Nhận thức của kiểm toán viên về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính - Pdf 49

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN HẢI YẾN

NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH: TRƢỜNG HỢP CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP. ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN HẢI YẾN

NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH: TRƢỜNG HỢP CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁNTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐƢỜNG NGUYỄN HƢNG

Đà Nẵng - Năm 2017


2.2. XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG
KIỂM TOÁN BCTC ....................................................................................... 41
2.3. XÂY DỰNG BẢNG CÂU HỎI VÀ THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 44
2.3.1.Xây dựng thang đo ......................................................................... 44
2.3.2.Thiết kế câu hỏi khảo sát ............................................................... 45
2.3.3.Chọn mẫu và lựa chọn đối tƣợng khảo sát..................................... 47
2.3.4.Phƣơng pháp khảo sát và thu hồi phiếu khảo sát ........................... 48
2.4.PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU .................................. 49
2.4.1.Xác định những nhân tố ảnh hƣởng đến Chất lƣợng kiểm toán
BCTC và đánh giá độ tin cậy .......................................................................... 50
2.4.2.Xếp hạng tầm quan trọng của từng nhân tố ảnh hƣởng đến chất
lƣợng kiểm toán BCTC và tầm quan trọng của các tiêu chí đo lƣờng nhân tố
tƣơng ứng ........................................................................................................ 51
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA KTV VỀ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN
BCTC: TRƢỜNG HỢP CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN TP. ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 56
3.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ ................................................................................ 56
3.2. XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG
KIỂM TOÁN BCTC ....................................................................................... 58
3.2.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA ................................................. 58
3.2.2. Đo lƣờng độ tin cậy Cronbach’s Alpha ........................................ 60
3.3. XẾP HẠNG TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỪNG NHÂN TỐ ẢNH
HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN BCTC ................................... 66
3.4. BÌNH LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................... 72


CHƢƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH RÚT RA TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN

CLKT

Chất lƣợng kiểm toán

DN

Doanh nghiệp

KTV

Kiểm toán viên

KSNB

Kiểm soát nội bộ

KSCL

Kiểm soát chất lƣợng

KTNB

Kiểm toán nội bộ

TTCK

Thị trƣờng chứng khoán


DANH MỤC CÁC BẢNG


31

2.1.

Danh sách một số công ty kiểm toán trên địa bàn TP. Đà

40

Nẵng
2.2.

Tổng hợp 21 biến quan sát nhân tố ảnh hƣởng đến chất

42

lƣợng kiểm toán BCTC
2.3.

Thang đo Likert 5 bậc

44

2.4.

Thang đo đánh giá mực độ so sánh Saaty

45

3.1.


Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 2

61

3.7.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 3

61

3.8.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 4

62

3.9.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 5

62

3.10.

Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 6

63

3.11.

69

3.15.

Ma trận chuẩn hóa có trọng số FTOPSIS

70

3.16.

Xếp hạng tầm quan trọng các tiêu chí ảnh hƣởng đến

72

chất lƣợng kiểm toán BCTC
3.17.

Xếp hạng tầm quan trọng các nhân tố đến chất lƣợng
kiểm toán BCTC

73


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu

Tên hình

hình


sơ đồ

Tên sơ đồ

Trang

2.1.

Trình tự nghiên cứu của đề tài

55

2.2.

Kĩ thuật phân tích thứ bậc AHP

53


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán BCTC là một hoạt động đặc biệt, một loại hoạt động dịch vụ
đảm bảo, nhằm giúp các đối tƣợng liên quan có thể tin cậy về tính trung thực,
đúng đắn, hợp pháp và đầy đủ của các thông tin trên BCTC. Trong hơn 2 thập
kỉ qua, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã cố gắng định nghĩa CLKT,
xây dựng khung về CLKT cũng nhƣ tìm các nhân tố tác động đến CLKT.
CLKT là một khái niệm đa diện, khó quan sát và khó đo lƣờng, phụ thuộc rất
nhiều vào cảm nhận của ngƣời sử dụng hoặc ngƣời thực hiện dịch vụ kiểm

