VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ
THÔNG TIN - THƯ VIỆN ANH - VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2018
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 1: GS. TS. Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS. TS. Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS. TS. Phạm Văn Tình
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa
học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội.
Vào hồi… giờ….ngày….tháng … năm …..
Nam; 2. Xác lập cơ sở lý luận cho luận án dựa trên các quan điểm lý luận về thuật
ngữ và thuật ngữ TTTV Anh - Việt; 3. Miêu tả, phân tích các đặc điểm thuật ngữ
TTTV Anh - Việt về mô hình cấu tạo, ngữ nghĩa và đặc điểm định danh; 4. Phân tích,
đối chiếu thuật ngữ TTTVAnh – Việt về các phương diện cấu tạo, đặc điểm ngữ
nghĩa và phương thức định danh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ
thuật ngữ trong cả hai ngôn ngữ;
3. Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt
trên hai loại đơn vị từ vựng là từ và ngữ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt
trên hai phương diện: đặc điểm cấu tạo và đặc điểm, phương thức định danh để tìm ra
những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này.
3.3. Ngữ liệu nghiên cứu
1
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ thu thập từ các cuốn từ điển
song ngữ hoặc đa ngữ là từ điển giải thích Anh – Việt, Việt – Anh, Việt - Anh – Pháp
Anh – Anh. Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ những giáo trình chuyên
ngành TTTV, các tài liệu, tạp chí, bài báo chuyên đề chuyên ngành TTTV bằng tiếng
Anh và tiếng Việt..
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận án áp dụng tổng hợp các phương pháp
sau: 1. Phương pháp so sánh đối chiếu, 2..Phương pháp miêu tả, 3.Phương pháp phân
tích theo thành tố cấu tạo.
Ngoài ra, để thực hiện luận án một cách khoa học và chính xác luận án còn áp
dụng thủ pháp thống kê từ vựng kết hợp với phân tích, tổng hợp mô hình hóa, lập
bảng biểu để đưa ra kết quả phân tích nghiên cứu.
Nhà khoa học người Áo E. Wuster (1898 - 1977) được coi là người đặt nền
móng cho sự phát triển của ngành thuật ngữ học. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm
1985 là giai đoạn đánh dấu sự phát triển rực rỡ của thuật ngữ học với các công trình
nghiên cứu về thuật ngữ của nhà khoa học tên tuổi của Xô Viết như D.S Lotte,
A.A. Reorfomaxki, T. Kogotkova, A.S. Gerd, …
Giai đoạn năm 1985 - cuối thế kỷ 20, thuật ngữ học đã phát triển rộng hơn với
những đóng góp đáng kể của các nhà thuật ngữ học Âu – Mỹ như Brown R.W, Sager
J.C, Cabré T.W. Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức
năng của chúng, các nghiên cứu giai đoạn này theo hướng tới tìm và xác định các tiêu
chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ và công tác chuẩn hóa thuật ngữ.
Bước sang thế kỷ 21,trong xu hướng toàn cầu hoá, hợp tác quốc tế trong nghiên
cứu về thuật ngữ được mở rộng, khởi đầu cho những lý thuyết mới về thuật ngữ học.
Đại diện cho trường phái nghiên cứu mới về thuật ngữ học tiêu biểu có Cabré T.W.,
Antia, Temmerman…
Lý thuyết mới có tên gọi là thuật ngữ học theo đường hướng giao tiếp
(Communicative theory of terminology) đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới. Các
nghiên cứu về thuật ngữ trong giai đoạn này được tiến hành theo ba hướng tiếp cận
cơ bản: thuật ngữ học theo hướng ngôn ngữ học (lingusitic approach); thuật ngữ học
theo hướng dịch thuật (translation-oriented approach) và thuật ngữ học theo hướng kế
hoạch hóa ngôn ngữ (language planning).
1.1.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học tiếng Việt bắt đầu hình thành đầu thế kỷ XX.
