêm tốn... Việc chẩn đoán, điều trị cho trẻ tự kỷ còn
gặp nhiều hó hăn vì chưa được đầu tư đúng mức. Vì vậy, nhiều trẻ
tự kỷ hông được phát hiện và điều trị sớm, dẫn đến trẻ bị thiệt thòi
cả về trí tuệ, sức khỏe, khó hăn hi hòa nhập cộng đồng.
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Chuột nhắt trắng chủng Swiss sinh ra từ chuột bố, mẹ do Trung
tâm nghiên cứu và sản xuất động vật thí nghiệm chuẩn thức - Viện
6
Vệ sinh dịch tễ Trung ương cung cấp, được sử dụng trong hai nội
dung nghiên cứu sau đây:
* Nội dung 1: Xây dựng mô hình bệnh tự kỷ trên chuột nhắt
trắng chủng Swiss. Chuột được chia thành: nhóm chứng (Chứng) 35
con, các nhóm phơi nhiễm VPA trước sinh với các liều 300, 400 và
500 mg/kg cân nặng (VPA300, VPA400 và VPA500, với số lượng
lần lượt là 31, 32 và 30 chuột).
* Nội dung 2: Đánh giá tác dụng cải thiện hành vi của môi
trường phong phú trên chuột nhắt được gây mô hình bệnh tự kỷ với
liều xác định. Chuột được chia thành: nhóm chứng nuôi trong môi
trường chuẩn (Chứng-C) và nuôi trong MTPP (Chứng-PP), với số
lượng lần lượt là 69 và 72 con; nhóm phơi nhiễm VPA trước sinh với
nghiêng, hệ thống ghi và phân t ch âm siêu âm, môi trường mở,
rotarod và các mê lộ chữ thập, ba buồng và mê lộ nước, cùng hệ
thống ghi và phân tích hành vi Any-maze.
2.2.3. Quy trình nghiên cứu
* Nội dung 1: Xây dựng mô hình bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng.
Chuột nhắt trắng cái trưởng thành chủng Swiss được kiểm soát
chu kỳ sinh sản, cho giao phối, xác định ngày của thai kỳ. Vào ngày
thứ 12,5 của thai kỳ, các chuột mẹ được chia ngẫu nhiên vào nhóm
sinh chuột con chứng và các nhóm sinh chuột con phơi nhiễm VPA
trước sinh. Các chuột mẹ sinh chuột con chứng được tiêm phúc mạc
liều đơn dung dịch NaCl 0,9%, 0,01 ml/g cân nặng. Các chuột mẹ
sinh chuột con thuộc các nhóm gây mô hình được tiêm phúc mạc
dung dịch VPA nồng độ 50 mg/ml, liều đơn 300, 400, 500 và 600
mg/kg cân nặng. Với các liều VPA này, chúng tôi tiến hành thử liều
tác dụng/gây độc. Vì liều VPA 600 mg/kg gây chết/độc với các chuột
non phơi nhiễm ngay trong tuần đầu sau sinh, nên số chuột non phơi
nhiễm ở liều VPA600 được đánh giá hành vi trong các giai đoạn tiếp
theo rất hạn chế. Bởi vậy, nghiên cứu hiện tại sử dụng các liều 300–
500 mg/kg và các kết quả thực nghiệm tương ứng với các liều này.
8
Chuột con sinh ra được chia thuộc nhóm chứng hoặc các nhóm
VPA300, VPA400, VPA500 theo liều phơi nhiễm trong thời kỳ bào
thai. Đánh giá hành vi chuột con gồm: ghi âm siêu âm ở giai đoạn 310 ngày tuổi; bài tập mặt phẳng nghiêng ở 6-8 ngày tuổi; các bài tập
trong môi trường mở, tương tác xã hội ba buồng, mê lộ chữ thập,
rotarod, mê lộ nước ở giai đoạn 49-61 ngày tuổi. Từ đó, xác định liều
VPA phù hợp nhất gây mô hình bệnh tự kỷ trên chuột nhắt.
