GIỚI THIỆU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Đó là con đường tất yếu để đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, phụ thuộc vào nông
nghiệp và trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, hội nhập với kinh tế khu
vực và thế giới. Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa,
một trong những nhiệm vụ đang được đặt ra là việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân
lực kỹ thuật cho các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đặc biệt là đào tạo nguồn nhân
lực kỹ thuật cao đang là một đòi hỏi cấp bách trong công cuộc Công nghiệp hóa
hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Nhưng nước ta đang đứng trước một thực trạng là
nguồn lao động dồi dào nhưng thiếu lao động kỹ thuật và lao động quản lý. Trước
thực trạng đó, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo Bộ lao động thương binh xã hội Việt
Nam nhanh chóng phát triển các Trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề để
nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cho đất nước.
Mặc dù một thực tế không thể phủ nhận ở nước ta hiện nay đã có hàng trăm các
trường Đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ra đời và đã đào tạo hàng vạn
lao động cho đất nước. Nhưng số lao động được đào tạo ở những trường kể trên ra
lại không đáp ứng được đòi hỏi của các doanh nghiệp hiện nay vì các trường này
đào tạo chủ yếu mang tính lý thuyết, thiết bị đào tạo quá cũ kỹ lạc hậu, nên hầu hết
những học sinh sinh viên ra trường có kỹ năng nghề nghiệp rất kém. Trong khi đó,
các trường Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề lại chú trọng đào tạo kỹ năng, gần 80%
thời lượng đào tạo là dành cho học thực hành và thực hành nghề, nên hầu hết học
sinh sinh viên ra trường đáp ứng được đòi hỏi của các công ty trong và ngoài nước.
Mặt khác, vừa qua Bộ Giáo dục và Bộ lao động thương binh xã hội đã ban hành
thông tư liên tịch chính thức cho đào tạo liên thông lên đại học cho sinh viên các
trường Cao đẳng nghề, như mở ra một con đường vào đại học thứ 2 cho học sinh
sinh viên các trường nghề. Chính vì thế mà số lượng học sinh sinh viên theo học tại
các trường Cao đẳng nghề ngày càng tăng. Một thực tế cũng đang diễn ra là trong
mấy năm gần đây số lượng các trường Cao đẳng nghề công lập và ngoài công lập ở
1
thành phố Hồ Chí Minh đang mọc lên rất nhiều, một số trường đại học cũng xin mở
cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng công nghiệp thực phẩm của Nguyễn Thị
Thu Hà (2008) trong đó chỉ ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo với
nhà trường, người học và người sử dụng lao động. Biện pháp nhằm quản lý tăng
cường hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo của các trường nghề ở Nam Định của
Lã Duy Tuấn (2009) đã chỉ ra: tăng cường hợp tác giữa Nhà trường và doanh
nghiệp là cách hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng đào tạo cho các cơ sở dạy
nghề. Nguyễn Thị Đang (2011), Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo trường Cao đẳng nghề miền đông nam bộ.
Như vậy, qua các bài viết trên có thể thấy: các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo và đào tạo nghề được xác định dưới sự đánh giá của nhiều thành phần
khác nhau: chịu sự tác động từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng mà trong đó các
yếu tố bên trong lẫn bên ngoài đều được đề cập trên phạm vi rộng lớn. Mặt khác,
hầu hết các nghiên đều tập trung chủ yếu vào việc đề ra các giải pháp để nâng cao
chất lượng đào tạo nghề còn quá ít nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo nghề dưới sự đánh giá của người học, đặc biệt là với trường hợp
Trường Cao đẳng nghề Tp HCM.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo Trường Cao đẳng nghề Tp Hồ Chí Minh” qua sự nhìn nhận, đánh
giá của người học là để xác định với sự tác động đó Nhà trường đã đáp ứng những
tiêu chuẩn nào, những tiêu chuẩn nào chưa thể đáp ứng, để từ đó có được hướng đi
đúng đắn cho sự phát triển lâu dài bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Trường Cao đẳng nghề Tp Hồ Chí Minh
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
+ Kiểm định, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến chất lượng
đào tạo nghề.
3
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
thành và phát triển; Cơ cấu tổ chức nhà trường; Thực trạng về đào tạo tại Nhà
trường. Phần thứ hai là phương pháp nghiên cứu mà đề tài sử dụng để giải quyết
những mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và một số giải pháp kiến nghị: Mục đích của chương
này là trình bày kết quả nghiên cứu thu được thông qua phân tích và kiểm định mô
hình nghiên cứu; nội dung của chương này bao gồm : (1) Mô tả mẫu nghiên cứu, (2)
Phân tích đánh giá công cụ đo lường và (3) Kiểm định giả thuyết kết quả nghiên
cứu.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả sẽ đề cập đến các khái niệm, quan điểm, cơ sở lý
thuyết và một số mô hình về chất lượng đào tạo cũng như đào tạo nghề để từ đó có
thể đưa ra mô hình nghiên cứu nhằm xác định nội dung chương trình và hướng
nghiên cứu của đề tài.
1.1. Khái niệm và các hình thức đào tạo nghề
1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm về nghề, đào tạo nghề
Mai Quốc Chánh (1998), Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ
thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người
lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao
động nhất định.
Luật dạy nghề (2006) quy định: Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Khái niệm về dịch vụ: Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định
nghĩa.
Theo Đỗ Ngọc Sơn, 2011 (dẫn theo Zeithaml & Bitner, 2000), “Dịch vụ là
những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá
trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Đào tạo nghề thường xuyên: Được thực hiện với các chương trình dạy nghề
thường xuyên như bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề;
chương trình dạy nghề kèm theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề.
7
1.2. Chất lượng dịch vụ và chất lượng đào tạo nghề
1.2.1. Chất lượng dịch vụ
Đối với hàng hóa tiêu dùng thông thường thì việc đáng giá và đo lường chất
lượng của sản phẩm rất dễ dàng vì căn cứ vào hình dáng, chất liệu, tính năng,…
Nhưng đối với dịch vụ thì việc đánh giá chất lượng của nó khó khăn hơn nhiều.
Khái niệm chất lượng dịch vụ ngày nay thường phụ thuộc vào đối tượng sử dụng.
Chất lượng có thể xem như là một mục tiêu động, biến thái linh hoạt theo hoàn cảnh
và thể hiện ý nghĩa theo mục tiêu của chủ thể. Chất lượng sản phẩm phản ánh mức
độ đáp ứng và yêu cầu do khách hàng đặt ra và được khách hàng chấp nhận. Theo
tiêu chuẩn ISO 9000 thì “chất lượng lượng là toàn bộ những đặc tính của một thực
thể, tạo cho thực thể ấy khă năng thỏa mãn các nhu cầu đã được công bố hay tiềm
ẩn” (Được trích bởi Đỗ Ngọc Sơn, 2011). Như vậy, có thể nói chất lượng là tập hợp
những thuộc tính bên trong sự vật hiện tượng, tạo cho nó đặc tính riêng biệt làm
thỏa mãn yêu cầu mong muốn. Vì vậy, việc đo lường và đánh giá chất lượng dịch
vụ được thực hiện theo phạm vi và góc độ tiếp cận khác với sản phẩm vật chất.
Ngày nay, chất lượng dịch vụ đã trở thành một nhân tố quan trọng trong cạnh tranh
thương mại. Người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng
cảm nhận được. Mỗi khách hàng thường cảm nhận khác nhau về chất lượng, do đó
việc tham gia của khách hàng trong việc phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là
rất quan trọng. Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng là một hàm nhận thức của khách
hàng. Nói cách khác, chất lượng của dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức, hay
cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Theo ISO-8402
“Chất lượng dịch vụ là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng
đó khả năng thõa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” (Được trích bởi Đỗ
Ngọc Sơn, 2011).