Theo tác giả Hà Quang Năng, lịch sử tiếng Việt hiện đại trải qua bốn dấu mốc lớn, đó
là: (i) Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ; (ii) Sau cách mạng
tháng 8; (iii) Những năm 60 của thế kỉ 20 và sau năm 1985. Những giai đoạn này đã
ghi nhật sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng
của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt.
Với sự ra đời của cuốn “Danh từ khoa học” (1942), Hoàng Xuân Hãn có thể
coi là người học giả đầu tiên đặt vấn đề xem xét các thuật ngữ khoa học kỹ thuật một
cách có hệ thống khi ông nêu lên 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa
một xu hướng nghiên cứu mới. Các hướng nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trên
các phương diện: Cấu tạo thuật ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ và một số công trình lý luận
về thuật ngữ chuyên ngành như thuật ngữ doanh nghiệp; về từ vựng và hiện tượng
ngữ pháp trong văn bản chuyên môn v.v…
Đặc biệt là có những công trình luận án đã nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ trong
tiếng Việt với thuật ngữ trong các ngôn ngữ khác dưới góc độ ngôn ngữ học và tương
đương dịch thuật. Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu giữa các hệ thuật ngữ chuyên ngành,
các tác giả hướng tới việc xác lập cơ sở xây dựng thuật ngữ mới, chuẩn hóa các hệ
thuật ngữ chưa đạt, làm giàu thêm thuật ngữ tiếng Việt.
1.1.3. Tình hinh nghiên cứu thuật ngữ TTTV
1.1.3.1. Tình hinh nghiên cứu thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu những năm 1960 khi
việc sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ khoa học quốc tế tăng nhanh. Là một bộ phận
của vốn từ của ngôn ngữ Anh, việc hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh cũng có điều kiện
phát triển. Tuy nhiên, có thể nói hầu hết các công trình nghiên cứu về khoa học
TTTV tập trung vào các vấn đề như lịch sử hình thành và phát triển, cơ sở lý thuyết
và ứng dụng trong hoạt động của ngành TTTV, công tác chuyên môn- nghiệp vụ…
Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu
sâu về thuật ngữ TTTV dưới góc độ ngôn ngữ học hay có sự đánh giá về tính chính
xác của thuật ngữ, vấn đề đặt thuật ngữ hay phiên chuyển nó từ tiếng Anh sang các
ngôn ngữ khác hoặc ngược lại v.v… Mặc dù vậy, những kết quả trong công tác biên
soạn từ điển thuật ngữ tiếng Anh lại rất đáng ghi nhận. Nhiều từ điển chuyên ngành,
từ điển giải thích chuyên ngành TTTV đã ra đời. Điển hình là cuốn “The ALA
4
Glossary of Library and Information Science” , 1996 - Michael Levine-Clark và Toni
M. Carter, NXB Galen Press, Ltd;
1.1.3.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ TTTV tiếng Việt
Nếu như trong tiếng Anh chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu
tượng. Trong quá trình tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, con người đã phát hiện và
tổng hợp được những đặc trưng cơ bản của chúng. Khi con người định danh những sự
vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, chỉ những đặc trưng bản chất, có ý nghĩa khu
biệt các sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác được lựa chọn.
