Tài liệu ôn thi ngữ văn vào 10 THPT 2018 kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) - Pdf 49

“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

-TÀI LIỆU ÔN THI NGỮ VĂN VÀO LỚP 10 THPT 2018 -

“KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (ĐOẠN TRÍCH)”
DANH MỤC TÀI LIỆU

Phần A: Tóm tắt kiến thức về kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích).
Phần B: Lập dàn ý chi tiết một số đề văn nghị luận về tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích).
Phần C: Giới thiệu một số bài văn nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích).

Tran
g
01
02
33

(*)(*)(*)(*)(*)
Phần A: Tóm tắt kiến thức kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích).
1. Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích):
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận
xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thể.
- Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt
truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người
viết phát hiện và khái quát.

nhìn đó, ví dụ quyền sống của con người, địa vị của người phụ nữ trong xã hội…
---------------------------------------------------------------------------------------------

Phần B: Lập dàn ý chi tiết một số đề văn nghị luận về tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích).
Đề số 1.
Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim
Lân (SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013).
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT tỉnh Thanh Hóa 2014-2015 - Câu 3(5,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
Yêu cầu:
* Về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn chỉnh,
lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi
chính tả, dùng từ, ngữ pháp cơ bản…
* Về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác
nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nhân vật ông Hai: (0,5 điểm)
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc
cuộc sống ở nông thôn. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh
ngộ của người nông dân. Truyện ngắn Làng được viết trong thời kỳ đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp. (0,25 điểm)
- Nhân vật ông Hai tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam
trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: yêu làng, yêu nước, gắn
bó với cuộc kháng chiến. (0,25 điểm)
2. Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật ông Hai. (3,5 điểm)
2.1. Ông Hai có tình yêu sâu sắc, đặc biệt với làng Chợ Dầu, nơi chôn rau cắt
rốn của mình.
- Tình yêu làng của ông gắn liền với việc hay khoe làng: luôn hãnh diện, tự hào về
phong trào cách mạng, tinh thần kháng chiến sôi nổi của làng (0,75 điểm)
- Vì yêu làng tha thiết nên khi phải rời làng đi tản cư cùng gia đình, lúc nào ông

thủy chung với kháng chiến. Ở nhân vật này vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa
mang tinh thần hiện đại, tình yêu làng quê thống nhất với tình yêu đất nước và
tinh thần kháng chiến của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đây
là vẻ đẹp của người nông dân mới sau cách mạng tháng Tám, một lòng theo Đảng,
theo Bác Hồ và có niềm tin sâu sắc với cách mạng. (0,25 điểm).
-----------------------Hết--------------------------------Đề số 2.
Cảm nhận về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn
Quang Sáng (SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015).
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT tỉnh Thanh Hóa 2016-2017-Câu 3 (5,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
Yêu cầu:
*Về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn chỉnh,
lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không mắc
lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp…
*Về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau
nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nhân vật bé Thu (0,5 điểm)
- Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn từ sau năm 1954, sáng tác chủ yếu ở
thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết. Chiếc lược ngà ra đời năm 1966, là truyện
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

3


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

ngắn xuất sắc trong đời văn của ông (0,25 điểm).
- Thu là cô bé giàu cá tính, bướng bỉnh, gan góc, nhưng ngây thơ, hồn nhiên,
có tình yêu sâu sắc, mãnh liệt. (0,25 điểm).

hiểm, gian khó.
= > Nhân vật bé Thu gợi ấn tượng sâu sắc về nỗi đau, mất mát và vẻ đẹp tâm
hồn, phẩm chất của con người Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt
của dân tộc. (Liên hệ với các hình tượng văn học khác cùng đề tài).
3. Đánh giá khái quát: (0,5 điểm)
- Nguyễn Quang Sáng rất thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

4


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

nhân vật bé Thu: miêu tả tâm lí sâu sắc, tinh tế; khắc họa tính cách qua hành
động, nội tâm, qua tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí. (0,25 điểm)
- Bé Thu gây ấn tượng, gợi xúc động mạnh mẽ trong lòng người đọc. Qua nhân
vật này, nhà văn ca ngợi tình cha con thiêng liêng, bất tử, tình cảm gia đình cao
quý. Từ câu chuyện cảm động của cha con bé Thu, ta càng thấu hiểu những đau
thương mà nhân dân Nam Bộ phải hứng chịu trong cuộc chiến tranh chống Mĩ
khốc liệt, càng trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, sức sống dẻo dai, bền bỉ của học.
(0,25 điểm).
------------------------------------Hết-------------------------------Đề số 3.
Phân tích tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu. Từ câu chuyện, em rút ra
được cho mình bài học gì?
(Trích đề tuyển sinh lớp 10 THPT Thành phố Huế năm 2007-2008-Câu 3 (4,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
* Yêu cầu về kỹ năng:
- Bài làm có đủ ba phần: Mở - Thân - Kết.
- Bài làm thể hiện kỹ năng nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.

---------------------------------------Hết------------------------------------Đề số 4.
Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần ông Sáu về thăm
nhà trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Hướng dẫn lập dàn ý (Đề 4,5 điểm):
1. Mở bài (0,25đ):
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
- Nêu cảm nhận khái quát về diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong
lần ông Sáu về thăm nhà.
2.Thân bài (4,0đ):
* Học sinh dẫn dắt khái quát rồi phân tích được sự thay đổi trong hành động,
tâm lí của nhân vật, qua đó cảm nhận được tình cảm sâu sắc mà bé Thu dành cho
cha.
2.1. Thái độ và hành động của bé Thu trước khi nhận ông Sáu là cha:
- Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới
có dịp về thăm nhà, thăm con. Gặp lại con, ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng
trong phút đầu nhìn thấy con. Nhưng thật trớ trêu, đáp lại sự vồ vập của cha, bé Thu
lại tỏ ra ngờ vực, lảng tránh và ông Sáu càng muốn gần con thì đứa con lại càng tỏ
ra lạnh nhạt, xa cách…
- Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt các chi tiết mà
người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng, mặt tái đi, rồi vụt
chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu; chỉ gọi trống không với ông Sáu mà
không chịu gọi cha; nhất định không chịu nhờ ông giúp chắt nước nồi cơm to đang
sôi; hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh cho
một cái thì bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng kêu
rổn rang thật to…
(HS lần lượt đưa ra dẫn chứng phân tích làm sáng rõ từng ý)
- Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, bé Thu không tin ông
Sáu là cha chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo, khác với hình ba mà nó đã được biết.
Sự ương ngạnh, phản ứng của bé Thu là không đáng trách mà hoàn toàn tự nhiên.
Qua đây ta thấy bé Thu có cá tính mạnh mẽ, tình cảm của em sâu sắc, chân thật, em

dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé của nó run run.
-> Tác giả sử dụng kết hợp các phép so sánh, tăng tiến, liệt kê, yếu tố miêu tả,
nghị luận… thể hiện ấn tượng sinh động tâm lí, tình cảm cô bé trong phút chia tay
cha
- Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết sẹo làm
thay đổi khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ bấy lâu đã được giải tỏa và ở Thu nảy sinh
một trạng thái như sự ân hận, hối tiếc “nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh
thoảng lại thở dài như người lớn”. Vì thế, trong giờ phút chia tay, tình yêu và nỗi
mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ
và hối hả, cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận vì trước đó đã trót đối xử không phải
với ba…
2.3. Đánh giá: Đánh giá chung về nhân vật và nghệ thuật kể chuyện:
- Nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu;
nghệ thuật xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên của tác giả…
- Nội dung: Tác phẩm đã diễn tả một cách cảm động tình cảm thắm thiết, sâu
sắc của bé Thu dành cho cha (trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh). Qua đó khẳng
định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc và
càng cao đẹp hơn trong những cảnh ngộ khó khăn. Tác phẩm còn gợi cho người đọc
nghĩ đến những đau thương mất mát, éo le mà chiến tranh gây ra cho bao nhiêu con
người, bao nhiêu gia đình…
3. Kết bài (0,25đ):
Khẳng định sự thành công của tác giả khi xây dựng nhân vật bé Thu và liên
hệ bản thân…
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

7


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

+ Có những suy nghĩ đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người.
+ Có đời sống tinh thần phong phú: Say mê đọc sách, xem đọc sách là một niềm
vui, là một người bạn.
+ Một con người thành thực, mến khách, luôn quan tâm tới người khác.
+ Một con người khiêm tốn, hi sinh thầm lặng,…
Chú ý: Trong quá trình làm bài, thí sinh phải đưa dẫn chứng và phân tích các dẫn
chứng để làm rõ từng đặc điểm, tính cách của nhân vật (sự phân tích, giải thích,
chứng minh phải có căn cứ thuyết phục).
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

8


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

3. Phần nhận xét:
Với cốt truyện nhẹ nhàng, chi tiết chân thực tinh tế, đối thoại sinh động, tình
huống truyện bất ngờ thú vị, tác giả đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của thế hệ
thanh niên trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước.
-----------------------------------Hết---------------------------------Đề số 6.
Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long (SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2015).
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT- Thanh Hóa năm 2016-2017, câu 3 (5,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
* Yêu cầu về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn
chỉnh, lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp cơ bản…
*Yêu cầu về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách
khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:

trích)”

chứng) (0,5 điểm)
- Anh còn là người luôn luôn có ý thức học tập không ngừng (qua sách báo)
(0,25 điểm)
- Anh biết sắp xếp cuộc sống của mình ngăn nắp, cẩn thận, biết tự chăm sóc cho
cuộc sống vật chất và tinh thần của bản thân: trồng hoa, nuôi gà,… (0,5 điểm)
- Đặc biệt anh là người biết quý trọng, cởi mở và luôn quan tâm đến người khác
(dẫn chứng) (0,5 điểm)
= > Nhân vật anh thanh niên là hiện thân của những con người lao động mới
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đang ngày đêm lặng lẽ
cống hiến sức lực của mình làm giàu cho tổ quốc.
(Liên hệ với các hình tượng văn học khác cùng đề tài). (0,25 điểm)
3. Đánh giá khái quát: (0,5 điểm)
- Nguyễn Thành Long rất thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng anh
thanh niên: xây dựng tình huống truyện hợp lý, cách kế chuyện tự nhiên có kết
hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận… (0,25 điểm)
- Nhân vật anh thanh niên gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc. Qua
nhân vật này, nhà văn khẳng định vẻ đẹp con người lao động mới và ý nghĩa của
những công việc thầm lặng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc những năm 70 của thế kỉ XX. (0,25 điểm).
--------------------------------Hết-------------------------------------Đề số 7.
Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long đã để cho
ông hoạ sĩ nghĩ về anh thanh niên như sau:
Người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá. Với những
điều làm cho người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái
vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp
người. Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi
bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác, có sẵn mà chưa rõ hay chưa được
đúng.

nghĩa cao quý trong công việc thầm lặng của mình. (1,0 điểm)
- Anh thực sự cảm thấy hạnh phúc khi biết những việc mình làm đã góp một
phần nhỏ giúp cho không quân bắn rơi máy bay Mĩ (từ hôm ấy cháu sống thật hạnh
phúc). Điều này giúp anh hiểu được ý nghĩa lớn lao của cuộc cuộc sống. (1,0 điểm)
- Anh suy nghĩ về những con người đang sống xung quanh anh: ông kĩ sư
nông nghiệp cần mẫn ngày này qua ngày khác thụ phấn cho hàng vạn cây su hào
với mong ước để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngọt
hơn trước; anh cán bộ nghiên cứu sét mười một năm không một ngày xa cơ quan để
quyết tâm hoàn thành cho được bản đồ sét. (1,0 điểm)
- Đó là những con người làm cho anh thanh niên thấy cuộc đời đẹp quá. Và
anh mơ ước được làm việc trên trạm đỉnh Phan xi phăng, nơi lí tưởng để làm công
việc khí tượng.
-> Qua những suy nghĩ của anh thanh niên, nhà văn đã ca ngợi và khẳng định
vẻ đẹp của con người lao động, của lí tưởng sống dựng xây Tổ quốc. (0,5 điểm)
3. Những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh
(2.5 điểm)
- Với ông hoạ sĩ già: anh đã làm cho ông xúc động mạnh, khiến ông đi hết
ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và làm cho trái tim mệt mỏi của ông trở nên
khao khát, yêu thêm cuộc sống. Ông quyết định quay trở lại nơi này để hoàn thành
bức vẽ chân dung anh. (1,0 điểm)
- Với cô kĩ sư trẻ: Anh đã làm cho cô cảm động và bị cuốn hút ngay từ giây
phút đầu tiên gặp, làm cho cô hiểu thêm cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp
của anh, hiểu thêm cái thế giới những con người như anh. Anh đã giúp cô nhìn nhận
lại bản thân mình, giúp cô yên tâm hơn về quyết định của mình, và trên tất cả là
những háo hức và mơ mộng mà anh đã trao cho cô. Cô gái chia tay anh bằng một
ấn tượng hàm ơn khó tả. (1,0 điểm)

https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

11

2. Thân bài:
- Đọc truyện, người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo, đầy chất
thơ, nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. Đó là
những con người miệt mài làm việc, nghiên cứu khoa học, trong lặng lẽ mà rất khẩn
trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của con người.
2.1. Đó là anh thanh niên:
- Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu.
Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ
cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là: đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo
chấn động mặt đất, dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản
xuất, phục vụ chiến đấu.
- Vượt lên hoàn cảnh sống, những vất vả của công việc, anh có những suy
nghĩ rất đẹp:
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

12


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

+ Đối với công việc, anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho
cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên
3000m. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.
+ Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống
con người: “khi ta làm việc, ta với công việc là một, sao lại gọi là một mình được”
và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí
dưới kia. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết
mất”.
+ Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. Khi

https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

13


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

+ Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc và những đóng
góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh nhiệt tình
giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh.
2.2. Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm, lặng lẽ
cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên:
a) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn, chăm
chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào
để hạt giống làm ra tốt hơn, để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn, ngọt
hơn trước.
b) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: đã “11 năm không một ngày xa cơ quan”
luôn “trong tư thế sẵn sàng, suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong
lòng đất.
⇒ Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu
còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”.
⇒ Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im... cho đất nước”.
2.3. Nhân vật anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên cứu sét
giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng:
- Sống cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân, sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho
con người niềm vui và hạnh phúc.
- Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của
mỗi con người, có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh.
3. Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang

– Chất thơ được biểu hiện phong phú, bàng bạc trong cả đoạn trích Lặng lẽ
Sa Pa nhưng chủ yếu toát lên từ thiên nhiên đẹp đầy thơ mộng của Sa Pa, thấm
đượm trong vẻ đẹp cuộc sống một mình giữa thiên nhiên lặng lẽ của anh thanh
niên, từ tình cảm, cảm xúc đẹp đẽ về con người, nghệ thuật, cuộc sống của người
họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ… Biểu hiện của chất thơ trong đoạn trích Lặng lẽ Sa Pa:
Chất thơ trong thiên nhiên:
– Cảnh đẹp Sa Pa đẹp một cách kì lạ, quyến rũ khiến con người ta ngỡ ngàng
khi lần đầu tiên bắt gặp. Sa Pa bắt đầu với những rặng đào…những đàn bò lang
cổ…; Sa Pa của nắng ngập tràn (nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây…
nắng chiếu làm cho bó hoa thêm rực rỡ…nắng đã mạ bạc cả con đèo…); Sa Pa của
những rừng cây (những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng), của
sương (các vòm lá ướt sương)… Sa Pa không hoang vu, lạnh lẽo mà mang nét đẹp
thơ mộng, huyền ảo và rất đỗi hữu tình.
b) Chất thơ trong vẻ đẹp của con người:
* Nhân vật anh thanh niên
– vẻ đẹp toát lên từ những suy nghĩ, cảm xúc, việc làm, cách sống của anh:
Đó là con người có tình yêu nghề, có ý thức sâu sắc về công việc của mình và ý
nghĩa của công việc với cuộc sống con người, có tinh thần trách nhiệm, biết vượt
lên khó khăn và gian khổ của hoàn cảnh sống và làm việc.
– Là một chàng trai với tâm hồn cởi mở, chân thành, quý trọng tình cảm, khát
khao được gặp gỡ, trò chuyện với mọi người. chức, sắp xếp cuộc sống một cách
chủ động, ngăn nắp, lãng mạn.
– Là con người khiêm tốn, trân trọng sự hi sinh thầm lặng của những người
xung quanh. Vẻ đẹp bình dị, thầm lặng của anh thanh niên đã đem lại niềm vui bất
ngờ cho mọi người và khơi gợi cho họ những nhận thức sâu sắc về lẽ sống, cuộc
đời, nghệ thuật. Lưu ý: Cần có dẫn chứng cụ thể cho mỗi ý trên.
* Các nhân vật khác:
– Người họa sĩ: con người từng trải, tâm huyết với nghệ thuật, khát khao đi
tìm đối tượng của nghệ thuật, có tâm hồn nghệ sĩ giàu xúc cảm trước vẻ đẹp của
thiên nhiên, vẻ đẹp của tâm hồn con người và nghệ thuật.

-------------------------Hết-----------------------------------Đề số 10.
Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những
ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam,
2013).
(Trích đề tuyển sinh vào lớp 10 THPT- Thanh Hóa năm 2014-2015, câu 3 (5,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
* Yêu cầu về kĩ năng (0,5 điểm): Đảm bảo một bài văn nghị luận văn học hoàn
chỉnh, lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý; hành văn trong sáng, có cảm xúc; không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp cơ bản…
* Yêu cầu về kiến thức (4,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách
khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và nhân vật Phương Định: (0,5 điểm)
- Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn. “Những ngôi sao xa
xôi” là một trong những tác phẩm đầu tay của nhà văn Lê Minh Khuê, viết năm
1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra ác liệt.
- Phương Định là nhân vật chính của truyện, đã để lại trong lòng người đọc ấn
tượng khó phai mờ về một cô gái gan dạ, dũng cảm, lạc quan, mơ mộng.
2. Cảm nhận về vẻ đẹp của của nhân vật Phương Định:
2.1. Vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm, thái độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy (1,0
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

16


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

điểm)
- Công việc thường ngày của chị luôn đối diện với ranh giới mong manh giữa sự
sống và cái chết, nhưng chị vẫn bình thản, thậm chí còn thấy thú vị.

ngôi kể hợp lí; ngôn ngữ kể chuyện trẻ trung, tự nhiên; nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật, đặc biệt là tâm lí người phụ nữ. (0,25 điểm)
- Vẻ đẹp nhân vật Phương Định chính là vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong
thời kháng chiến chống Mĩ; vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu nước và ý
thức trách nhiệm sẵn sàng cống hiến, hi sinh. (0,25 điểm)
---------------------------------Hết--------------------------------------https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

17


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

Đề số 11.
Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện “Những ngôi sao xa xôi” của
Lê Minh Khuê.
(Phần trích đoạn đã được học trong Ngữ văn lớp 9, tập II)
(Trích đề tuyển sinh lớp 10 THPT–Nam Định năm học 2007–2008, câu 4 (5,0đ))
Hướng dẫn lập dàn ý:
Yêu cầu: Đây là kiểu bài phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự. Học sinh có
thể chọn bố cục bài viết một cách sáng tạo khác nhau (phân tích theo trình tự diễn
biến truyện để phát hiện về ngoại hình và đặc điểm tính cách của nhân vật…),
nhưng việc phân tích phải hướng vào yêu cầu của đề.
1. Giới thiệu vài nét về tác giả và truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. (0,5
điểm)
- Lê Minh Khuê thuộc thế hệ nhà văn bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ. Những tác phẩm đầu tay của cây bút nữ này ra mắt vào đầu những
năm 70 của thế kỷ XX, đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong
và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn.
- Truyện “Những ngôi sao xa xôi” là tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê,

Phương Định và đồng đội của cô, những công việc ấy đã trở thành thường ngày: “
Có ở đâu như thế này không…chạy về hang”. (0,5 điểm)
- Mặc dù đã quen công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thể phải
phá tới năm quả bom, nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách với thần kinh cho đến
từng cảm giác. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là
“các anh cao xạ” ở trên kia đang dõi theo từng động tác, cử chỉ của mình, để lòng
dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: “Tôi đến gần quả bom… đàng
hoàng mà bước tới” ở bên quả bom, kề sát với cái chết im lìm mà bất ngờ, từng cảm
giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng…dấu
hiệu chẳng lành”. (0,5 điểm)
- Có lúc chị nghĩ đến cái chết nhưng chỉ “mờ nhạt” còn ý nghĩ cháy bỏng là
“liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm thế nào để châm mìn lần thứ
hai?”. Mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên hết. (0,5 điểm)
* Tâm hồn trong sáng (1,5 điểm)
- Giàu tình cảm với đồng chí đồng đội quê hương (0,75 điểm)
+ Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến
những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt cô dành tình yêu và
niềm cảm phục cho tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng
điểm của con đường vào mặt trận. Chị đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm
chưa về. Chị yêu thương gắn bó với bạn bè nên đã có những nhận xét tốt đẹp về
Nho và phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương “nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn.
Chị hiểu sâu sắc những sở thích và tâm trạng của chị Thao. (0,25 điểm)
+ Phương Định là con gái vào chiến trường nên cũng có một thời học sinh
hồn nhiên, vô tư bên người mẹ với một căn buồng nhỏ ở một đường phố yên tĩnh
trong những ngày thanh bình trước chiến tranh ở thành phố của mình. Những kỷ
niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát
làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường. (0,5
điểm)
- Lạc quan yêu đời: Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử
thách nguy hiểm, giáp mặt hàng ngày với cái chết, nhưng ở cô cũng như những

Những nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới
mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần
của mình góp vào đời sống chung quanh”.
(Ngữ văn 9 - Tập hai)
Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn Làng, em hãy làm sáng tỏ điều mới mẻ, “lời
nhắn nhủ” mà nhà văn Kim Lân muốn đem “góp vào đời sống”.
Hướng dẫn lập dàn ý:
Yêu cầu:
1. Về kĩ năng:
Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học về truyện. Văn viết trôi chảy, cảm
xúc, thể hiện được tư chất văn chương. Không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, chính tả...
2. Về kiến thức:
Học sinh có thể có cách trình bày khác nhau, nhưng về cơ bản phải:
- Giải thích sơ lược tinh thần đoạn văn của Nguyễn Đình Thi:
+ Nội dung của một tác phẩm nghệ thuật là hiện thực cuộc sống và những
khám phá, phát hiện riêng của người nghệ sĩ.
+ Những khám phá, phát hiện ấy chính là điều mới mẻ góp phần quan trọng
tạo nên giá trị của một tác phẩm nghệ thuật và mang theo thông điệp của người
nghệ sĩ.
- Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã thể hiện được điều mới mẻ và “lời nhắn
nhủ” của riêng nhà văn trên cơ sở “vật liệu mượn ở thực tại”.
+ “Vật liệu mượn ở thực tại” trong tác phẩm Làng là hiện thực cuộc kháng
chiến chống Pháp và đời sống tình cảm của nhân dân trong kháng chiến.
+ Điều mới mẻ:
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

20


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn

- Nguyễn Dữ là người sống ở thế kỷ XVI, thời kì triều đình nhà Lê bắt đầu
khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê Mạc, Trịnh giành quyền bính, gây ra các
cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi xin
nghỉ về nhà nuôi mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời.
(0,25 điểm)
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong 20 truyện của “Truyền kỳ
mạn lục” (Ghi chép tản mạn những điều kỳ lạ vẫn được lưu truyền). “Truyền kỳ
mạn lục” được viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian và truyền thuyết
lịch sử, dã sử của Việt Nam. Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức
hạnh, khao khát cuộc sống bình yên, hạnh phúc, nhưng các thế lực tàn bạo cùng lễ
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

21


“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

giáo phong kiến khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất và
bất hạnh. (0,25 điểm)
2. Phân tích nhân vật Vũ Nương để làm sáng tỏ nhận định (4,0 điểm)
2.1. Số phận oan nghiệt của Vũ Nương (2,0 điểm)
- Tình duyên ngang trái: Nguyễn Dữ đã cảm thương cho Vũ Nương- người
phụ nữ nhan sắc và đức hạnh lại phải lấy Trương Sinh, một kẻ vô học hồ đồ vũ phu.
Thương tâm hơn nữa, người chồng còn “có tính đa nghi” nên đối với vợ đã “phòng
ngừa quá sức”. (0,25 điểm)
- Mòn mỏi đợi chờ, vất vả gian lao: Đọc tác phẩm, ta thấy được nỗi niềm đau
đớn của nhà văn với Vũ Nương – người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là sự
xót xa cho hoàn cảnh éo le của người phụ nữ: lấy chồng chưa được bao lâu, “chưa
thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh”, nàng đã phải tiễn biệt chồng



“TL ôn thi Ngữ văn vào lớp 10 THPT2018-Kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn
trích)”

- Nỗi oan cách trở: Hình ảnh Vũ Nương ngồi kiệu hoa, phía sau có năm mươi
chiếc xe cờ tán võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện... là những chi tiết hoang
đường, nhưng đã tô đậm nỗi đau của người phụ nữ “bạc mệnh” duyên phận hẩm
hiu, có giá trị tố cáo lễ giáo phong kiến vô nhân đạo. Câu nói của hồn ma Vũ Nương
giữa dòng sông vọng vào: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được
nữa” làm cho nỗi đau của nhà văn thêm phần bi thiết. Nỗi oan tình của Vũ Nương
được minh oan và giải toả, nhưng âm – dương đã đôi đường cách trở, nàng chẳng
thể trở lại nhân gian và cũng không bao giờ còn được làm vợ, làm mẹ. (0,25 điểm)
2.2. Vẻ đẹp truyền thống của Vũ Nương (2,0 điểm)
- Người con gái “thuỳ mị, nết na” và “tư dung tốt đẹp”: Tác giả đã giới thiệu
về Vũ Nương với một chi tiết thật ngắn gọn, khái quát “Tính đã thùy mị, nết na lại
thêm có tư dung tốt đẹp”. Nàng là một cô gái danh giá nên Trương Sinh, con nhà
hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. (0,25
điểm)
- Người vợ thuỷ chung (0,75 điểm)
+ Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là một người phụ nữ khéo léo, đôn hậu,
biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra cảnh vợ
chồng phải “thất hoà”.
+ Khi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy chúc chồng “được hai
chữ bình yên”. Nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê
cũ. Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng đã coi trọng hạnh phúc gia đình hơn
mọi công danh phù phiếm ở đời. