VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ANH-VIỆT
(QUA FAMILY LAW ACT CỦA ANH VÀ
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH ANH-VIỆT
(QUA FAMILY LAW ACT CỦA ANH VÀ
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số
: 9222024
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
8
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và tại Việt Nam
8
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ hôn nhân và gia đình
15
1.2. Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án
16
1.2.1. Một số vấn đề lý luận về thuật ngữ
16
1.2.2. Một số vấn đề về lý thuyết định danh ngôn ngữ
30
1.2.3. Một số vấn đề lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu
33
45
tiếng Việt
2.4.1. Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt xét từ
46
số lượng yếu tố thuật ngữ
2.4.2. Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt xét từ
49
phương thức cấu tạo
2.4.3. Thuật ngữ hôn nhân gia đình tiếng Anh, tiếng Việt xét từ phương diện từ loại
53
2.4.4. Mô hình cấu tạo thuật ngữ hôn nhân gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
56
2.5. Một số điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo giữa thuật ngữ hôn 65
nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt
2.5.1. Về số lượng yếu tố thuật ngữ
65
2.5.2. Về phương thức cấu tạo
74
3.1.3. Vay mượn thuật ngữ nước ngoài
75
3.2. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh
78
và tiếng Việt
3.2.1. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh
78
3.2.2. Con đường hình thành thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
80
3.3. Các tiểu hệ thống và các phạm trù ngữ nghĩa của thuật ngữ hôn
81
nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt trong Family Law Act
và Luật Hôn nhân và Gia đình
3.3.1. Các tiểu hệ thống của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và
82
tiếng Việt
3.5.3. Về đặc trưng định danh
100
3.6. Tiểu kết chương 3
102
Chương 4: CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
103
ANH - VIỆT VÀ VIỆC CHUẨN HÓA THUẬT NGỮ HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH TIẾNG VIỆT
4.1. Một số vấn đề lý thuyết về dịch thuật và dịch thuật ngữ
103
4.1.1. Dịch thuật
103
4.1.2. Dịch thuật ngữ
109
4.1.3. Mối quan hệ giữa nghiên cứu đối chiếu và dịch thuật
tiếng Anh sang tiếng Việt
4.3. Vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
131
4.3.1. Khái niệm chuẩn và chuẩn hóa
132
4.3.2. Chuẩn hóa thuật ngữ
134
4.3.3. Thực trạng thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt chưa đạt chuẩn
136
4.3.4. Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt
137
chưa đạt chuẩn
4.4 Tiểu kết chương 4
141
KẾT LUẬN
143
49
Bảng 2.6: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ phái sinh xét từ phương thức cấu tạo 50
Bảng 2.7: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ ghép xét từ phương thức cấu tạo 50
Bảng 2.8: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là ngữ xét từ phương thức cấu tạo
51
Bảng 2.9: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ xét từ phương thức cấu tạo
52
Bảng 2.10: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ ghép xét từ phương thức cấu tạo 52
Bảng 2.11: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là ngữ xét từ phương thức cấu tạo
52
Bảng 2.12: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là từ xét từ phương diện từ loại
53
Bảng 2.13: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là ngữ xét từ phương diện từ loại
54
Bảng 2.14: Thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt là từ xét từ phương diện từ loại
55
Bảng 4.4. Các trường hợp tương đương nhiều thuật ngữ tiếng Anh/
121
nhiều tương dịch thuật tiếng Việt
Bảng 4.5. Các tương đương dịch thuật của thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh xét
từ phương diện nội dung
121
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với tiến trình toàn cầu hóa ở khắp nơi trên thế giới, Việt
Nam đã và đang nỗ lực để hòa nhập một cách sâu rộng vào cộng đồng quốc tế
nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước. Trước yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là sự phát triển như vũ
bão của công nghệ, khoa học - kỹ thuật, như bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế
giới, tiếng Việt cũng có sự phát triển mạnh mẽ, trước hết là trong lĩnh vực thuật
ngữ khoa học để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Chính vì vậy, trong cuốn sách
Thuật ngữ học - những vấn đề lí luận và thực tiễn do Hà Quang Năng làm chủ
biên xuất bản năm 2012 các tác giả đã nhấn mạnh “xây dựng thuật ngữ khoa
học là công việc có tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộc phát triển khoa học
và kỹ thuật của đất nước, có tác động to lớn đến sự phát triển nền giáo dục của
quốc gia.” [41,tr.7]. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về thuật ngữ đã lôi cuốn được sự
chú ý của nhiều nhà khoa học ở trong nước và thế giới.