phần tập đoàn kỹ nghệ Gỗ Trƣờng Thành (TTF) bất ngờ gánh một khoản lỗ
lên tới cả nghìn tỷ đồng và giáng một đòn choáng váng vào các cổ đông.
Trong vụ việc này, công ty kiểm toán DFK bị nghi ngờ là đã bắt tay với TTF
trong việc đƣa ra ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần trong các kì kiểm
toán trƣớc đó.
Những vụ việc nêu trên đã gióng lên một hồi chuông báo động về chất
lƣợng của hoạt động kiểm toán. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên của Hiệp
định thƣơng mại tự do TPP, tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhƣ
hiện nay; cùng với sự bùng nổ của thị trƣờng chứng khoán; vấn đề về CLKT
BCTC ngày càng đƣợc coi trọng không chỉ nhằm giúp các cổ đông, nhà đầu
tƣ, các tổ chức tín dụng có thể tin cậy các thông tin trên BCTC mà còn hỗ trợ
các nhà quản lý DN trong nâng cao chất lƣợng hoạt động của mình. Thực
trạng này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu về CLKT cũng nhƣ các nhân tố tác
động đến CLKT để phục vụ cho những ngƣời quan tâm.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện nghiên cứu
đề tài “Nhận thức của kiểm toán viên về các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng kiểm toán Báo cáo tài chính: Trường hợp các công ty kiểm toán trên
địa bàn Thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang đƣợc


3

quan tâm về mặt lý luận cũng nhƣ đƣa ra các gợi ý về mặt chính sách nhằm
giúp Cơ quan quản lý Nhà nƣớc có thể đƣa ra đƣợc các giải pháp cấp thiết
trong thực tiễn hoạt động kiểm toán tại Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định các nhân tố có thể ảnh
hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC và xếp hạng tầm quan trọng của từng
nhân tố đến chất lƣợng kiểm toán BCTC, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp

Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên phƣơng pháp hỗn hợp: kết hợp phƣơng
pháp nghiên cứu định tính và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng.
+ Phƣơng pháp nghiên cứu định tính: Phân tích và tổng hợp thông tin
thứ cấp từ các nguồn dữ liệu có sẵn cả trong nƣớc lẫn quốc tế về đối tƣợng
nghiên cứu. Tác giả tiến hành thu thập, phân tích, so sánh và đánh giá một số
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC để
hình thành khung lý thuyết cơ bản của luận văn. Qua đó, xác định các nhân tố
và các tiêu chí đo lƣờng nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC.
+ Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: Dựa trên hệ thống nhân tố đã
đƣợc xác định về mặt lý thuyết, tác giả thiết kể Bảng câu hỏi để thực hiện
khảo sát nhận thức và đánh giá của KTV về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất
lƣợng kiểm toán BCTC. Khi đã có dữ liệu khảo sát, tác giả xử lý bảng câu hỏi
thông qua phần mềm SPSS, áp dụng phƣơng pháp phân tích nhân tố khám
phá EFA và nhất quán nội tại qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; đồng thời
sử dụng phƣơng pháp phân tích thứ bậc FAHP và FTOPSIS để xếp hạng tầm
quan trọng của các nhân tố đến chất lƣợng kiểm toán BCTC.
Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu sơ cấp do chính tác giả thu thập
đƣợc thông qua Bảng câu hỏi khảo sát KTV/ trợ lý KTV để nhận biết các
nhân tố và sau đó đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố đến chất lƣợng
kiểm toán BCTC.
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các nguồn tham khảo từ các nghiên cứu trƣớc


5

đây hoặc qua thông tin báo chí, các thông tin của công ty kiểm toán đƣợc
công bố trên website…
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
Đề tài mang tính chất thời sự, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn,

hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC: Trƣờng hợp các công ty kiểm toán
trên địa bàn TP. Đà Nẵng.
Chƣơng 4: Hàm ý chính sách rút ra từ kế quả nghiên cứu Nhận thức
của KTV về các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm toán BCTC: Trƣờng
hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn TP. Đà Nẵng.


7

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tính đến nay, các nghiên cứu về CLKT là không nhiều, chủ yếu do các
nhà nghiên cứu nƣớc ngoài thực hiện.
Trong các nghiên cứu ở nƣớc ngoài, quan điểm CLKT đƣợc hiểu là khả
năng KTV phát hiện và báo cáo về những sai phạm trọng yếu trong việc trình
bày và công bố BCTC của khách hàng đƣợc kiểm toán (quan điểm của
DeAgelo, 1981) [47]. Khi đó, khi đánh giá về các nhân tố ảnh hƣởng đến
CLKT, kết quả chỉ ra rằng khả năng KTV phát hiện đƣợc sai phạm trọng yếu
phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp của KTV; còn
khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào tính độc lập của KTV (Lam and
Chang, 1994) [42]. Nhiều cuộc nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng kiến thức
tích lũy thông qua làm việc với khách hàng, các kinh nghiệm chuyên môn có
liên quan đến sự đánh giá cao hơn về chất lƣợng của những ngƣời sử dụng
dịch vụ kiểm toán (Bonner, 1990) [19]. Những cuộc nghiên cứu khác cũng
cho rằng kiến thức và khả năng của KTV đóng một vai trò vô cùng quan trọng
trong việc khám phá ra các sai phạm trong quá trình kiểm toán (Owhoso et
al., 2002) [58], hoặc trong quá trình thực hiện thủ tục phân tích (Wright,
1997) [67] hoặc trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán (Low, 2004) [51]. Một
cuộc nghiên cứu khác của O’Keefe et al (1994) [57] cũng chỉ ra có mối liên
hệ giữa khả năng và kiến thức của KTV với việc tuân thủ các Nguyên tắc
kiểm toán chung đƣợc chấp nhận (GAAPs)

định CLKT. Với quan điểm đó, công ty kiểm toán lớn thƣờng cung cấp dịch
vụ kiểm toán có chất lƣợng tốt hơn các công ty kiểm toán nhỏ (Lennox, 1999;
Krishnan và Shayor, 2000) [43], [39]; các công ty kiểm toán danh tiếng hơn
sẽ cung cấp CLKT tốt hơn (DeAgelo, 1981) [48]. Nghiên cứu của tác giả
Chia – Chi Lee (2008) [25] cũng chỉ ra rằng quy mô công ty kiểm toán có ảnh
hƣởng cực kì quan trọng tới việc thực hiện công việc kiểm toán, đặc biệt là
trong mối quan hệ so sánh giữa các hãng kiểm toán quốc tế, hãng kiểm toán


9

quy mô lớn và hãng kiểm toán có quy mô vừa; tuy nhiên ảnh hƣởng này là
không đáng kể khi so sánh giữa các hãng kiểm toán có quy mô vừa và hãng
có quy mô nhỏ. CLKT còn phụ thuộc vào việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm
toán (nhƣ dịch vụ tƣ vấn) sẽ làm giảm tính độc lập và do đó làm giảm CLKT
(Chen, 2005) [23].
Quan điểm CLKT phụ thuộc vào phí kiểm toán cũng đã đƣợc đƣa ra.
Nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này đƣợc thực hiện bởi De Angelo (1981) [47]
khi tác giả này giới thiệu mô hình Chi phí và Phí kiểm toán. Mô hình này giúp
nhận ra mối quan hệ giữa chi phí cuộc kiểm toán và quan hệ với khách hàng.
Đặc biệt, các hãng kiểm toán có xu hƣớng đƣa ra phí kiểm toán trong năm
đầu tiên thực hiện hợp đồng thấp hơn so với chi phí thực tế mà công ty kiểm
toán bỏ ra nhằm đạt đƣợc mức lợi nhuận cao hơn trong tƣơng lai từ việc duy
trì hợp đồng khách hàng. Điều này cũng tạo ra một mối liên hệ về kinh tế với
khách hàng, vì thế làm giảm tính độc lập của KTV và giảm CLKT. Các
nghiên cứu khác cũng cho rằng phí kiểm toán cao sẽ tạo thêm giá trị để KTV
phát hiện ra các lỗi quản lý hoặc các sai phạm bất thƣờng trong BCTC
(Defond và Jambalvo, 1993) [26]. Các công ty kiểm toán có nhiều khách hàng
hơn sẽ thúc đẩy họ giữ gìn danh tiếng hơn và do đó CLKT cao hơn (Fransic
và Wilson, 1988; Becker, 1998) [31], [20]. Một số nghiên cứu khác cũng cho

Theo kết quả nghiên cứu của Zureigat (2011) [68] tại Jordan, những DN mà
quyền sở hữu phân tán về những nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, hoặc thuộc về các
quỹ đầu tƣ, các công ty bảo hiểm thì có tác động tích cực đến CLKT. Ngƣợc
lại, những DN mà quyền sở hữu tập trung phần lớn vào một hoặc một nhóm
cổ đông, thì có tác động tiêu cực đến CLKT do nhóm cổ đông lớn này có thể
ảnh hƣởng đến công tác quản lý, đặc biệt là khi trở thành thành viên Ban điều
hành.
Bên cạnh đó, các cuộc nghiên cứu không chỉ tập trung vào một nhân tố
nhất định ảnh hƣởng đến CLKT, mà các tác giả gần đây đã đề cập đến hàng


11

loạt các nhân tố có thể ảnh hƣởng đến CLKT. Chẳng hạn một nghiên cứu về
các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT của Kym Boon (2007) [41], cùng một
nghiên cứu mở rộng của Kym Boon và các cộng sự (2008) [40] đã xác định
14 nhân tố thuộc về KTV và công ty kiểm toán nhƣ kinh nghiệm, khả năng
chuyên sâu, ý thức, cam kết chất lƣợng của công ty kiểm toán, quy mô công
ty..., đồng thời đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố này tới CLKT và
đƣa ra kết luận quan trọng, đó là nếu các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT đƣợc
đảm bảo thì cũng đảm bảo sự hài lòng của ngƣời sử dụng đối với CLKT.
Nghiên cứu của Lin Ling và Tepalagul Nopmanee Kong (2010) [44] đã
chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT tập trung vào một số nhân tố
liên quan đến tính độc lập của KTV, chẳng hạn nhƣ: tầm quan trọng của
khách hàng, các dịch vụ ngoài kiểm toán, nhiệm kỳ KTV, mối quan hệ giữa
khách hàng và đội ngũ KTV. Trong khi đó, Robert Knechel (2012) [62] lại
cho rằng: nhiệm kỳ KTV, nhận thức của thị trƣờng về CLKT, phí cho các
dịch vụ ngoài kiểm toán, áp lực công việc cũng nhƣ kiến thức chuyên môn…
là những nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT.
Trong khi đó, Hội đồng BCTC Anh Quốc (UK Financial Reporting

công ty kiểm toán có quy mô nhỏ, do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì
hoặc thi hành các thủ tục kiểm soát chất lƣợng một cách hiệu quả, vì thế
việc kiểm soát chất lƣợng bên trong công ty kiểm toán sẽ không đƣợc chú
tâm đầy đủ” [9].
Tuy nhiên gần đây, cũng đã có một vài tác giả đã chọn các nhân tố
ảnh hƣởng đến CLKT là mục tiêu xem xét chính trong các nghiên cứu của
họ. Cụ thể:
Tác giả Mạn Đình (2010) [4] và Trần Thị Giang Tân (2009) [12] cho
rằng Kiếm soát chất lƣợng từ bên ngoài sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm
toán BCTC. Còn Vũ Minh Hải (2007) [6] lại đánh giá rằng kiểm soát chất
lƣợng kiểm toán từ bên trong đóng một vai trò quan trọng đến chất lƣợng của


13

kiểm toán BCTC và cung cấp đƣợc nhiều thông tin tài chính cho ngƣời sử
dụng. Bên cạnh đó, nhiều cuộc nghiên cứu của các tác giả Việt Nam chỉ ra
rằng có mối liên hệ mật thiết giữa CLKT với chiến lƣợc phát triển ngành do
Cơ quan Nhà nƣớc và Hiệp hội nghề nghiệp đƣa ra, cũng nhƣ với sự cạnh
tranh giữa các hãng kiểm toán. Điều này đƣợc chứng minh thông qua cuộc
nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Kim Anh (2008) [1].
Năm 2013, tác giả Bùi Thị Thủy của Việt Nam cũng đã nghiên cứu
“Nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT BCTC các DN niêm yết trên thị trƣờng chứng
khoán Việt Nam” [14]. Kết quả là 14 nhân tố ảnh hƣởng đến CLKT đã đƣợc
tìm ra và phân thành 3 nhóm lớn:
+ Nhóm nhân tố thuộc về nhóm kiểm toán/ KTV, bao gồm 8 nhân tố:
Tính độc lập; Trình độ chuyên môn nghề nghiệp; Khả năng chuyên sâu, Kinh
nghiệm đối với khách hàng; Thái độ nghề nghiệp, Tính chuyên nghiệp; Ý
thức tuân thủ chuẩn mực, đạo đức nghề nghiệp; và Áp lực mùa vụ kiểm toán
+ Nhóm nhân tố thuộc về công ty kiểm toán, gồm 5 nhân tố: Quy mô

sai phạm của KTV (DeAngelo, 1981) [47].
Quan điểm thứ hai cho rằng CLKT là sự thỏa mãn đối tƣợng sử dụng
dịch vụ kiểm toán. (ISA 220)
Bên cạnh việc nghiên cứu CLKT theo chủ thể tác động, gần đây xu
hƣớng của một số tác giả cũng đã chuyển sang nghiên cứu CLKT theo quá
trình, điển hình nhƣ Francis (2011) [70], Defond và Zhang (2014) [71]; hoặc
nghiên cứu CLKT theo khuôn khổ đặc điểm của từng quốc gia (Duff,
2004)[69].
Tại Việt Nam, dựa trên nền tảng của các nghiên cứu quốc tế, các tác giả
trong nƣớc cũng đã đƣa ra thêm một số nhân tố phù hợp với thực tế tại Việt
Nam nhƣ sự can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động kiểm toán, Chất lƣợng
đào tạo nhân lực kiểm toán…
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc,


15

các nghiên cứu tại Việt Nam cần đƣợc tiếp tục bàn luận hoặc mở rộng, có thể
kể đến vấn đề sau:
Các nghiên cứu tại Việt Nam mới chỉ khám phá ra các nhân tố ảnh
hƣởng đến CLKT, đƣa ra một số nhân tố mới phù hợp với thực tế môi trƣờng
kiểm toán trong nƣớc nhƣng vẫn chƣa có một cách tiếp cận khoa học trong
việc đánh giá, xếp hạng tầm quan trọng của từng nhân tố. Chính vì vậy, trong
nghiên cứu này, bên cạnh việc thực hiện phân tích khám phá các nhân tố ảnh
hƣởng đến CLKT theo đánh giá của KTV, tác giả sẽ đƣa ra một phƣơng pháp
khoa học để xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đã đƣợc khám phá.
Phƣơng pháp mới này đã đƣợc chấp nhận và ứng dụng rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực kinh tế khác nhau, tuy nhiên ở lĩnh vực kiểm toán thì vẫn chƣa hề
đƣợc sử dụng trong bất cứ nghiên cứu, đề tài nào tại Việt Nam. Tác giả cũng
hi vọng rằng cách tiếp cận này sẽ mở ra những hƣớng nghiên cứu mới cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status