1.2.5.2. Nguyên lý định danh
5
Định danh trong ngôn ngữ trước hết là quá trình tự tạo từ ngữ trong một ngôn
ngữ để gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm tồn tại trong thế giới tự nhiên, trong xã
hội, phân biệt chúng với nhau nhờ cái vỏ âm thanh của ngôn ngữ. Và “quá trình định
danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước: quy loại khái niệm và chọn
đặc trưng khu biệt”
1.2.6. Đơn vị cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt
Chúng tôi gọi đơn vị cơ sở để cấu tạo thuật ngữ TTTV là thuật tố. Đây là thành
tố trực tiếp cấu tạo cuối cùng của một thuật ngữ. Mỗi thuật tố - yếu tố cấu tạo thuật
ngữ biểu hiện một khái niệm/ đối tượng hoàn chỉnh hoặc có biểu hiện khái niệm bộ
phận hay đặc trưng của khái niệm hay đối tượng được thuật ngữ định danh trong một
lĩnh vực khoa học hay chuyên môn. Chúng tôi hiểu rằng mỗi thuật tố là một thực từ
dùng để biểu đạt khái niệm chuyên môn, đồng thời là đơn vị tham gia vào cấu tạo các
thuật ngữ khác nhau trong một lĩnh vực khoa học, chuyên môn.
1.3. Lý thuyết chung về ngôn ngữ học đối chiếu
1.3.1. Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu là sự nghiên cứu liên ngôn ngữ (interlanguage study).
Ngôn ngữ học đối chiếu không chỉ đơn thuần là ngôn ngữ học ứng dụng mà thực chất
có thể nói là thuộc cả hai lĩnh vực: ngôn ngữ học lý thuyết (pure/theoretical
linguistics) và ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics).
1.3.2. Xác định các nguyên tắc đối chiếu
Luận án xác định bốn nguyên tắc cơ bản làm cơ sở đối chiếu trong luận án là:
2.1.1.1. Thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh là từ
Tiếng Anh là loại ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết. Mỗi từ trong tiếng Anh được
tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất
định. Theo Bloomfield, “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có
giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp”. Như vậy cũng có thể hiểu hình vị là đơn vị
cuối cùng khi phân tích thành tố cấu tạo nên thuật ngữ TTTV là từ trong tiếng Anh.
Thuật ngữ TTTV Tiếng Anh (TA) là từ bao gồm ba loại là từ đơn, từ ghép và
từ phái sinh. Xét trên quan điểm của Bloomfield thì từ đơn trong tiếng Anh chính là
các hình vị độc lập, mỗi từ là một hình vị, ví dụ: card (thẻ), entry (đề mục), subject
(chủ đề), v.v… TTTV TA chủ yếu được tạo lập theo hai phương thức
(i). Phương thức phụ gia
Phương thức phụ gia là phương thức kết hợp một căn tố với phụ tố (tiền tố prefix, hậu tố - sufix, trung tố -infix) để tạo ra từ mới. Phụ tố có chức năng làm thành
tố cấu tạo nên thuật ngữ là từ phái sinh và mỗi phụ tố khi tham gia cấu tạo từ đều có
một ý nghĩa riêng và cách kết hợp ổn định. Theo ngữ liệu thống kê, thuật ngữ TTTV
là từ phái sinh chủ yếu tạo lập từ các tiền tố và hậu tố, trong đó hậu tố có tần suất sử
dụng cao hơn.
(ii). Phương thức ghép
Ghép là phương thức kết hợp hai hay nhiều hình vị với nhau theo một trật tự
nhất định để tạo ra từ mới – từ ghép (chủ yếu là kết hợp các căn tố) Đây là phương
thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ. Ví dụ: copyright: bản quyền;
Editor-in-chief: tổng biên tập, content note: chú giải nội dung.
Bên cạnh đó, phương thức chuyển loại cũng được sử dụng để tạo thuật ngữ,
TTTV TA
2.1.1.2. Thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt là từ
Chúng tôi khảo sát thuật ngữ TTTV tiếng Việt theo hai kiểu cấu tạo từ là từ
đơn và từ ghép. Trong tiếng Việt, từ đơn là từ “gồm những tiếng vừa có nghĩa, vừa
độc lập. Theo Nguyễn Tài Cẩn “từ ghép là một đơn vị phối hợp, có tổ chức nội tại:
trong từ ghép bao giờ cũng có thể tìm ra ít nhất là hai tiếng được kết hợp với nhau
7
Điểm khác biệt về phương thức cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt đó là, ngoài
phương thức ghép, trong tiếng Anh có sử dụng phương thức phụ gia (thêm phụ tố)
nhưng trong tiếng Việt lại không có phương thức này.