Đánh giá chất lượng dịch vụ không dễ dàng, cho đến nay còn rất nhiều tranh cãi
vào năm khác biệt. Có lẽ mô hình Parasuraman được sử dụng phổ biến hơn cả, bởi
tính cụ thể, chi tiết và công sụ đánh giá luôn được các tác giả và đồng nghiệp kiểm
định, cập nhật. Mô hình năm khác biệt là mô hình tổng quát, mang tính lý thuyết về
9
chất lượng dịch vụ gồm năm thành phần mà có thể ứng dụng trong đánh giá chất
lượng dịch vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khoảng cách thứ nhất : xuất hiện khi kỳ vọng của khách hàng về chất lượng
dịch vụ có sự khác biệt với cảm nhận của nhà quản trị chất lượng dịch vụ cảm nhận
về kỳ vọng này của khách hàng. Sự khác biệt này được hình thành do công ty dịch
vụ chưa tìm hiểu hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ, và có những
nhận định về kỳ vọng của khách hàng chưa đúng thực tế (xem hình 1.1).
Khoảng cách thứ hai: Xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc
xây dựng những tiêu chí chất lượng dịch vụ sao cho phù hợp với những nhận định
về kỳ vọng của khách hàng. Sự cách biệt về tiêu chí này là do khả năng chuyên môn
của đội ngũ nhân viên nghiệp vụ cũng như yêu cầu về dịch vụ tăng cao trong mùa
cao điểm làm cho các công ty dịch vụ không đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng (xem
hình 1.1).
Hình 1.1 Mô hình năm khác biệt dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ
Nguồn: Parasuraman & ctg (1995)
10
Khoảng cách 4
Khoảng
cách 1
KHÁCH
HÀNG
TỔ CHỨC
DỊCH VỤ
Dịch vụ kỳ vọng
Dịch vụ cảm nhận
Dịch vụ chuyển
dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này. Một khi khách hàng nhận thấy
không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được
khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng dịch vụ được xem là hoàn hảo.
Parasuaraman & ctg (1985) (được trích bởi Đỗ Ngọc Sơn, 2011) cho rằng chất
lượng dịch vụ là một hàm số của khoảng cách thứ năm. Khoảng cách thứ năm này
phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1,2,3 và 4. Vì
thế, để rút ngắn khoảng cách thứ năm, hay làm gia tăng chất lượng dịch vụ, nhà
quản trị phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này.
Mô hình chất lượng dịch vụ theo Parasuaraman được biểu diễn như sau:
QC = F(G5)= f (G.1, G.2, G.3, G.4, G.5)
Trong đó : - QC là chất lượng dịch vụ
- G.1, G.2, G.3, G.4, G.5 là khoảng cách chất lượng 1,2,3,4,5)
11
Như đã trình bày ở trên, nói đến chất lượng dịch vụ người ta không thể không
nói đến sự đóng góp to lớn của Parasuaraman & ctg (1988 và 1991). Ông cho rằng
chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa giá trị cảm nhận và chất lượng kỳ vọng về
dịch vụ được đánh giá dựa trên năm khoảng cách và thành phần chất lượng dịch vụ.
Theo từ điển tiếng Việt (1999): Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những
thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì; tính ổn định tương đối của sự vật
phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất
lượng biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của
sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và
không tách rời sự vật. Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất đi chất
lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật. Về căn bản,
chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và
không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng thống nhất giữa
số lượng với chất lượng.
1.2.2. Một số quan điểm về chất lượng đào tạo và đào tạo nghề:
Nhiều năm trở lại đây các phương tiện truyền thông đại chúng của Việt Nam
nói rất nhiều về Chất lượng đạo tạo, nhưng vẫn là một khái niệm khó xác định, khó
trình, giáo trình; thư viện; cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học; quản lý tài
chính; các dịch vụ cho người học nghề.
Như vậy, chất lượng đào tạo nghề bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: Chất lượng
đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, người học nghề, đội ngũ
quản lý và chính sách quản lý, nguồn lực tài chính của nhà trường.
Cơ sở vật chất: Bao gồm: Hệ thống giảng đường, xưởng thực hành, phòng thí
nghiệm, các phương tiện hỗ trợ dạy và học, thư viện và nguồn tài liệu đáp ứng nhu
cầu người học. Đã có rất nghiều nghiên cứu, bài viết, văn bản, quan điểm đề cập
đến cơ sở vật chất trong đó điển hình:
Luật dạy nghề (2006): Kiểm định chất lượng trong giáo dục thì yếu tố cơ sở vật
chất được xem là tiêu chuẩn đầu tiên của quá trình kiểm định. Phòng học, máy móc,
13
trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trình đào tạo, nó giúp cho
người học có điều kiện để thực hành có thể hoàn thiện kỹ năng.
Phạm Thị Cúc Phương (2008): Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học đóng vai
trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, đảm bảo chất lượng đào tạo
của một trường. Để đảm bảo sau khi tốt nghiệp, người học đáp ứng được yêu cầu
của người sử dụng lao động, đó là tiếp cận ngay và làm chủ cộng nghệ sản xuất nơi
công tác một cách có hiệu quả, thì cơ sở đào tạo nghề phải có cơ sở vật chất – trang
thiết bị thực hành đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với nội dung chương trình đào
tạo; thậm chí, công nghệ phải đi trước công nghệ của nền sản xuất. Trường đào tạo
nghề phải có các phòng học bộ môn phù hợp với từng ngành học, cấp học, phải có
thư viện hiện đại; các trung tâm thông tin; nối mạng internet để hỗ trợ công tác
nghiên cứu của giáo viên và tìm hiểu của người học. Hệ thống sách và tài liệu giáo
khoa cho người học; sách tham khảo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, cho giáo
viên cũng cần được trang bị đầy đủ.
Như vậy, có thể thấy trong đào tạo nghề nếu chương trình đào tạo được đánh
giá là tốt, đội ngũ giáo viên có chuyên môn kinh nghiệm, mà hệ thống cơ sở vật chất
không đáp ứng được nhu cầu đào tạo sẽ ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả đào tạo dẫn
đến chất lượng đào tạo thấp. Mặt khác để có được hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng
trình độ chuyên môn mà giáo viên được đào tạo, kinh nghiệm thực tế và kinh
nghiệm giảng dạy mà giáo viên tích lũy.
Trên thực tế cũng cho thấy giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc đảm
bảo chất lượng đào tạo. Thầy cô là người gợi mở, khuyến khích sự đam mê sáng tạo
nghề nghiệp, là người luôn tích cực hỗ trợ cho người học trong quá trình hình thành
nhân cách, tác phong công nghiệp. Trong các buổi thực hành, thầy là người huấn
luyện viên tận tụy, mẫu mực và bao dung. Vai trò của giáo viên dạy nghề là trang bị
kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, tạo lập nhân cách cho người học. Người giáo viên
dạy nghề trước hết phải yêu nghề, có trình độ chuyên môn, tay nghề giỏi, có tài
năng sư phạm và sử dụng thành thạo các phương tiện hỗ trợ dạy học.
15
Từ các quan điểm và sự phân tích trên đây cho thấy, tiêu chuẩn để dánh giá một
giáo viên dạy nghề cần phải có đó là: Kiến thức tốt, kỹ năng giảng dạy và truyền đạt
tốt, muốn có được điều này lại cần có kinh nghiệm thực tế. Bên cạnh đó, giáo viên
dạy nghề phải là người hòa nhã, thân thiện, biết cách lắng nghe, chia sẻ với người
học. Một điều không thể thiếu đối với tất cả những người làm công tác sư phạm đó
là phẩm chất đạo đức hay còn gọi là sự tâm huyết đối với nghề.
Mặt khác, thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh
Xã hội quy định về chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề (Xem phụ lục 9)
Thực tế hiện nay ở nước ta đội ngũ giáo viên, giảng viên của các trường dạy
nghề trong cả nước vẫn còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan khác nhau. So với tốc độ gia tăng quy mô đào tạo nghề, sự ra đời của nhiều
trường nghề trong cả nước thì tốc độ tăng số lượng giáo viên giảng viên chưa đáp
ứng được yêu cầu; bên cạnh đó chất lượng giáo viên còn thấp, kỹ năng sư phạm
nghề chưa cao, nhất là các giáo viên trẻ mới ra trường, các trường nghề địa phương
mới thành lập đội ngũ giáo viên còn mỏng chưa có nhiều kinh nghiệm. Một bộ phận
giáo viên dạy thực hành nghề chưa qua thực tế sản xuất, chưa cập nhật kiến thức, kỹ
năng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Khả năng ngoại ngữ và tin học của nhiều giáo
viên còn hạn chế, ảnh hưởng rất lớn đến việc tham khảo và khai thác tài liệu ngước
ngoài phục vụ giảng dạy.
Để giải quyết những khó khăn trong xây dựng chương trình đào tạo nhằm đáp
ứng yêu cầu trên thì trước tiên phải xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn cấp
quốc gia, phù hợp với nền công nghiệp hiện nay, chương trình đào tạo phải đạt được
mục tiêu đào tạo nghề như Luật Giáo dục (2005) đã xác định: “Mục tiêu của giáo
dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các
trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khă năng tìm
việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh”.
Chương trình đào tạo nghề cấp quốc gia là “phần cứng” của chương trình mà bất cứ
17
trường dạy nghề nào trên toàn quốc có cùng cấp đào tạo chung ngành nghề đều phải
áp dụng như nhau. Ngoài ra tùy thuộc vào đặc điểm của vùng miền thuộc từng địa
bàn từng trường mà mỗi trường cần phải xây dựng thêm một nội dung gọi là “phần
mềm”. Phần mềm của chương trình do Nhà trường xây dựng phải dựa vào kết quả
nhà trường khảo sát, tìm hiểu, xem xét các yêu cầu của người sử dụng lao động để
đưa ra chuẩn mực đào tạo hợp lý, cải tiến chương trình. Trong khi nhu cầu và yêu
cầu của xã hội, của người sử dụng lao động luôn thay đổi theo sự phát triển của nền
kinh tế đất nước, điều quan trọng là phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và
người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo để người học làm quen công nghệ
mới khi thực tập tại các cơ sở. Tuy nhiên, việc gắn kết này còn hạn chế ở nhiều
trường, ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của người học.
Như vậy, chương trình đào tạo cần phải đúng, đủ, sát thực tế, đáp ứng nhu cầu
về chất lượng của thị trường lao động là kiến thức và tay nghề, chứ không chỉ đơn
thuần về số lượng các môn học cũng như số tiết từng môn học
Chất lượng dịch vụ hỗ trợ: Dịch vụ hỗ trợ là một trong những nhân tố làm
tăng sự thỏa mãn, sự cảm nhận của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ đó.
Chất lượng dịch vụ hỗ trợ trong hoạt động đào tạo nghề chủ yếu dựa vào thái độ
phục vụ của đội ngũ nhân viên ở các phòng, ban, khoa, bộ phận; sự quan tâm của
Nhà trường định hướng nghề nghiệp, dịch vụ sinh hoạt. Sự phục vụ thân thiện,
chuyên nghiệp sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
nghề
Cơ sở
vật chất
Đội ngũ
giáo viên
Người học
Chất lượng
dạy và học
- Sử dụng thành phạo các phương tiện hỗ trợ dạy học.
- Kinh nghiệm thực tế của giáo viên.
Bên cạnh đó thì mức độ trang bị phòng học, các loại máy móc thiết bị, phương
tiện dạy học cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Đối với người học: Cần xem xét đến khả năng, kiến thức của họ trước khi đào
tạo đồng thời nắm bắt được những khó khăn mà người học đối diện để từ đó đưa ra
phương pháp đào tạo, giáo dục hợp lý. Mặt khác, phải đánh giá kiến thức, kỹ năng
mà người học đạt được sau quá trình đào tạo. Ở đây, người học được nhắc đến với
các yếu tố: Chất lượng đầu vào của người học; Quyền và nghĩa vụ của người học; Ý
thức của người học; Khả năng tự nghiên cứu của người học; Kiến thức, kỹ năng,
vốn, kinh nghiệm sau khi đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của Đặng Quốc Bảo
(2001): Theo Đặng Quốc Bảo, chất lượng đào tạo là kết quả cuối cùng đạt được bởi
sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo. Quan niệm trên
được khái quát bởi mô hình sau:
Hình 1.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Trong đó :
Q : Chất lượng đào tạo, chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố :
20
Q
Môi trường
Giáo viên Sinh viên
quá trình đào tạo được vận hành một cách thuần thục, tăng cường khả năng nhìn
nhận vấn đề cho người dạy cũng như người học qua đó góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo.
Cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo: Bao gồm phòng học lý thuyết,
phòng thực hành, xưởng thực tập, thư viện và các phương tiện phục vụ hoạt động
dạy học và học, các yếu tố này càng hiện đại thì chất lượng đào tạo càng tốt.
21
Các tiêu chí kiểm định và điểm chuẩn cho từng tiêu chí kiểm định đánh giá
chất lượng của trường cao đẳng nghề của Bộ lao động thương binh xã hội hiện nay
(Quyết định số 02/2008/QĐ-BLĐTBXH), cụ thể như sau:
1) Mục tiêu và nhiệm vụ 6 điểm
2) Tổ chức và quản lý 10 điểm
3) Hoạt động dạy và học 16 điểm
4) Giáo viên và cán bộ quản lý 16 điểm
5) Chương trình, giáo trình 16 điểm
6) Thư viện 6 điểm
7) Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học 14 điểm
8) Quản lý tài chính 10 điểm
9) Các dịch vụ cho người học nghề 6 điểm
Tổng số điểm đánh giá tối đa cho tất cả các tiêu chí là 100
Từ các mô hình nghiên cứu trên đây, các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo
nghề của Bộ lao động thương binh xã hội và cơ sở lý thuyết nêu trên, ta có thể thấy
những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Tp
Hồ Chí Minh thông qua sự đánh giá của người học là : Chương trình đào tạo; Cơ sở
vật chất; Đội ngũ giảng viên; môi trường học tập; Dịch vụ hỗ trợ; Người học nghề.
Nhưng để biết chính xác trong những nhân tố nêu trên, những nhân tố ảnh hưởng
chính thức và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới chất lượng đào tạo nghề tại
Nhà trường thì ta cần phải lập mô hình nghiên cứu và tiến hành phân tích định
lượng thì mới có được sự đánh giá sát đáng. Trước tiên, tác giả xin đề xuất mô hình
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề như sau (Hình 1.4):
Chất lượng đào
tạo nghề
- Chủ động dẫn dắt người học vận dụng thực tế.
- Luôn phát huy tính tích cực của người học.
- Phương pháp giảng dạy sinh động thu hút.
- Sẵn sàng giúp đỡ người học trong học tập.
4/ Môi trường học tập:
- Thể hiện thân thiện với người học.
- Nơi đào tạo luôn có trách nhiệm đối với người học.
- Thường xuyên tìm hiểu đáp ứng tâm tư nguyện vọng của người học.
- Bầu không khí trong hoạt động rèn luyện và học tập được tâm thế tích cực
cho người học.
5/ Chất lượng dịch vụ hỗ trợ:
- Hoạt động tư vấn học tập, nghề nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu tốt nhu cầu tìm
hiểu và lựa chọn của người học.
- Nhân viên các phòng, khoa, ban có thái độ phục vụ tốt.
- Hoạt động tư vấn và chăm sóc sức khỏe tốt.
- Dịch vụ ăn ở đáp ứng tốt nhu cầu của người học.
6/ Người học nghề:
- Kiến thức trước khi học đảm bảo đáp ứng được yêu cầu trong đào tạo nghề.
- Có sự nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp.
- Người học luôn có thái độ học tập tích cực.
- Người học có ý thức tự học cao.
+ Các giả thiết nghiên cứu: tương ứng với mỗi nhân tố là một giả thiết nghiên cứu:
N1: Chương trình đào tạo sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
N2: Cơ sở vật chất đào tạo sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
N3: Đội ngũ giảng viên sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
N4: Môi trường học tập sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
N5: Chất lượng dịch vụ hỗ trợ sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
N6: Người học nghề sẽ có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo.
25