So với hệ thống pháp luật của nhiều nước khác trên thế giới, có thể nói
rằng hệ thống pháp luật của Việt Nam còn khá non trẻ. Để đẩy nhanh quá trình
pháp lý trong tiếng Việt chưa có tính hệ thống cao, còn mang sắc thái miêu tả
chứ chưa có tính chất định danh; một số thuật ngữ có trong tiếng Anh và một
số ngôn ngữ khác nhưng chưa có trong tiếng Việt.
Vì vậy, việc nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm của hệ thuật ngữ hôn
nhân gia đình trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách bài bản nhằm chuyển
dịch một cách chính xác các thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang
tiếng Việt, chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ trong luật và các văn bản liên quan
để góp phần hoàn thiện hệ thống luật nói chung và luật hôn nhân gia đình nói
riêng đã trở nên hết sức cấp thiết. Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này vẫn
chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu thuật ngữ hôn nhân và gia đình
Anh-Việt (qua Family Law Act của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của
Việt Nam)”, chúng tôi muốn góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết thực tế đặt ra.
2
2. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ hôn nhân và gia đình
tiếng Anh và tiếng Việt thu thập trong các văn bản Family Law Act (Đạo luật
gia đình) của Anh và các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam
cùng các văn bản, tài liệu liên quan trong tiếng Anh và tiếng Việt.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm về cấu tạo và ngữ
nghĩa của thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt, thực trạng
chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
2.3. Tư liệu nghiên cứu
1190 thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và 1175 thuật ngữ hôn
nhân và gia đình tiếng Việt được thu thập trong các văn bản Family Law Act
của Anh và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam, cụ thể như sau:
một số hạn chế: tồn tại nhiều tương đương dịch thuật đồng nghĩa, một số tương
đương dịch thuật mang tính miêu tả, dài dòng.
2. Các đề xuất mang tính đường hướng đã được đưa ra như: tuân thủ
nghiêm túc các yêu cầu, nguyên lý, nguyên tắc và phương pháp và phương thức
dịch thuật và dịch thuật ngữ; thành thạo hai ngôn ngữ; kiến thức về tập quán
HNGĐ ở Anh và Việt Nam, về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật HNGĐ
nói riêng; xây dựng từ điển Thuật ngữ HNGĐ Anh - Việt và từ điển Thuật ngữ
141
Luật HNGĐ Anh - Việt; thường xuyên cập nhật các thuật ngữ HNGĐ mới trong
tiếng Anh.
3. Một số thủ thuật và đề xuất cụ thể giúp nâng cao chất lượng dịch
thuật ngữ HNGĐ Anh - Việt là: lựa chọn kỹ càng từ ngữ tiếng Việt, căn cứ
vào nội dung thuật ngữ để lựa chọn tương đương phù hợp nhất trong số nhiều
tương đương và để tạo ra các vỏ ngữ âm cho các thuật ngữ không có tương
đương trong tiếng Việt; tránh sử dụng các từ địa phương, sử dụng yếu tố Hán
Việt trong dịch thuật; tránh sử dụng các yếu tố danh hóa, tính từ hóa. Các
phương án chuyển dịch thuật ngữ HNGĐ từ tiếng Anh sang tiếng Việt được
trình bày cụ thể trong Phụ lục 1 của luận án.