* Nội dung 2: Đánh giá tác dụng cải thiện hành vi của MTPP trên
chuột nhắt đã gây mô hình bệnh tự kỷ với liều xác định.
Labo Sinh lý học - Học viện Quân y.
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt
trắng chủng Swiss bằng tiêm natri valproat trƣớc sinh
3.1.1. Ảnh hưởng của phơi nhiễm natri valproat trước sinh lên sự
phát triển phối hợp vận động, thăng bằng trong bài tập mặt phẳng
nghiêng
Hình 3.1. Thời gian hoàn thành quay 1800 ở chuột nhóm chứng và
các nhóm phơi nhiễm VPA trước sinh 6–8 ngày tuổi.
**: p
32
30
35
31
32
30
35
31
32
30
± SD
14,51 ± 5,89
13,26 ± 7,06
9,45 ± 4,65
9,10 ± 6,69
295,61 ± 67,91
270,02 ± 55,48
291,33 ± 102,41
262,10 ± 122,78
91,61 ± 42,93
89,78 ± 30,05
118,71 ± 116,55
133,22 ± 99,27
p
pa,b > 0,05
pa,c < 0,01
pa,d < 0,001
12
B
Hình 3.13. Quãng đường (A) và thời gian tìm bến đỗ (B) ở chuột
nhóm chứng và các nhóm phơi nhiễm VPA trước sinh qua 6 ngày tập.
Quãng đường bơi tìm bến đỗ ở nhóm chứng ngắn hơn ở các nhóm
VPA300 và VPA500 (p < 0,05 đến p < 0,001). Thời gian bơi để tìm
bến đỗ ở nhóm chứng ngắn hơn ở nhóm VPA500 (p < 0,01).
3.2.2. Tác dụng của môi trƣờng phong phú lên hành vi trên
chuột nhắt đƣợc gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ bằng phơi
nhiễm natri valproat trƣớc sinh liều 500 mg/kg cân nặng
3.2.2.1. Tác dụng của môi trường phong phú lên hoạt động vận
động
hám phá trong môi trường mở trên chuột nhắt được gây mô
hình thực nghiệm bệnh tự kỷ
Bảng 3.11. Hoạt động trong môi trường mở của chuột các nhóm
chứng và mô hình VPA500 nuôi trong MTC và MTPP.
Chỉ số
Số lần vào
vùng trung
tâm (lần)
Thời gian ở
vùng trung
tâm (s)
Nhóm
a.Chứng-C
pa,c < 0,05
pc,d < 0,001
pa,b > 0,05
pa,c > 0,05
pc,d < 0,01
Số lần và thời gian ở vùng trung tâm ở nhóm VPA-C cao hơn ở
nhóm VPA-PP (p < 0,01 đến p < 0,001).
13
3.2.2.2. Tác dụng của môi trường phong phú lên hoạt động tương tác
xã hội trên chuột nhắt được gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ
Bảng 3.12. Số lần và thời gian vào các buồng trong mê lộ ba buồng
phiên 1 của chuột các nhóm chứng và mô hình VPA500 nuôi trong
Chỉ số
Số lần vào
buồng 1
(lần)
Thời gian ở
buồng 1 (s)
Thời gian ở
buồng trung
tâm (s)
MTC và MTPP.
± SD
Nhóm
n
a.Chứng-C
66
116,92 ± 91,61
d.VPA-PP
64
83,48 ± 76,40
p
pa,b < 0,001
pa,c < 0,01
pc,d >0,05
pa,b < 0,05
pa,c >0,05
pc,d > 0,05
pa,b < 0,01
pa,c < 0,05
pc,d < 0,01
Số lần vào buồng 1 ở nhóm chứng nuôi MTC cao hơn ở các nhóm
chứng nuôi MTPP và nhóm VPA nuôi MTC (p < 0,01). Thời gian ở
buồng 1 ở nhóm chứng nuôi MTC thấp hơn ở nhóm chứng nuôi
MTPP (p < 0,05). Thời gian ở buồng trung tâm ở nhóm chứng thấp
hơn nhóm VPA (p
trắng chủng Swiss bằng tiêm natri valproat trƣớc sinh
Hiện nay có ba hướng tiếp cận gây mô hình thực nghiệm bệnh tự
kỷ trên động vật là mô hình di truyền (đột biến gen), mô hình yếu tố
môi trường (sử dụng hóa chất) và mô hình gây tổn thương não. Mỗi
hướng tiếp cận đều có các ưu điểm, nhược điểm riêng [9],[67],[68].