2.2. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt
2.2.1. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt xét về số lượng
thuật tố
Bảng 2.1. Số lượng thuật tố cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Số thuật tố
1 thuật tố
2 thuật tố
Tiếng Anh
Số thuật ngữ
Tỷ lệ %
294
19.60
938
62.53
8
3 thuật tố
4 thuật tố
5 thuật tố
Tổng
240
28
0
1500
21,4
4 thuật tố
102
6,8
5 thuật tố
12
0,8
Tổng
1500
100
Dựa trên các số liệu thống kê trong bảng 2.1 và 2.1, có thể thấy điểm chung hai
hệ thuật ngữ này đó là thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt đều có số thuật ngữ
có cấu tạo 2 thuật tố chiếm đa số. Tuy nhiên, xét về số lương thuật tố, thuật ngữ
TTTV tiếng Anh có cấu tạo ngắn gọn hơn thuật ngữ TTTV tiếng Việt. Thuật ngữ
TTTV tiếng Anh có độ dài tối đa là 4 thuật ngữ, trong khi ở tiếng Việt, độ dài tối đa
của một thuật ngữ là 5 thuật tố.
2.2.2. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt về đặc điểm từ loại
2.2.2.1. Thuật ngữ TTTV là từ
Thuật ngữ TTTV là từ trong tiếng Anh gồm ba kiểu đơn vị từ là từ đơn, từ ghép
và từ phái sinh. Thuật ngữ TTTV TA là từ ghép được tạo lập theo cách thức kết hợp
cơ bản sau:
Bảng 2.3. Phương thức kết hợp thuật ngữ thông tin - thư viện là từ ghép
STT
tiền tố + hậu tố
Từ ghép
Từ loại
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
Tính từ
Số lượng
81
41
125
3
20
12
37
5
1,33
0,33
1,67
0,00
Tổng
294
19,60
Bảng số liệu trên cho thấy, thuật ngữ TTTV TA từ đơn chiếm 8,33% và từ phái
sinh chiếm số lượng tương đương trong đó từ phái sinh hậu tố chiếm số lượng nhiều
nhất 6.07%. Thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh 1 thuật tố là từ ghép chiếm số
lượng ít nhất 1,67%.
Thuật ngữ TTTV TV 1 thuật tố được tổng hợp theo bảng dưới đây:
Bảng 2.5. Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV tiếng Việt 1 thuật tố
Thuật ngữ
Từ đơn
Từ ghép chính phụ
Từ ghép đẳng lập
Từ loại
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
Tính từ
Danh từ
Động từ
0,93
2,20
0,07
15,67
(1)Thuật ngữ TTTV hai thuật tố
a. Thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Bảng 2.6. Thống kê từ loại của thuật ngữ TTTV tiếng Anh 2 thuật tố
Thuật ngữ
Từ loại
Số lượng
Tỷ lệ %
Danh từ + Danh từ
385
25,67
Tính từ + Danh từ
412
27,47
Danh ngữ Quá khứ phân từ + Danh từ
78
5,20
927
61,80
Hiện tại phân từ + Danh từ
26
1,73
Danh từ + Giới từ + Danh từ
26
1,73
Ngữ chính phụ
Động ngữ
43
2.87
758
50,53
Tính ngữ
0
0
Tổng
840
56
(2)Thuật ngữ TTTV ba thuật tố
Bảng 2.8. Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV ba thuật tố
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Thuật ngữ
Từ loại
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Danh ngữ
235
15.67
305
20.33
Ngữ chính phụ
Động ngữ
5
0.33
16
1.07
(4)Thuật ngữ TTTV năm thuật tố
Qua khảo sát, chúng tôi thấy hầu như không có thuật ngữ TTTV là ngữ có năm
thuật tố trong tiếng Anh.
