đối chiếu thuật ngữ toán học thông dụng tiếng anh và tiếng việt - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU LỆ
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRƯƠNG THỊ NHÀN
Huế, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Lệ
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học khoa học Huế,
Phòng nghiên cứu đối ngoại – sau đại học cùng tất cả các quý
thầy cô giáo bộ môn đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn cho
tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo – TS. Trương Thị Nhàn
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Cao đẳng Sư phạm
Quảng Trị, tổ Tâm lý – Anh văn, bạn bè, đồng nghiệp, người
thân đã giúp đỡ động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Do khả năng còn hạn chế của bản thân, mặc dù đã có cố

1.2.3 Đặc trưng của thuật ngữ 20
1.2.4. Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới 24
1.2.5. Những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam 25
1.3. THU T NG TOÁN H C THÔNG D NGẬ Ữ Ọ Ụ 28
CHƯƠNG 2 32
ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG 32
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 32
2.1. C I M C A THU T NG TOÁN H C THÔNG D NG TI NG ANHĐẶ Đ Ể Ủ Ậ Ữ Ọ Ụ Ế . 32
2.1.1. Về cấu tạo 32
2.1.2. Về ngữ nghĩa 43
2.2. C I M C A THU T NG TOÁN H C THÔNG D NG TI NG VI TĐẶ Đ Ể Ủ Ậ Ữ Ọ Ụ Ế Ệ . 50
2.2.1. Về cấu tạo 50
2.2.2. Về ngữ nghĩa 55
CHƯƠNG 3 61
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TOÁN HỌC THÔNG DỤNG 61
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 61
3.1. NH NG I M T NG NGỮ Đ Ể ƯƠ ĐỒ 62
3.1.1. Về cấu tạo 62
3.1.2. Về ngữ nghĩa 67
3.2. NH NG I M KHÁC BI TỮ Đ Ể Ệ 67
3.2.1. Về cấu tạo 67
3.2.2. Về ngữ nghĩa 73
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1

Kiểu nghĩa của thuật ngữ phức tiếng Việt
57
3.1
Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo cấu tạo
70
3.2
Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo trường nghĩa
72
3.3
Đối chiếu các thuật ngữ phân chia theo kiểu nghĩa
74
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang tiếp tục phát triển
với những bước tiến nhảy vọt trong thế kỷ 21, đưa thế giới chuyển từ kỷ
nguyên công nghiệp hóa sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri
thức. Trong bối cảnh ấy, mọi quốc gia dều rất cần những công dân có năng
lực, năng động, sáng tạo và đặc biệt có khả năng thu nhận và xử lý kịp thời,
hiệu quả những thông tin cần thiết trong học tập, trong công việc và trong
cuộc sống đáp ứng yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển của thời đại.
Ở Việt Nam, sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra
nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức
đối với sự nghiệp phát triển giáo dục. Chính vì vậy, trước những yêu cầu đó,
đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải có những chiến lược phát triển
mới, có nhiều giải pháp đổi mới mạnh mẽ, toàn diện hơn và điều đó cần phải
được bắt đầu từ việc biên soạn giáo trình, từ điển phù hợp nhằm phục vụ yêu
cầu đào tạo đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất.
Việc nghiên cứu và sử dụng một cách chuẩn xác hệ thống thuật ngữ
Toán học thông dụng trong tiếng Anh và tiếng Việt đóng một vai trò đặc biệt

các ngôn ngữ, Nxb ĐHQG Hà Nội [44]; Ngô Thúc Lanh – Đoàn Quỳnh –
Nguyễn Đình Trí, (2001), Từ điển Toán học thông dụng, Nxb Giáo dục [27];
Trịnh Đình Hải, (2008), Nghiên cứu hệ thống thuật ngữ công nghệ thông tin
trong tiếng Anh và vấn đề chuyển dịch sang tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa
3
học, Trường Đại học khoa học Huế [18]; Phạm Thị Hồng Hạnh, (2012), Đối
chiếu hệ thống thuật ngữ Âm nhạc trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn thạc
sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [19]; Nghiêm Thị Thu Hoài,
(2012), Đối chiếu hệ thống thuật ngữ thể thao trong tiếng Anh và tiếng Việt,
Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [20]; Vương Cẩm
Hồng, (2008), Đối sánh hệ thống thuật ngữ tài chính ngân hàng trong tiếng
Anh và tiếng Việt hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa
học Huế [22]; Nguyễn Đình Trương Nguyễn, (2013), Đối chiếu thuật ngữ y
học trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học
khoa học Huế [34]; Nguyễn Thị Kim Oanh, (2012), Đặc điểm của thuật ngữ
ngoại giao trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt, Luận văn thạc
sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [37]; Trần Thị Thu Vân, (2007),
Đối sánh hệ thống thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Anh và tiếng Việt
hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học khoa học Huế [49].
Tất cả những nghiên cứu trên đều là cơ sở để giúp chúng tôi triển khai
đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu đối chiếu để làm sáng tỏ
những đặc điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ
thông thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó rút ra
nhận xét để có những đề xuất nhằm giúp cho việc dạy và học thuật ngữ Toán
học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời sẽ
có ích cho việc biên soạn giáo trình chuyên ngành này trong các trường Đại
học và Cao đẳng.
4

- Thủ pháp miêu tả cấu tạo từ: Giúp nhanh chóng xác định được yếu tố
cũng như quy luật, các phương thức cấu tạo các thuật ngữ. Đây là phương pháp
giúp chúng tôi phân tích và miêu tả đặc điểm cấu tạo cơ bản của hệ thống thuật
ngữ Toán học thông dụng trong tiếng Anh để đối chiếu với tiếng Việt.
- Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp: Thủ pháp này được áp dụng để
phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố
cấu tạo nên thuật ngữ. Từ đó, tìm ra các nguyên tắc tạo thành thuật ngữ Toán
học thông dụng, các mô hình cấu tạo của chúng và các quy luật cấu tạo nên
những thuật ngữ này.
- Thủ pháp trường nghĩa: Áp dụng lí thuyết trường vào việc nghiên cứu
nghĩa, là biểu hiện của xu hướng của ngôn ngữ học hiện đại nhằm xác định hệ
thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như:
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng
để hỗ trợ cho công việc phân chia các phạm vi ngữ nghĩa (trường nghĩa) của
hệ thống thuật ngữ Toán học thông dụng tiếng Anh và tiếng Việt.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thuật
ngữ nói chung và thuật ngữ Toán học thông dụng nói riêng.
- Về mặt thực tiễn: Góp phần nghiên cứu, giảng dạy, đối chiếu thuật
ngữ Toán học thông dụng Anh – Việt và phục vụ cho công tác giảng dạy tiếng
Anh chuyên ngành.
6
Chúng tôi hy vọng luận văn này sẽ giúp ích thiết thực cho việc dạy và
học tiếng Anh chuyên ngành Toán học, biên soạn giáo trình chuyên ngành
này trong các trường Cao đẳng và Đại học và có thể xem như là nguồn tài liệu
tham khảo thiết thực cho những người quan tâm đến lĩnh vực Toán học.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận

nhau, đó là thành phần cấu tạo âm thanh, các phương tiện từ vựng và các
phương tiện ngữ pháp. Các phương tiện từ vựng được hệ thống hoá trước hết
trong các từ điển và được gọi là các thành phần cấu tạo từ điển. Cách phân
giới các phương tiện ngôn ngữ theo các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp bắt
nguồn từ ngôn ngữ học truyền thống cổ điển và thực chất đã dựa vào hai cơ
sở sau đây: tính chất của thành phần cấu tạo các đơn vị và kiểu loại nội dung
ý nghĩa của các yếu tố trong ngôn ngữ. Cơ sở thứ nhất phân biệt các phương
tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp với tính cách là những thực thể
8
độc lập của ngôn ngữ (có hình thức và nội dung) với các âm thanh không có
ý nghĩa độc lập. Cơ sở thứ hai phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ
pháp của các yếu tố trong ngôn ngữ. Trong kết cấu ngôn ngữ, ngữ âm và từ
vựng chiếm vị trí ngoại biên: từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa, còn
ngữ âm thuộc vào ngoại biên về chất liệu. Ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm.
Nếu từ vựng trực tiếp gọi tên thực tế, ngữ âm trực tiếp được lĩnh hội bởi giác
quan (tai), thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp. Vì ngữ pháp không có tính
chất cụ thể cho nên mối liên hệ của ngữ pháp với thực tế chỉ được thực hiện
thông qua từ vựng. Ngữ pháp cũng không trực tiếp lĩnh hội được mà phải
thông qua ngữ âm.
Sự phân chia ngôn ngữ thành ba địa hạt từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm
còn dựa vào phẩm chất của các quá trình trừu tượng hoá. Trong ngôn ngữ,
trừu tượng hoá có mặt ở mọi hiện tượng ngôn ngữ, không có nó thì ngôn ngữ
không thể là ngôn ngữ. Nhưng vai trò và tính chất của trừu tượng hoá ở các
địa hạt khác nhau của kết cấu ngôn ngữ là khác nhau. Trừu tượng hoá từ vựng
thể hiện ở chỗ: từ - đơn vị cụ thể nhất của ngôn ngữ - không trực tiếp tương
quan với sự vật mà từ đó gọi tên mà tương quan với cả một loạt sự vật. Trừu
tượng hoá ngữ pháp không đụng chạm đến các sự vật và các khái niệm riêng
biệt. Trừu tượng hoá ngữ âm thể hiện ở chỗ, từ một số âm vị có thể là những
đơn vị có nghĩa khác nhau trong ngôn ngữ, v.v Chính sự khác nhau về chất
của trừu tượng hoá từ vựng với trừu tượng hoá ngữ pháp và trừu tượng hoá

ngôn ngữ của các từ. Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó
10
thì không thể hình dung được một ngôn ngữ. Chính các từ đã biến đổi và kết
hợp ở trong câu theo quy luật ngữ pháp của ngôn ngữ. Mặc dù từ luôn luôn
ám ảnh tư tưởng chúng ta như một đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của
ngôn ngữ, nhưng khái niệm này rất khó định nghĩa. Cái khó nhất trong việc
định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc
điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một
ngôn ngữ. Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng
định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ); có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là
dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ); có từ liên hệ với những sự vật,
hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ), có từ lại chỉ biểu hiện những quan hệ
trong ngôn ngữ mà thôi (các hư từ); có từ có kết cấu nội bộ, có từ không có
kết cấu nội bộ, có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ
chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi, v.v… Vì vậy, không có sự thống nhất
trong cách định nghĩa và miêu tả các từ. Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa
khác nhau về từ. Nói chung, không có định nghĩa nào về từ làm mọi người
thỏa mãn. Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc,
có thể chấp nhận định nghĩa từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ,
độc lập về ý nghĩa và hình thức.
Trong tiếng Việt những tiếng như: ba, bốn, đây, đó, ta, tôi, nhà, cày,
đi, cười, đẹp, tốt , và, với, tuy, nhưng, ối, ái, à, ư, nhỉ, nhé đều được mọi
người nhất trí coi là từ. Lí do là:
- Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen
thêm một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những
đơn vị khác một cách dễ dàng.
Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên
tắc ngữ âm của tiếng Việt hện đại.
11
Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc

Âu, từ có thể đơn tiết, có thể đa tiết. Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết,
nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được
những âm vô nghĩa. Ví dụ: đẹp là một từ có nghĩa; nhưng nếu phân tích ra
thành /đ/, /e/, /p/ thì đó chỉ là những âm hoàn toàn không có nghĩa. Như vậy,
từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Đây là một đặc điểm khác hẳn
với các ngôn ngữ Ấn – Âu – những ngôn ngữ mà từ có thể gồm nhiều hình vị.
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và
giăng, nhăn và dăn), biến thể từ vựng – ngữ nghĩa (ví dụ: các ý nghĩa khác
nhau của từ ăn, v.v ) nhưng không có biến thể hình thái học. Dù đứng trong
câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức.
Đây là điều khác hẳn các ngôn ngữ Ấn – Âu: ở các ngôn ngữ này, từ có thể
tồn tại dưới nhiều từ hình khác nhau.
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở
trong từ tiếng Việt. Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu
tượng, khái quát. Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ
thể hoá. So sánh:
đẹp : khái niệm đẹp nói chung
cái đẹp : đẹp với tính cách một sự vật
người đẹp : đẹp với tính cách một tính chất
đẹp ra : đẹp với tính cách một quá trình
13
Ở các ngôn ngữ biến hình, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được
biểu thị bằng những bộ phận khác nhau của từ. Nhờ có các dạng của từ mà ý
nghĩa của từ bao giờ cũng cụ thể xét về mặt ngữ pháp.
Đến đây, có thể định nghĩa từ của tiếng Việt như sau:
Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu
nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền. [17, tr.69]
1.1.2.2. Ngữ định danh
Một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự tiến hoá của loài
người là sự mở rộng bất thường của thế giới khái niệm. Sự phát triển này có