Các tác giả lựa chọn phương pháp gây mô hình tự kỷ thường dựa vào
mục đ ch nghiên cứu, điều kiện tiến hành nghiên cứu của từng cơ sở.
Ở Việt Nam hiện nay chưa thực hiện được các kỹ thuật tạo sinh ra
các dòng động vật đột biến gen để có thể gây mô hình di truyền bệnh
tự kỷ.
Trong nghiên cứu này, việc lựa chọn gây mô hình tự kỷ bằng
VPA và thời điểm tiêm VPA dựa trên các nghiên cứu trước đây cho
thấy tác động của VPA là yếu tố môi trường làm thay đổi sự phát
triển thần kinh trong quá trình phát triển bào thai nhất là xung quanh
giai đoạn đóng ống thần kinh và hoàn thiện các cấu trúc thần kinh.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng liều VPA từ 100-800
mg/kg cân nặng đường uống, tiêm dưới da, tiêm phúc mạc trong
khoảng thời gian từ ngày 9-15 của thai kỳ ở các chủng chuột khác
nhau. Cách xác định ngày 12,5 dựa trên theo dõi chu kỳ động dục
của chuột để ghép đôi một đêm vào giai đoạn chuột cái động dục,
sáng hôm sau xác định sự có mặt tinh trùng trong âm đạo chuột cái
được t nh là ngày đầu tiên của thai kỳ (ngày 0,5 tính từ tối hôm trước
đến sáng hôm sau). Chuột cái sau giao phối được tách riêng theo dõi
cân nặng và các dấu hiệu mang thai, sáng ngày 13 (ngày 12,5) xác
định chắc chắn chuột mang thai để tiêm. Thời điểm tiêm này cũng
tương đồng với lựa chọn trong các nghiên cứu trước đây, được cho là
16
tạo mô hình phơi nhiễm trước sinh với kết quả khả quan. Việc lựa
Cheaha và cs. nhận thấy số lần phát âm/1 phút ở giai đoạn 3-10 ngày
tuổi của nhóm VPA thấp hơn so với nhóm chứng. Wöhr và cs.
nghiên cứu trên chuột đột biến mất gen Shan 1 cũng chỉ ra ở 8 ngày
tuổi, chuột đột biến gen Shank1-/- giảm số lần phát âm so với chuột
nhóm chứng. Các thông số âm như tần số âm đỉnh của chuột đột biến
gen Shank1-/- cao hơn nhóm chứng, biên độ âm đỉnh không có sự
khác biệt giữa các nhóm, biến đổi tần số ở chuột đột biến gen
Shank1-/- thấp hơn chuột Shank1+/- và thấp hơn chuột Shank1+/+ và
không có sự khác biệt về phát âm theo giới. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, các nhóm chuột phơi nhiễm trong bào thai với VPA đặc
biệt là nhóm VPA500 biểu hiện giảm tỷ lệ phát âm ở dải tần số trên
35 kHz, giảm số lần, thời gian phát âm, tần số âm ở dải tần số thấp
dưới 35 Hz, như vậy phơi nhiễm trong bào thai với VPA làm giảm
khả năng giao tiếp, thông tin liên lạc trên chuột nhắt giai đoạn 3-10
ngày tuổi, và các kết quả của chúng tôi cũng đồng chỉ ra ảnh hưởng
phơi nhiễm VPA trước sinh, đặc biệt lên sự phát âm ở dải tần có hàm
chứa ý nghĩa thông tin.
4.1.3. Ảnh hưởng của phơi nhiễm natri valproat trước sinh lên
hoạt động vận động, khám phá trong môi trường mở
Bài tập vận động trong môi trường mở được dùng để đánh giá
hoạt động vận động và hành vi khám phá. Trong nghiên cứu này, các
chỉ số quãng đường và vận tốc vận động giữa chuột nhóm chứng và
các nhóm tiêm VPA không có sự khác biệt chứng tỏ VPA không ảnh
hưởng đến hoạt động vận động tự phát nói chung. Số lần và thời gian
vào vùng trung tâm ở nhóm VPA500 có xu hướng giảm so với nhóm
chứng phần nào thể hiện mối quan tâm hạn chế và giảm khả năng
khám phá ở nhóm chuột phơi nhiễm với VPA liều 500mg/kg cân
nặng. Roullet và cs. khi nghiên cứu trên chuột nhắt phơi nhiễm với
VPA liều 800mg/kg cân nặng đường uống ở ngày 11 của thai kỳ
nhận thấy chuột nhóm VPA không thể hiện sự khác biệt về hoạt
các hành vi xã hội với chuột đối tác lạ như thăm dò, ngửi, chạm và
tránh tương tác bằng ẩn trốn. Tác giả cũng đưa ra ết quả ghi điện
19
sinh lý tế bào nhân bên của hạch hạnh nhân của nhóm VPA có sự
tăng phản ứng với
ch th ch, tăng điện thế hưng phấn kéo dài và
giảm ức chế so với nhóm chứng. Bất thường ở hạch hạnh nhân có thể
là trung tâm dẫn đến lo lắng quá mức, ám ảnh và sợ hãi. Chính sự lo
sợ này có thể dẫn tới cô lập, né tránh, rút lui xã hội và suy giảm các
hành vi xã hội.
4.1.5. Ảnh hưởng của phơi nhiễm natri valproat trước sinh lên
hành vi liên quan đến lo lắng trong bài tập mê lộ chữ thập
Bài tập mê lộ chữ thập thường được dùng để đánh giá hành vi liên
quan đến lo lắng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chuột ở các
nhóm tiêm VPA đều có xu hướng có số lần và thời gian ở cánh đóng
nhiều hơn so với nhóm chứng, rõ nhất ở nhóm VPA400. Như vậy,
phơi nhiễm với VPA trong bào thai làm chuột dễ bị lo lắng, sợ hãi.
Nghiên cứu của Markram và cs. cũng nhận thấy chuột nhóm VPA
tăng hành vi lo lắng thể hiện ở tăng thời gian ở cánh đóng, giảm thời
gian ở cánh mở trong bài tập mê lộ chữ thập. Đồng thời, chuột nhóm
VPA biểu hiện tăng tr nhớ sợ hãi, tăng sợ hãi chung và giảm dập tắt
sợ hãi trong bài tập sợ hãi có điều kiện. Các biểu hiện tăng lo lắng,
sợ hãi hoặc suy giảm giao tiếp xã hội được đề cập ở trên có thể do sự
thay đổi theo hướng tăng ch th ch, giảm ức chế của tế bào nhân bên
hạch hạnh nhân.
4.1.6. Ảnh hưởng của phơi nhiễm natri valproat trước sinh lên khả
nhóm VPA500 thể hiện tăng thời gian bơi để tìm được bến đỗ ở các
ngày luyện tập 1-6 và giảm thời gian bơi ở góc trước đó đặt bến đỗ ở
ngày 7 rõ rệt so với nhóm chứng.
Từ các kết quả trên có thể thấy chuột nhắt chủng Swiss phơi
nhiễm natri valproat trước sinh ở dải liều 300-500 mg/kg cân nặng
đều gây ra một số biểu hiện dạng tự kỷ, trong đó liều VPA 500
mg/kg cân nặng gây ra há đầy đủ các biểu hiện hành vi tương tự các
biểu hiện thường gặp trên bệnh nhân tự kỷ và các tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh tự kỷ như suy giảm giao tiếp và tương tác xã hội; xu
21
hướng giảm hoạt động thăm dò, hám phá; giảm khả năng phối hợp
vận động; tăng hành vi liên quan đến lo lắng; giảm khả năng học tập
và trí nhớ không gian. Đối chiếu với các tiêu chuẩn mô hình tự kỷ
trên động vật của Crawley, có thể sử dụng liều VPA 500 mg/kg cân
nặng là liều có hiệu quả nhất để gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ
trên chuột nhắt trắng chủng Swiss tại Việt Nam.
4.2. Tác dụng của môi trƣờng phong phú lên hành vi trên chuột
nhắt đƣợc gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ bằng natri
valproat liều 500 mg/kg cân nặng
4.2.2.1. Tác dụng của môi trường phong phú lên hoạt động vận
động hám phá trong môi trường mở trên chuột nhắt được gây mô
hình thực nghiệm bệnh tự kỷ
Đánh giá hoạt động vận động và hám phá trong môi trường mở
cho thấy số lần và thời gian vào vùng trung tâm của nhóm VPA nuôi
trong môi trường phong phú (MTPP) cao hơn ở nhóm VPA nuôi
trong môi trường chuẩn (MTC), trong khi nhóm chứng nuôi trong
MTPP không cao hơn ở nhóm chứng nuôi trong MTC, cho thấy
MTPP có tác dụng làm tăng hoạt động vận động và hám phá ở
chứng biểu hiện hành vi liên quan đến lo lắng, chuột nhóm VPA nuôi
MTPP tăng số lần vào cánh mở phần nào thể hiện xu hướng giảm bớt
lo lắng. Nghiên cứu của Schneider và cs. cho thấy chuột nhóm VPA
có biểu hiện giảm số lần và thời gian ở cánh mở so với nhóm chứng,
nhưng hi nhóm chuột VPA được nuôi trong môi trường phong phú
lại làm tăng số lần và thời gian ở cánh mở so với nhóm VPA nuôi
trong môi trường. Trong hi đó Favre và cs. nhận thấy nhóm VPA
nuôi trong MTPP thiết kế cố định làm tăng thời gian ở cánh mở,
trong khi MTPP thiết kế không cố định không có tác dụng này. Đối
với nhóm chứng nuôi trong MTPP thiết kế cố định và không cố định
đều hông làm tăng thời gian ở cánh mở so với nhóm chứng nuôi
trong môi trường chuẩn. Những kết quả trên gợi mở cho nghiên cứu
tác động của điều chỉnh môi trường phong phú đến hành vi động vật.
23
4.2.2.4. Tác dụng của môi trường phong phú lên sự phối hợp vận động,
thăng bằng trên chuột nhắt được gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ
Thời gian vận động trên trục quay ở các nhóm chuột chứng và
VPA nuôi trong MTPP đều dài hơn ở các nhóm chuột chứng và VPA
nuôi trong MTC cho thấy MTPP có tác dụng làm tăng hả năng phối
hợp vận động và giữ thăng bằng trên cả chuột được tiêm VPA và
chuột nhóm chứng. Thêm vào đó, MTPP giúp cải thiện kỹ năng phối
hợp vận động của chuột tiêm VPA về mức tương tự như ở chuột các
nhóm chứng. Kondo và cs. cũng nhận thấy MTPP giúp cải thiện khả
năng phối hợp vận động và học tập vận động trên chuột hội chứng
Rett, kết quả này có liên quan đến tác dụng của MTPP làm thay đổi
mật độ synap kích thích và ức chế, khôi phục điện thế hưng phấn kéo
dài và tăng nồng độ protein BDNF ở tiểu não trên động vật.
4.2.2.5. Tác dụng của môi trường phong phú lên học tập, trí nhớ