Bảng 2.10. Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV năm thuật tố
Thuật ngữ
Từ loại
Ngữ chính phụ
Danh ngữ
Động ngữ
Tiếng Anh
Số lượng Tỷ lệ %
0
0
0
0,00
Tiếng Việt
Số lượng
Tỷ lệ %
8
0,53
0
0,00
Tổng
12
Có 147/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Anh cấu tạo theo mô hình 3, chiếm 9,8%.
Trong đó T3 là những thuật tố chính, chỉ khái niệm loại, mang tính khái quát nhất. T2
kết hợp với T3 tạo thành cụm từ chính phụ, trong đó T2 là thành tố phụ định ngữ, cụ
thể hóa ý nghĩa cho T3. Sau đó T1 đóng vai trò là thuật tố phụ định ngữ cho cả cụm
từ chính phụ do T2 kết hợp với T3 tạo thành. Ví dụ: international copyright law –
“Luật bản quyền quốc tế”
(4) Mô hình cấu tạo 4
Có 59/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Anh được cấu tạo theo mô hình này, chiếm
3,93%. Theo đó, T3 là thuật tố mang ý nghĩa khái quát nhất, là các thuật tố chỉ khái
niệm loại. Tổ hợp T1 và T2 được thêm vào trước T3, biểu hiện các đặc trưng bản chất
được lựa chọn làm cơ sở để định danh khái niệm mà thuật ngữ biểu hiện. Ví dụ:
information management system – “hệ thống quản trị thông tin”.
(5) Mô hình cấu tạo 5
Chúng tôi tìm được 34/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Anh được cấu tạo theo mô
hình 5, chiếm 2,27%. Trong đó, T1 là thành tố chính, T2 đóng vai trò là thành tố phụ
cho T3 và tổ hợp từ chính phụ T2 và T3 là thành tố phụ cho T1. Ví dụ: coodinator
(of) / electronic/ resources – “Điều phối viên nguồn tài liệu điện tử”
2.3.1.3. Mô hình cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Anh 4 thuật tố
(6) Mô hình cấu tạo 6
Có 23/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Anh có cấu tạo theo mô hình này, chiếm
1,53%. Trong đó, T4 là thuật tố chỉ khái niệm loại, mang nghĩa khái quát nhất. T3
đứng trước và bổ nghĩa trực tiếp cho T4. Tổ hợp T1 và T2 kết hợp với nhau theo
quan hệ chính phụ, trong đó thành tố phụ T1 đứng trước thành tố chính T2. Sau khi
T1 kết hợp với T2, T3 kết hợp với T4, tổ hợp T1 và T2 kết hợp và phụ nghĩa cho tổ
`Có 125/1500 Thuật ngữ TTTV tiếng Việt được tạo thành từ mô hình 10, chiếm
8,33%. Trong mô hình 10, T1 là thành phần chính, mang tính khái quát nhất để xác
định rõ khái niệm loại mà thuật ngữ biểu thị. T2 được kết hợp với T1 theo quan hệ
chính phụ và T3 là có vai trò làm thành tố phụ cho tổ hợp từ được kết hợp từ T1 và
T2. Ví dụ: cán bộ/ thư viện/ chuyên ngành.
(4) Mô hình cấu tạo 11
14
Có 168/1500 thuật ngữ cấu tạo theo mô hình 11, chiếm 11,20%. Trong mô hình
này T1 là thuật tố chính chỉ khái niệm loại. Tổ hợp T2 và T3 là thành phần phụ đứng
sau thuật tố chính, làm rõ đặc điểm, chức năng cho thuật tố chính. Thuật tố phụ T2 và
T3 được ghép theo quan hệ chính phụ, trong đó T3 có vai trò làm thành tố phụ cho
T2. Ví dụ: hệ thống/ thư viện/ tích hợp
(5) Mô hình cấu tạo 12
Có 28/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Việt có cấu tạo theo mô hình 12, chiếm
1,87%. Trong mô hình 12, T2 là thuật tố chính chỉ khái niệm loại. T1 đứng trước T2,
có chức năng phụ cho T2. T3 đứng sau T1 và T2 đóng vai trò là thành phần phụ cho
tổ hợp thuật ngữ T1 và T2. Ví dụ: phó/ giám đốc/ thư viện
2.3.2.3. Thuật ngữ TTTV tiếng Việt gồm bốn thuật tố
(6) Mô hình cấu tạo 13
Có 30/1500 thuật ngữ TTTV tiếng Việt được cấu tạo theo mô hình 13, chiếm
2,00%. Theo mô hình trên, T1 là những thuật tố chính chỉ khái niệm loại, mang nghĩa
khái quát nhất. T2 được kết hợp với T3 theo quan hệ chính phụ, trong đó T3 là thành
tố chính và T2 có chức năng phụ cho T3. Tổ hợp thuật tố T2 và T3 tiếp tục kết hợp
với T1, trong đó, T2 và T3 là thành phần phụ định ngữ còn T1 là thành phần chính.
T4 đứng sau là thành phần cuối cùng, đóng vai trò phụ cho tổ hợp thuật tố T1, T2 và
Mô
hình
STT
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
Thuật ngữ TTTV có 1
294
19,60
235
15,67
1 thuật tố
Thuật ngữ TTTV có từ 2
1206
80,40
1265
84,33
2
thuật tố trở lên
847
56,47
0
0
Mô hình 1
91
6,07
0
0
Mô hình 2
147
9,80
0
55,80
Mô hình 9
0
0
125
8,33
Mô hình 10
0
0
168
11,20
Mô hình 11
0
0
28
1,87
Mô hình 12
16
0
0
0
0
0
0
0
0
đồng với tỉ lệ mỗi từ loại xấp xỉ bằng nhau là tiếng Anh 93,27% và tiếng Việt 91,6%.
Về phương thức cấu tạo, các thuật ngữ TTTV tiếng Anh có hình thức cấu tạo
là từ phái sinh, từ ghép và ngữ (cụm từ cố định). Thuật ngữ TTTV tiếng Việt có hình
thức cấu tạo có thể là từ (từ đơn hoặc từ ghép) và ngữ (cụm từ cố định định danh).
Thuật ngữ TTTV là từ viết tắt trong tiếng Anh và tiếng Việt không nhiều, nên luận án
không xem xét.
Về mô hình cấu tạo thuật ngữ, hệ thuật ngữ TTTV có thể được cấu tạo theo
16 mô hình. Trong đó hệ TN TTTV tiếng Anh có 7 mô hình cấu tạo còn thuật ngữ
TTTV tiếng Việt có 9 mô hình cấu tạo.
CHƯƠNG 3
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH
THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN ANH – VIỆT
3.1.Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ TTTV Anh – Việt
3.1.1. Đối chiếu đặc điểm định danh của thuật ngữ TTTV xét theo kiểu ngữ nghĩa
của thuật ngữ.
Kết quả khảo sát tư liệu về thuật ngữ TTTV trong cả hai ngôn ngữ, chúng tôi
nhận thấy số lượng thuật ngữ TTTV là tên gọi trực tiếp chiếm đa số. Trong đó thuật
ngữ TTTV tiếng Anh có 1265 đơn vị thuật ngữ, chiếm 84,33% và thuật ngữ TTTV
tiếng Anh là tên gọi gián tiếp là 235 đơn vị thuật ngữ, chiếm 15,67%. Về hệ thuật ngữ
TTTV tiếng Việt, thuật ngữ là tên gọi trực tiếp có 1179 đơn vị thuật ngữ, chiếm
78,6% và tên gọi gián tiếp là 321 thuật ngữ, chiếm 21,4%.