Bởi vì đại lượng tính cố định có thể có mọi giá trị từ 1 đến 0, cho nên
nếu dùng từ chặt chẽ không thể gọi các kết hợp một cách đơn giản là “cố
định” hoặc “không cố định”. Mọi kết hợp đều có tính cố định đến mức nào
đó. Điều đó phù hợp với thực tế khách quan của lời nói, ở đó không có sư đối
lập giữa kết hợp tuyệt đối cố định và kết hợp tuyệt đối không cố định, mà chỉ
có những kết hợp khác nhau về mức cố định.
Nhưng bởi vì trong thực tế và trên lí thuyết, người ta thường chú ý đến
những kết hợp có tính cố định cao, cho nên, để ngắn gọn, có thể gọi một cách
ước lệ những kết hợp như thế là có tính cố định, còn những kết hợp còn lại là
không cố định. Cái ngưỡng của tính cố định được lựa chọn một cách võ đoán,
xuất phát từ mục đích thực tế.
15
Tính cố định của kết hợp, tức là khả năng dự đoán lớn nhất của một yếu
tố của kết hợp đối với các yếu tố còn lại, được tính trên cơ sở điều tra thống
kê các văn bản (tiến hành quan sát những trường hợp xuất hiện của yếu tố đã
cho trong văn bản và vạch ra tất cả những yếu tố còn lại của kết hợp xuất hiện
trong bao nhiêu trường hợp ấy. Nhờ đó, người ta có thể tính xác suất dự
đoán). Nhưng hiện nay người ta chưa thực hiện đầy đủ công việc điều tra cần
thiết đối với các văn bản. Có lẽ không thể làm được công việc đó nếu không
dùng máy tính điện tử.
Dầu sao chăng nữa, hiện nay vẫn có thể dùng khái niệm tính cố định
sau khi tạm thời quy định áng chừng xác suất căn cứ vào những cảm giác chủ
quan hoặc căn cứ vào sự điều tra một số tài liệu không lớn lắm.
Đối với tiếng Việt, các nhà nghiên cứu thường quan niệm một tổ hợp
được coi là có tính cố định khi:
+ Có trật tự ngược cú pháp tiếng Việt: Thí dụ: văn học, hải quân, công
nghiệp, bệnh viện, cao điểm,
+ Có chứa đựng những thành tố không hoạt động độc lập. Thí dụ: quốc
gia, chợ búa, dai nhách, khách khứa, hổn hển, lưa thưa,
- Tính thành ngữ

+ Từ có cách dịch duy nhất nằm trong tổ hợp thành ngữ tính phải được
gặp ở ngoài tổ hợp đó, và khi ấy nó có cách dịch khác. Điều kiện này cho
17
phép phân biệt tổ hợp thành ngữ tính với những tổ hợp không có tính thành
ngữ nhưng lại có tính cố định rất cao.
Trong tiếng Việt, cụm từ cò lửa có tính thành ngữ vì lửa trong kết
hợp với cò, chỉ một loại cò có lông màu đỏ. Trong những cách dùng khác,
lửa lại có những ý nghĩa khác: bếp đỏ lửa, lửa lòng Những tổ hợp như bồ
hóng, bù nhìn, ái quốc, nông nghiệp, tuy có tính cố định nhưng không có
tính thành ngữ.
Theo quan niệm đã trình bày, tính cố định và tính thành ngữ là những
thuộc tính hoàn toàn độc lập. Tổ hợp có thể có tính cố định mà không có tính
thành ngữ, hoặc ngược lại.
Dựa vào hai thuộc tính này, tùy theo đặc điểm của từng ngôn ngữ cụ
thể mà người ta chia ra các kiểu ngữ khác nhau trong các ngôn ngữ. Chẳng
hạn, ở tiếng Việt, người ta phân biệt các loại ngữ như: thành ngữ, quán ngữ,
ngữ định danh.
Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái
niệm nào đó của thực tế. Nó bao gồm những cụm từ thường được gọi là từ
ghép như: xe đạp, máy tiện, cá vàng, cà chua, áo dài, v.v và những cụm từ
thường được gọi là ngữ cố định như: đường đồng mức, phương nằm ngang,
máy hơi nước, v.v [17, tr.70]
Ngữ định danh được phân chia làm hai loại: ngữ định danh hợp kết và
ngữ định danh hòa kết.
- Ngữ định danh hợp kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng có thể
phân tích thành những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận
tạo thành.
18
- Ngữ định danh hòa kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng không
thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận

cách định nghĩa chúng. Để hình dung rõ hơn về thuật ngữ khoa học, trước hết
hãy đến với quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Âu - Mỹ, các quốc gia có
nền công nghệ thông tin phát triển sớm, nhanh và mạnh, mảnh đất tốt cho sự
phát triển của ngôn ngữ khoa học, điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát
triển của thuật ngữ khoa học.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của
ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của
các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con
người. Ví dụ như các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân, v.v trong toán
học; tư bản, tích luỹ, giá trị thặng dư, v.v trong kinh tế học; bộ tộc, bộ lạc,
huyết thống, v.v trong sử học; âm vị, âm tiết, hình vị, v.v trong ngôn ngữ
học, v.v Hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một
khoa học nhất định. Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các
hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng
với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng. [17, tr.270]
Từ quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi xác định có hai loại
thuật ngữ là thuật ngữ đơn và thuật ngữ phức.

Trích đoạn Những nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam Về ngữ nghĩa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status