VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ YẾN NGA
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ HÀNH CHÍNH
VIỆT - ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ YẾN NGA
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ HÀNH CHÍNH
VIỆT - ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
Mã số
: 9222024
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Vũ Thị Sao Chi
2. GS.TS. Nguyễn Đức Tồn
Hà Nội, năm 2018
CHƯƠNG 2. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ
HÀNH CHÍNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH .............................. 4
2.1. DẪN NHẬP ..............................................................................................60
2.1.1. Thành tố cấu tạo TNHC .........................................................................60
2.1.2. Phân loại cấu tạo TNHC ........................................................................61
2.1.3. Cơ sở phân tích mô hình cấu tạo TNHC ................................................62
2.2. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ HÀNH CHÍNH
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH XÉT VỀ SỐ LƯỢNG THUẬT TỐ 63
2.3. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ HÀNH CHÍNH
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH XÉT VỀ PHƯƠNG THỨC CẤU
TẠO, QUAN HỆ NGỮ PHÁP VÀ TỪ LOẠI ................................................65
2.3.1. Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ hành chính xét về phương thức cấu tạo,
quan hệ ngữ pháp và từ loại .............................................................................65
2.3.2. Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt giữa TNHC tiếng Việt và TNHC
tiếng Anh xét về phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp và từ loại ..................99
ii
2.4. CHUẨN HÓA THUẬT NGỮ HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT VỀ MẶT
CẤU TẠO ......................................................................................................104
2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 .........................................................................104
CHƯƠNG 3. ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ
HÀNH CHÍNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH ..........................106
3.1. DẪN NHẬP ............................................................................................106
3.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA TIỂU NHÓM TNHC BIỂU THỊ CƠ
QUAN, TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC ..................107
3.2.1. TN nguyên cấp biểu thị cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước..108
3.2.2. TN thứ cấp biểu thị cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước ....108
3.3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA TIỂU NHÓM THUẬT NGỮ BIỂU THỊ
Tính từ (Adjective)
C
Liên từ (Conjunction)
F
Thành tố bổ sung, biểu hiện đặc trưng được lựa làm cơ sở
định danh đối tượng (Feature)
H
Phần trung tâm (Head), Thành tố trung tâm, biểu thị khái
niệm loại (Head)
N
Danh từ (Noun)
Po
Phần phụ sau (Post-Modifier)
Pr
Phần phụ trước (Pre-Modifier)
TN
Bảng 13. Thống kê các các mô hình định danh của TN thứ cấp biểu thị cơ quan,
tổ chức, đơn vị,... trong bộ máy nhà nước .........................................................116
Bảng 14. Thống kê TNHC biểu thị đội ngũ nhân sự trong bộ máy nhà nước theo
kiểu loại định danh .............................................................................................117
Bảng 15. Thống kê TN nguyên cấp biểu thị loại nhân sự ..................................118
Bảng 16. Tổng hợp các kiểu loại (H) trong cấu trúc định danh của TN thứ cấp
biểu thị nhân sự trong bộ máy nhà nước ............................................................122
Bảng 17. Thống kê các đặc trưng (F) được chọn làm cơ sở định danh trong 598
TN thứ cấp tiếng Việt và 326 TN thứ cấp tiếng Anh biểu thị đội ngũ nhân sự .125
Bảng 18. Thống kê các các mô hình định danh của TN thứ cấp biểu thị nhân sự
trong bộ máy nhà nước .......................................................................................132
Bảng 19. Thống kê TNHC biểu thị các loại văn bản hành chính phục vụ cho hoạt
động công vụ của bộ máy nhà nước theo kiểu loại định danh ...........................133
Bảng 20. Thống kê các đặc trưng (F) được chọn làm cơ sở định danh trong 158 TN thứ
cấp tiếng Việt và 154 TN thứ cấp tiếng Anh biểu thị văn bản quản lý nhà nước .......137
Bảng 21. Thống kê các các mô hình định danh của TN thứ cấp biểu thị loại văn
bản quản lý nhà nước .........................................................................................141
v
MỞ ĐẦU
0.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong mỗi lĩnh vực khoa học đều cần có một hệ thống thuật ngữ (TN) với
tư cách là phương tiện, là công cụ để biểu hiện các khái niệm và đối tượng trong
một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn giúp cho sự tồn tại và phát triển của
ngành khoa học hay lĩnh vực chuyên môn ấy. Nền hành chính nhà nước không
phải là ngoại lệ, nó cũng cần phải có một hệ TN riêng của mình. Trong bối cảnh
Việt Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, hệ thuật ngữ hành chính (TNHC) đang có nhu cầu hoàn thiện và
chiếu TN chuyên ngành hành chính tiếng Việt với tiếng Anh trên các bình diện
này là vô cùng hữu ích và cần thiết.