3.1.2. Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ TTTV xét theo cách thức biểu thị
Xét về cách thức biểu thị, hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt có hai
loại: Loại thứ nhất có hình thức ngắn gọn, bao gồm một yếu tố cấu tạo (thuật ngữ có
cấu tạo chỉ gồm một thuật tố). Các thuật ngữ này dùng để dịnh danh các sự vật hiện
17
tượng mang tính chất cơ bản của ngành thông tin - thư viện. Chúng tôi gọi đây là đơn
vị định danh gốc, ví dụ: báo, giấy, bìa, thẻ, phim, báo chí, ấn phẩm, chuyên khảo…,
46
12.07
Phạm vi, mức độ
37
9.39
42
11.02
Đặc điểm/tính chất
25
6.35
21
5.51
1
Sản phẩm thư viện
Thời gian, tần suất
18
4.57
14
3.67
Lĩnh vực chuyên môn
15
3.81
11
2.89
Tổng
167
42.39 158 41.47
Thể loại
46
11.68
Số lượng
12
3.05
10
2.62
Lĩnh vực chuyên môn
10
2.54
8
2.1
Tổng
227
57.61 223 58.53
TỔNG CỘNG
394
100
381
100
3.2.2. Mô hình định danh thuật ngữ chỉ dịch vụ thông tin - thư viện
Bảng 3.2 – Mô hình định danh thuật ngữ chỉ dịch vụ TTTV
18
trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
STT
Mô hình
Đặc trưng định danh
Số
10
4.29
8
3.69
Lĩnh vực chuyên môn
8
3.43
4
1.84
Tổng
83
35.62
81
37.33
Phạm vi/Mức độ
20
8.58
21
9.68
Hình thức
21
9.01
20
9.22
Tính chất
15
6.44
11
5.07
Dịch vụ khai thác
17
7.83
Tính chất
18
7.73
15
6.91
Cơ sở vật chất
3
Chức năng
8
3.43
10
4.61
dịch vụ
Đối tượng gắn kết
10
4.29
8
3.69
Công cụ
9
3.86
5
2.3
Tổng
70
30.04
67
30.88
9.09
thông tin
Đối tượng gắn kết
7
2.21
12
3.64
19
2
3
4
Lĩnh vực chuyên môn
Tổng
Phạm vi
Mục đích
Sản phẩm tạo ra
Khai thác,
lưu trữ và quản lý Thời gian
tài liệu
Tính chất
Cách thức
Tổng
Phạm vi
Tính chất
Cách thức
20
30
26
18
94
317
7.89
24.29
7.26
2.52
2.52
1.89
3.15
2.84
20.19
5.05
5.68
4.42
5.05
5.68
25.87
6.31
9.46
8.2
5.68
29.65
100
15
6.36
5.15
5.15
5.45
4.55
26.67
3.64
9.7
6.36
6.06
25.76
100
3.2.4. Mô hình định danh thuật ngữ chỉ chủ thể tham gia hoạt động thông tin –
thư viện
Các số liệu thu thập được chúng tôi tổng hợp theo bảng dưới đây:
Bảng 3.4 – Mô hình định danh thuật ngữ chỉ chủ thể tham gia
hoạt động TTTV tiếng Việt
STT
1
Mô hình
Cơ quan - tổ chức
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Đặc trưng định danh
Số
16
6.11
7
2.79
20
Tổng
100 38.17
89
35.46
Chức năng
18
6.87
24
9.56
Tính chất
12
4.58
15
5.98
Phòng/ban chức năng,
2
Phạm vi
10
3.82
12
4.78
bộ phận nghiệp vụ
Đối tượng gắn kết
3
Chức danh
24
9.16
15
5.98
tham gia hoạt động
Địa điểm
9
3.44
7
2.79
Đối tượng gắn kết
21
8.02
9
3.59
Lĩnh vực chuyên môn
12
4.58
6
2.39
Tổng
113 43.13 101 40.24
Tổng cộng
262
100
251
100
3.3. Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ TTTV Anh – Việt
đặc trưng khác của một sự vật hiện tượng hoặc có thể chọn những đặc trưng không cơ
bản nhưng có giá trị khu biệt cao của sự vật, hiện tượng để làm cơ sở định danh nếu
những đối tượng được định danh có chung những thuộc tính cơ bản nào đó.