4. Các thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt chưa đạt chuẩn có các trường hợp
sau: dư thừa các yếu tố không cần thiết; biểu thị nhiều hơn một đối tượng,
khái niệm; đồng nghĩa; dài dòng mang tính miêu tả. Dựa trên các tiêu chuẩn
của thuật ngữ, đặc trưng của tiếng Việt, nội dung cơ bản của ngành luật
HNGĐ và xu thế phát triển của các mối quan HNGĐ và luật HNGĐ, các đề
xuất chỉnh lý và chuẩn hóa thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt được đưa ra như: bỏ các
hư từ trong một số trường hợp có thể bỏ; loại bỏ những yếu tố dư thừa, bỏ các
liên từ, dấu phảy, tách thuật ngữ (với thuật ngữ là cụm từ ghép); chọn thuật ngữ
thường dùng hơn trong đó ưu tiên các thuật ngữ, yếu tố mang tính pháp lý hơn
ngắn gọn, chặt chẽ, các thuật ngữ trong tiếng Anh có cấu tạo ngắn gọn hơn các
thuật ngữ tiếng Việt (với tỉ lệ thuật ngữ dài nhất có 4 YTTN chỉ là 0,5%).
Về phương thức cấu tạo và quan hệ ngữ pháp, thuật ngữ HNGĐ tiếng
Anh và tiếng Việt đều có dạng là từ hoặc ngữ, trong đó ngữ chiếm tỉ lệ cao
hơn (67,1% thuật ngữ tiếng Anh và 68% thuật ngữ tiếng Việt). Phương thức
143
ghép là phương thức chính tạo nên đa số các thuật ngữ HNGĐ trong hai ngôn
ngữ nhất là trong tiếng Việt. Tuy nhiều thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh được tạo
ra từ phương thức phụ gia (18,6% thuật ngữ), không có thuật ngữ tiếng Việt
nào được tạo ra bởi phương thức này. Xét về quan hệ, có 6,1% thuật ngữ
HNGĐ tiếng Việt được ghép theo quan hệ đẳng lập trong khi không có thuật
ngữ HNGĐ tiếng Anh nào có quan hệ ngữ pháp này.
Về phương diện từ loại, các thuật ngữ HNGĐ trong cả tiếng Anh và
tiếng Việt đều gồm: danh từ, ngữ danh từ, động từ, ngữ động từ, tính từ và ngữ
tính từ. 91,1% thuật ngữ tiếng Anh và 72% thuật ngữ tiếng Việt là ngữ danh
từ. Các thuật ngữ là động từ/ ngữ động từ, tính từ/ ngữ tính từ trong cả hai ngôn
ngữ chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ (tiếng Anh - 8,9% và tiếng Việt - 28%). Trong tiếng
Anh tỉ lệ thuật ngữ là động từ và ngữ động từ là thấp nhất (4,2%) còn trong tiếng
Việt các thuật ngữ là tính từ và ngữ tính từ chiếm tỉ lệ thấp nhất với 2,4%.
Về mô hình cấu tạo, trong cả tiếng Anh và tiếng Việt các mô hình cấu tạo
thuật ngữ HNGĐ có sức sản sinh cao nhất đều là các mô hình gồm hai yếu tố
(tạo ra 54,5% thuật ngữ tiếng Anh và 50,8% thuật ngữ tiếng Việt). Với 13 mô
hình trong tiếng Anh so với 24 mô hình trong tiếng Việt, sức sản sinh của các
mô hình cấu tạo thuật ngữ HNGĐ tiếng Anh là cao hơn hẳn so với mô hình cấu
tạo thuật ngữ HNGĐ tiếng Việt.
3. Về phương diện ngữ nghĩa, hai hệ thuật ngữ có nhiều điểm tương
đồng cũng như khác biệt.
Thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Anh và tiếng Việt đều được cấu tạo
Việc chuyển dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh - Việt vẫn còn một
số hạn chế như: còn nhiều tương đương dịch thuật đồng nghĩa; một số tương
đương dịch thuật mang tính miêu tả, dài dòng. Luận án đã đưa ra các đề xuất
chung như: nắm vững và áp dụng các lý thuyết dịch thuật và dịch thuật ngữ;
thành thạo 2 ngôn ngữ; có kiến thức sâu về tập quán hôn nhân và gia đình ở Anh
và Việt Nam, về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình
nói riêng; xây dựng từ điển Thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh - Việt và từ điển
145
Thuật ngữ Luật Hôn nhân và Gia đình Anh - Việt; thường xuyên cập nhật các
thuật ngữ hôn nhân gia đình tiếng Anh mới. Một số thủ thuật và đề xuất cụ thể
giúp nâng cao chất lượng dịch thuật ngữ hôn nhân và gia đình Anh - Việt là:
lựa chọn kỹ càng từ ngữ tiếng Việt, căn cứ vào nội dung thuật ngữ để lựa chọn
tương đương phù hợp nhất trong số nhiều tương đương và để tạo ra các vỏ ngữ
âm cho các thuật ngữ không có tương đương trong tiếng Việt; tránh sử dụng
các từ địa phương; sử dụng yếu tố Hán Việt trong dịch thuật.
5. Luận án cũng đã đưa ra các đề xuất chuẩn hóa các thuật ngữ tiếng
Việt chưa đạt chuẩn. Các thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt chưa đạt
chuẩn có các trường hợp sau: dư thừa các yếu tố không cần thiết; biểu thị
nhiều hơn một đối tượng, khái niệm; đồng nghĩa; dài dòng mang tính miêu tả.
Dựa trên các tiêu chuẩn của thuật ngữ, đặc trưng của tiếng Việt, nội dung cơ
bản của ngành luật hôn nhân gia đình và xu thế phát triển của các mối quan hệ
hôn nhân gia đình và luật hôn nhân gia đình, các đề xuất chỉnh lý và chuẩn hóa
thuật ngữ hôn nhân và gia đình tiếng Việt được đưa ra như: bỏ các hư từ trong
một số trường hợp có thể bỏ; loại bỏ những yếu tố dư thừa, bỏ các liên từ, dấu
phảy, tách thuật ngữ (với thuật ngữ là cụm từ ghép); chọn thuật ngữ thường
dùng hơn, yếu tố mang tính pháp lý hơn.
6. Luận án đã đưa ra những phương án chuyển dịch 1190 thuật ngữ hôn
nhân và gia đình từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Tuy nhiên những thuật ngữ này
4. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập – Tập 1 – Từ vựng ngữ
nghĩa, NXB Giáo dục.
5. Vũ Văn Chuyên, Lê Khả Kế (1957), Danh từ thực vật học, NXB Giáo dục.
6. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn
ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục
7. Nguyễn Hồng Cổn (2001), Vấn đề tương đương trong dịch thuật, Tạp chí
Ngôn ngữ 11/2001 - Tr.36-48
8. Nguyễn Thanh Dung (2017), Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt - Anh,
Luận án Tiến sỹ, Học viện Khoa học xã hội.
9. Dương Kỳ Đức (2009), Một số vấn đề của thuật ngữ tiếng Việt trong thời kỳ
đổi mới và hội nhập, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, Số 3 (161), Tr.41-43
10. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục VN.
11. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục Việt Nam.
12. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2006), Dẫn
luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục.
13. Nguyễn Thị Bích Hà (2004), Cấu tạo thuật ngữ thương mại Nhật – Việt,
NXB KHXH
14. Hoàng Xuân Hãn (1942), Danh từ khoa học, Vĩnh Bảo, Sài Gòn
15. Hoàng Văn Hành (1983), Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng
Việt, Ngôn ngữ, Số 4, tr.26.
16. Vũ Quang Hào (1991), Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu
tạo thuật ngữ, Luận án Phó tiến sỹ khoa học ngữ văn, Trường ĐHTH Hà Nội
17. Nguyễn Văn Hiệp (2010), Câu đặc biệt trong tiếng Việt nhìn từ lý thuyết
điển mẫu, Ngôn ngữ, Số 6, tr.5-13
18. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, NXB Giáo dục
19. Đỗ Việt Hùng (2012), Nhận thức cộng đồng người Việt về thế giới (thông
qua phương thức định danh sự vật, hiện tượng của từ ghép chính phụ), Ngôn
35. Mai Thị Loan (2011), Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn,
Tạp chí KH ĐH Quốc gia Hà nội, Ngoại ngữ 27 (2011), Tr.53-66
36. Mai Thị Loan (2012), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ luật
sở hữu trí tuệ tiếng Việt, Luận án Tiến sỹ ngôn ngữ học, Học viện KHXH
37. Nguyễn Văn Lợi (2010), Những vấn đề lý luận trong thuật ngữ học ở Liên
bang Nga, Từ điển học & Bách khoa thư, Số 6, tr.21-31
38. Nguyễn Văn Lợi (2011), Từ điển học thuật ngữ ở Liên Bang Nga, Từ điển
học &Bách khoa thư, Số 4, tr.1-5
39. Nguyễn Văn Lợi (2011), Thuật ngữ học ứng dụng ở Liên bang Nga, Từ
điển học và Bách khoa thư, Số 5, tr. 1-8.
40. Vương Thị Thu Minh (2005), Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách
phiên chuyển sang tiếng Việt, Luận án TS, ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
41. Hà Quang Năng (chủ biên) (2012), Thuật ngữ học những vấn đề lý luận và
thực tiễn, NXB Từ điển bách khoa.
42. Hà Quang Năng (2009), Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt, Từ điển học
&Bách khoa thư, kỳ 1, Số 12, tr.32-38
43. Hà Quang Năng (2010), Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt, Từ điển học
&Bách khoa thư, kỳ 2, Số 1, tr.38-45
44. Hà Quang Năng (2010), Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp
luận của thế giới và Việt nam về việc biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật
ngữ, Đề tài cấp bộ, Viện từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.
45. Đái Xuân Ninh (chủ biên) (1984), Ngôn ngữ học: Khuynh hướng, lĩnh vực,
khái niệm, Tập 1, NXB KHXH.
46. Hoàng Phê (chủ biên) (2015), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
47. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trong Báu, Nguyễn Văn Tu (1982), Tiếng
Việt trên đường phát triển, NXB KHXH.
48. Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học – viễn
thông tiếng Việt, Luận án tiến sỹ, ĐH KHXH&NV – ĐHQG Hà nội
62. Nguyễn Đức Tồn (2012), Về đặc điểm mô hình cấu tạo và việc chuẩn hóa
thuật ngữ xây dựng là cụm từ trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, Số 5, tr.59-70
63. Nguyễn Đức Tồn chủ nhiệm (2012), Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ tiếng
Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam, Đề tài KH cấp Bộ,
Viện Ngôn ngữ học, mã số CT11-13-02.
64. Nguyễn Đức Tồn (2013), Quan điểm mới về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn
hóa thuật ngữ, Ngôn ngữ, Số 1, tr.19-26.
65. Nguyễn Đức Tồn (2013), Những vấn đề của ngôn ngữ học cấu trúc dưới
ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ hiện đại, NXB KHXH.
66. Nguyễn Văn Tu (1968), Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục.
67. Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXBĐH-THCN.
68. Lưu Trọng Tuấn (2008), Dịch thuật văn bản khoa học, NXB KHXH.
69. Hoàng Tuệ (1983), Chuẩn hóa chính tả và chuẩn hóa thuật ngữ, Trung
tâm biên soạn và cải cách giáo dục và Viện Ngôn ngữ học Việt Nam.
70. Viện Ngôn ngữ học (1981), Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ
ngữ - NXB KHXH, H.
71. Hoàng Văn Vân (2005), Nghiên cứu dịch thuật, Hà Nội: NXB KHXH.
72. Nguyễn Như Ý (2001), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB
Giáo dục.
73. Luật hôn nhân và gia đình (2014), NXB Lao động