Thêm vào đó, so với những chuyên ngành liên quan khác như khoa học
chính trị, chuyên ngành hành chính học ở Việt Nam còn khá mới mẻ và mới nổi
lên từ thế kỷ XIX, do đó những tài liệu và giáo trình dành cho sinh viên học theo
chuyên ngành này ở một số trường đại học nước ta còn rất hạn chế, ít ỏi. Hơn nữa,
theo khảo sát của chúng tôi, thời gian học tiếng Anh chuyên ngành Hành chính
học còn hạn chế và tương đối bất cập. Sinh viên các trường đại học có chuyên
ngành hành chính chưa cập nhật và đáp ứng được khối lượng kiến thức chung của
ngành. Với phương pháp học tích cực hiện nay, ngoài thời gian học trên lớp dưới
sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên còn phải tự cập nhật kiến thức cho mình
qua nhiều kênh thông tin như: mạng internet hoặc qua các loại sách báo, tạp chí
chuyên ngành bằng tiếng Anh. Cái khó trong quá trình tự nghiên cứu ở đây là
trình độ tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên còn rất nhiều hạn chế. Thêm vào
đó, sinh viên thường bị chi phối rất nhiều bởi ngôn ngữ nguồn (tiếng mẹ đẻ) trong
việc tri nhận ngôn ngữ đích (tiếng Anh) và điều này thường được thể hiện khá rõ
trong vốn từ vựng và hình thức biểu đạt của người học.
Với những lí do cơ bản như trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu
thuật ngữ hành chính Việt - Anh” cho công trình luận án của mình.
0.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
0.2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu về mặt cấu tạo và định danh của các TNHC
2
trong tiếng Việt và tiếng Anh, luận án hướng đến mục đích: làm sáng tỏ một số
đặc điểm của TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó tiến tới những phương
hướng, biện pháp xây dựng và chuẩn hóa TNHC tiếng Việt, góp phần nâng cao
hiệu quả của hoạt động quản lí nhà nước cũng như việc đào tạo trong lĩnh vực
chuyên ngành hành chính ở Việt Nam.
tương đối đầy đủ các TN hiện đang được sử dụng trong lĩnh vực hành chính ở
Việt Nam và Hoa Kì nhằm rút ra được những nhận xét, đánh giá chính xác,
khách quan về đặc điểm cấu tạo cũng như đặc điểm định danh của TNHC trong
tiếng Việt và tiếng Anh. Vì vậy, để tập hợp TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh
làm tư liệu nghiên cứu, luận án dựa vào các nguồn tài liệu như: các từ điển thuật
ngữ chuyên ngành về hành chính, từ điển giải thích, từ điển đối chiếu thuật ngữ
hành chính Anh –Việt, Các trang mạng của Chính phủ và Quốc hội Việt Nam và
của Hoa Kì. Số lượng TNHC tiếng Việt thu thập được là 2100 đơn vị. Số lượng
TNHC tiếng Anh thu thập được là 1800 đơn vị.
0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng phối hợp
những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
1) Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu nhằm tìm ra sự tương đồng
và khác biệt giữa hai hệ thống TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh. Trong đó hệ
thống TNHC tiếng Việt được coi là cơ sở (etalon), hệ TNHC tiếng Anh là đối
tượng được đưa ra đối chiếu.
2) Phương pháp phân tích theo thành tố trực tiếp
Phương pháp này được luận án sử dụng để nghiên cứu các thành tố cấu
thành TNHC, từ đó có thể thấy được các mô hình cấu tạo và mô hình định danh
của TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh. Bằng phương pháp này có thể chỉ ra
được một thuật ngữ được cấu tạo theo mô hình mấy bậc, mối quan hệ giữa các
thành tố trực tiếp thuộc mỗi bậc cũng như mối quan hệ giữa các đại thành tố trực
tiếp tạo nên thuật ngữ.
3) Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được luận án sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo
4
của từng TNHC theo các phương diện như: các thành tố cấu tạo nên mỗi thuật
0.7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
0.7.1. Về mặt lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí
thuyết đại cương về ngôn ngữ hành chính, về TNHC, về những tiêu chuẩn cần có
của TNHC. Việc nghiên cứu, phân tích những vấn đề lí thuyết chuyên sâu về đặc
điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh là
cơ sở khoa học, khách quan để luận án tìm ra những nét tương đồng và dị biệt.
Từ kết quả nghiên cứu đó, luận án phát hiện, đề xuất những TN cần phải được
chuẩn hóa và giải pháp chuẩn hóa cho từng loại trường hợp nhằm thúc đẩy quá
trình xây dựng và phát triển hệ TNHC cũng như hiệu quả giao tiếp, quản lí trong
lĩnh vực hành chính nói chung.
0.7.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ được ứng dụng trong lĩnh vực biên soạn
từ điển hành chính đối chiếu Anh - Việt hay Việt - Anh, đồng thời có thể làm tài
liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy, học tập môn tiếng Anh chuyên
ngành hành chính nói riêng và lĩnh vực hành chính nói chung ở Việt Nam.
0.8. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ
lục, phần nội dung nghiên cứu của luận án được triển khai với 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ nói
chung, TNHC nói riêng, ở trong nước và trên thế giới; Những cơ sở lí luận có
liên quan để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra.
Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNHC trong tiếng Việt và
tiếng Anh
Chương này tiến hành đối chiếu TNHC trong tiếng Việt và tiếng Anh theo
các phương diện: số lượng thành tố cấu tạo, đặc điểm từ loại, mô hình cấu tạo;
Đề xuất mang tính gợi ý về việc xây dựng và chuẩn hóa TNHC tiếng Việt trên
nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là những công trình nghiên cứu của Dürer (14711528) về Toán học, Vesalius (1514-1564) về Giải phẫu, Lavoisier (1743-1793)
và Berthollet (1748-1822) về Hóa học, hay Von Linne (1707-1778) về Thực vật
và Động vật học. Tuy nhiên, các vấn đề về TN mang tính khoa học chỉ thực sự
mới được bàn đến từ những năm 30 của thế kỷ XX. Các hoạt động nghiên cứu đi
đầu ở châu Âu và Liên Xô đã xây dựng nên những cơ sở lí thuyết và phương
pháp cho phần lớn các nghiên cứu về thuật ngữ. Nền tảng của những nghiên cứu
đó là các công trình của E.Vjuster (1898-1977) và Ernest Drezen (1892-1937).
Đặc biệt, E.Vjuster, như được trình bày dưới đây, là người đã có sự ảnh hưởng
hết sức lớn lao đến sự phát triển của thuật ngữ học. Ông được xem là người khai
sáng của thuật ngữ học hiện đại. Bởi vì E.Vjuster đã có nhiều công trình nghiên
cứu để xây dựng thuật ngữ học hiện đại, trong đó đóng góp lớn nhất là xây dựng
lí thuyết chung về thuật ngữ. Nghiên cứu của E.Vjuster đã khởi đầu cho hầu hết
các nội dung của bộ môn thuật ngữ học hiện đại, như các nguyên tắc của thuật
ngữ, phương pháp học về nghiên cứu thuật ngữ, chuẩn hóa và kế hoạch hóa ngôn
ngữ cùng nhiều nội dung quan trọng khác. Trong luận án tiến sĩ (năm 1930),
E.Vjuster đã thảo luận về việc hệ thống hóa phương pháp làm việc trong thuật
ngữ học, đề xuất các nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ, đồng thời chỉ ra những
8
điểm trọng yếu của phương pháp học xử lí dữ liệu thuật ngữ.
Từ sau nghiên cứu của E.Vjuster, ba trường phái nghiên cứu về thuật ngữ
ở các nước thuộc châu Âu gồm Áo (Vienna), Liên bang Xô Viết, Tiệp Khắc
(Praha) đồng thời xuất hiện. Từ ba trung tâm này, thuật ngữ học phát triển sang
phương Tây (Pháp, Canada, Quebec), sang Bỉ và các nước Bắc Âu, sau đó là tới
phía Nam (Bắc Phi, Tiểu Xa-ha-ra Africa, Trung và Nam Mỹ, Bồ Đào Nha, và
Tây Ban Nha) và gần đây hơn nữa là tới phía Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc và các nước châu Á khác).
Trước hết, chúng tôi trình bày sự phát triển của Trung tâm TN học Xô
viết, vì các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở đây đã có ảnh hưởng
Ở Tiệp Khắc trước đây, ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, các nhà
ngôn ngữ học cũng đã nghiên cứu về TN học. Song, nếu như ở Liên Xô trước
đây các nhà khoa học nghiên cứu TN theo hướng quốc tế hóa chúng, thì ở Tiệp
Khắc lại hướng mọi hoạt động cơ bản vào việc xây dựng các yếu tố tương đương
của quốc gia, các yếu tố Slavơ, đối lập với các TN Đức và Hy Lạp - Latin. Ở
Canada khu vực nói tiếng Pháp, động lực chính thúc đẩy các hoạt động TN học
là nhu cầu xây dựng các TN tiếng Pháp để thay thế các TN tiếng Anh trong tất cả
mọi lĩnh vực khoa học và văn hoá.
Các nhà TN học Âu Mỹ nghiên cứu TN dưới góc độ khái niệm hay định
nghĩa, ví dụ như Thorsten Tripple (2003) với Terminology science-a closer look
(TN học - một cái nhìn gần hơn) hay Dafydd Gibbon với The importance of
terminology (Tầm quan trọng của TN). Chẳng hạn, J.C.Sager (Mỹ) đã đưa ra
được 4 tiêu chuẩn chung của TN gồm: tính hệ thống, tính quy ước, tính ổn định và
tính chính xác (dẫn theo [36, tr.19-20]). Mặc dù thế giới có trên 2700 ngôn ngữ
(theo thống kê mới nhất của UNESCO), song cho đến nay chỉ có 60 ngôn ngữ đã
có hệ TN khoa học phát triển và cũng chỉ bao trùm được gần 300 lĩnh vực đối
tượng - chuyên môn. Việc nghiên cứu và xây dựng TN trong mỗi lĩnh vực có
được tích cực đẩy mạnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hiệu quả
của ngành khoa học có các khái niệm và tên gọi mới được tạo ra, sự tham gia của
các nhà khoa học vào quá trình này hay kết quả của hợp tác quốc tế.
Có thể nói, hiện nay có những ngôn ngữ đã phát triển TN ở mức độ nhất
10
định, như: Nga, Anh, Pháp, Đức, Italia. Trong những thập niên cuối thế kỉ XX,
việc nghiên cứu TN trong ngôn ngữ của một số nước đang phát triển cũng được
tăng cường.
1.1.1.2. Lịch sử nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Việt Nam
Mặc dù xuất hiện khá muộn, nhưng TN tiếng Việt đã trải qua những giai
đoạn phát triển khác nhau cùng với những lĩnh vực nghiên cứu về TN khác nhau.
Lần đầu tiên vấn đề xây dựng TN khoa học được xem xét một cách tương
đối hệ thống trong cuốn “Danh từ khoa học”của tác giả Hoàng Xuân Hãn xuất
bản lần đầu tiên năm 1942, tái bản năm 1946, 1948. Trong tác phẩm của mình,
ông đề ra cho TN 8 “tính cách” và nêu lên 3 phương sách đặt TN khoa học, đó
là: dùng tiếng thông thường; phiên âm; lấy gốc chữ nho (dẫn theo [89, tr.18]).
Vận dụng 3 phương sách đó, Hoàng Xuân Hãn đã xây dựng được cuốn TN đối
chiếu Pháp - Việt đầu tiên về các môn toán, lí, cơ, thiên văn, dùng cho bậc trung
học. Quan điểm của ông được đánh giá là “tuy có hạn chế về mặt lịch sử nhưng
đã ghi dấu ấn quan trọng trong việc biên soạn nghiên cứu TN tiếng Việt” [25].
Sau công trình nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn, đã có nhiều học giả bắt
đầu biên soạn những tập TN đối chiếu, tiêu biểu là Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn
Căn với tác phẩm Danh từ thực vật (Tủ sách nông học Việt Nam, Thuật Hóa,
1945); Đào Văn Tiến với tác phẩm Danh từ vạn vật học (Tổng Hội sinh viên cứu
quốc xuất bản sau Cách mạng tháng Tám, Hà Nội, 1945); hay tác phẩm: Danh từ
y học của Lê Khắc Thiên và Phạm Khắc Quảng, v.v...
Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ chính
thức của Nhà nước Việt Nam, được sử dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực xã
hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự, nghệ thuật... và được sử dụng làm
phương tiện giảng dạy duy nhất ở tất cả các cấp học. Nhờ vậy, TN khoa học
tiếng Việt cũng được phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là từ sau ngày hoà bình được
lập lại (1954), miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tạo ra bước phát
triển mới cho việc nghiên cứu và xây dựng TN khoa học tiếng Việt. Chính vì
vậy, ở giai đoạn này, vấn đề xây dựng và thống nhất TN thực sự trở thành mối
quan tâm lớn của các nhà khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, khi xây dựng TN, các
nhà khoa học có quan điểm hết sức khác nhau, không có đường hướng chung
12
thống nhất. Trước tình hình đó, năm 1960, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã ban
hành “Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên" và
TN, chuẩn hoá tiếng Việt cuối thập kỉ 60, đầu thập kỉ 70” [61]. Vào những năm
80 thế kỷ XX, để phục vụ cho cải cách giáo dục, Bộ Giáo dục đã ban hành “Qui
định về chính tả tiếng Việt” và “Qui định về TN tiếng Việt” (5/3/1984), trong đó
nêu ra những yêu cầu chuẩn đối với hai lĩnh vực kể trên. Để thực hiện những yêu
cầu chuẩn đó, Bộ đã thành lập ra hai Hội đồng cấp nhà nước: Hội đồng chuẩn
hoá chính tả tiếngViệt và Hội đồng chuẩn hoá TN. Về TN, các nhà khoa học đã
đưa ra những quy định cụ thể, như cấu tạo và sử dụng TN tiếng Việt, việc chuẩn
hoá, hệ thống hoá... trong việc biên soạn sách giáo khoa, biên soạn từ điển và
giảng dạy.
Tuy nhiên, cho đến thời kỳ này, việc nghiên cứu TN ở Việt Nam chủ yếu
nhằm giải quyết những vấn đề thực tế xã hội như: cách đặt TN, tiêu chuẩn của
TN, vay mượn TN nước ngoài như thế nào... với các công trình nghiên cứu tiêu
biểu của các tác giả như: Đỗ Hữu Châu [3], Hồng Dân [11], Hoàng Văn Hành
[24], Nguyễn Thiện Giáp [16], Lê Khả Kế [40], [41], [42], [43], Lưu Vân Lăng
[49], [50]; Lưu Vân Lăng & Như Ý [52] Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân,
Nguyễn Quang, Vương Toàn [63], Nguyễn Văn Tu [94],...
Từ đầu những năm 90 cho đến cuối thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu
về TN ở Việt Nam thường mang tính tổng kết chung việc nghiên cứu TN từ bối
cảnh xã hội. Năm 1992, Nguyễn Như Ý có bài “Vấn đề tiêu chuẩn TN trong một
số công trình xuất bản tại Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975” [101]. Năm 2000,
Nguyễn Văn Khang có cái nhìn rộng hơn để “Chuẩn hóa TN, nhìn lại từ góc độ
bối cảnh xã hội” và bàn về “Những vấn đề đặt ra đối với việc xử lí từ ngữ nước
ngoài trong tiếng Việt”[44], [45].
Tháng 12 năm 2008, Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam
cùng với hội ngôn ngữ học Việt Nam đã mở một cuộc hội thảo “TN tiếng Việt
trong đổi mới và hội nhập”. Báo cáo của nhiều nhà khoa học từ nhiều lĩnh vực
khác nhau hầu hết đã quan tâm đến vấn đề nhận diện thực trạng của TN tiếng
Việt từ đó định hướng xây dựng, chuẩn hóa TN tiếng Việt trong thời kỳ đổi mới.
Năm 2010, Nguyễn Đức Tồn công bố bài “Một số vấn đề về nghiên cứu,
14
đại (2000), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Vương Thị
15
Thu Minh, Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng
Việt (2005), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Nguyễn Thị
Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt, Luận án
tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội; Mai Thị Loan (2011), Đặc điểm
cấu tạo và ngữ nghĩa luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt (2011), Luận án tiến sĩ, Học
viện KHXH ; Nguyễn Thị Như Quỳnh, Vấn đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ
vật lí tiếng Việt (2012), Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên; Vũ Thị Thu
Huyền – Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng trong tiếng Việt (2013), Luận án
tiến sĩ, Học viện KHXH ; Ngô Phi Hùng– Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ
thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán- Cơ -Tin học,
Vật lý) (2013), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, TP Hồ Chí Minh; Lê
Thanh Hà- Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh (2014), Luận án tiến sĩ, Học
viện KHXH; Quách Thị Gấm - Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt (2015),
Luận án tiến sĩ, Học viện KHXH; Nguyễn Tiến Dũng, Nghiên cứu thuật ngữ
máy xây dựng (2016), Luận văn thạc sĩ, Học viện KHXH; v.v...
Nội dung của hầu hết những luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ nói trên
thường là nghiên cứu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ và các đặc trưng khu biệt
được chọn của khái niệm để đặt thuật ngữ trong một hệ thuật ngữ cụ thể, đồng
thời có nêu định hướng chuẩn hóa hệ thuật ngữ được khảo sát.
Cùng với sự phát triển của thuật ngữ học tiếng Việt về phương diện lí
thuyết, việc nghiên cứu ứng dụng (biên soạn từ điển thuật ngữ) cũng thu được
những thành tựu đáng kể. Một số lượng khá lớn từ điển thuật ngữ chuyên ngành
đã được ra đời trong những năm gần đây, đặc biệt là từ điển thuật ngữ thuộc
những ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghệ mới phát triển, như tin học,
điện tử viễn thông...
Hiện nay, nhu cầu chuẩn hóa TN đối với từng ngành khoa học nước ta tuy
một số TN cũ mất dần đi, một số TN mới được thay thế bằng những tên gọi
khác cho phù hợp với xu thế của thời đại như: thủ tướng, bộ trưởng, thứ
trưởng... Có thể thấy, sự vận động và phát triển của hệ TNHC đã phản ánh rõ
những thay đổi nhanh chóng và phát triển của xã hội cũng như sự phát triển
của lĩnh vực hành chính.
17
1.1.2.1.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ hành chính trên thế giới
Mặc dù hệ TNHC phát triển hết sức đa dạng và phong phú, nhưng theo
điều tra, khảo sát của chúng tôi, các công trình nghiên cứu TNHC trên thế giới
vẫn còn ít ỏi. Hiện chưa có công trình nào chuyên khảo cứu về phương diện lí
luận các TN trong lĩnh vực hành chính, mà mới chỉ có một số cuốn từ điển
TNHC, như:
1. Public Administration Dictionary của William Fox &Ivan H.
Meyer(1995), Juta & Co Ltd; the 3rd edition.(Từ điển hành chính công)
2. A Dictionary of Public Administration của S.R. Maheshwari (2009),
Orient Blackswan (Từ điển hành chính công)
3. Public Administration Dictionary,Vikram Singh(2012), Tata McGraw
Hill Education, (Từ điển hành chính công).
1.1.2.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ hành chính ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về TNHC cả về lí luận và ứng
dụng cũng còn rất khiêm tốn. Về mặt lí luận, cho đến nay, mới chỉ có một số bài
viết, chẳng hạn: Tìm hiểu về đặc điểm của TNHC trong văn bản quản lí nhà
nước của Nguyễn Thị Thu Vân và Nguyễn Thị Hà (2007) đăng trên Tạp chí
Ngôn ngữ và Đời sống, Số 4 (138)/ 2007. Trong bài này, Nguyễn Thị Thu Vân
và Nguyễn Thị Hà (2007) cho rằng văn bản quản lí nhà nước là công cụ pháp lí