2. Về phương thức định danh, thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt có thể
chia làm hai loại: các thuật ngữ là tên gọi trực tiếp và những thuật ngữ là tên gọi gián
tiếp (kết quả của quá trình thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường) của khái niệm, đối
tượng trong lĩnh vực TTTV.
KẾT LUẬN
Luận án so sánh đối chiếu hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong hai ngôn
ngữ Anh và Việt trên bình diện cấu tạo và định danh nhằm tìm hiểu những nét tương
đồng và khác biệt của hệ thuật ngữ TTTV trong hai ngôn ngữ này, góp phần xây
dựng lí thuyết về thuật ngữ học, xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ khoa học tiếng
Việt nói chung và thuật ngữ TTTV nói riêng riêng đáp ứng công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án góp
phần nâng cao hiệu quả việc dạy - học chuyên ngành thông tin – thư viện cũng như
thúc đẩy sự phát triển của khoa học thông tin – thư viện Việt Nam.
1. Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong
tiếng Anh và tiếng Việt, luận án quan niệm thuật ngữ là "những từ, cụm từ, biểu hiện
các khái niệm, sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực khoa học nhất định". Thuật ngữ
thông tin – thư viện được hiểu là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các
loại khái niệm, các đối tượng thuộc lĩnh vực thông tin – thư viện gồm có các hoạt
động thông tin - thư viện cùng với các chủ thể hoạt động, các tổ chức và các sản
phẩm và dịch vụ liên quan.
2. Về đặc điểm cấu tạo hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh trong sự
đối chiếu so sánh với các thuật ngữ tương đương của chúng trong tiếng Việt, có thể
rút ra một số kết luận sau đây:
2.1. Về số lượng các thành tố cấu tạo chung, thuật ngữ TTTV tiếng Anh có số
thuật tố cấu tạo ít, do đó ngắn gọn và chặt chẽ hơn còn thuật ngữ TTTV tiếng Việt
dài hơn và cấu trúc có phần lỏng lẻo. Do đo, có thể thấy thuật ngữ TTTV tiếng Anh
mang tính định danh rõ ràng hơn còn thuật ngữ TTTV tiếng Việt mang tính chất
mà thuật ngữ đó biểu thị. Trong tiếng Việt, mô hình cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư
viện chủ yếu có cấu tạo là từ ghép chính phụ hoặc ngữ chính phụ, do vậy thuật tố thứ
nhất là thuật tố khái quát nhất chỉ khái niệm loại, các thuật tố tiếp theo đóng vai trò
phụ cho thuật tố thứ nhất để cụ thể hóa dần các đặc trưng về đặc điểm, tính chất,
thuộc tính của khái niệm loại được biểu thị.
4. Về đặc điểm định danh, thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và tiếng
Việt có có thể chia làm hai loại: các thuật ngữ là tên gọi trực tiếp và những thuật ngữ
là tên gọi gián tiếp (kết quả của quá trình thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường) của
khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực thông tin – thư viện.
Về mặt nội dung được biểu đạt, thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và
tiếng Việt có hai loại. Loại thứ nhất có hình thức ngắn gọn là từ, đó là các thuật ngữ
có 1 thuật tố. Các thuật ngữ này dùng để dịnh danh các sự vật hiện tượng mang tính
chất cơ bản của ngành thông tin – thư viện. Loại thứ hai là, thuật ngữ được hình
23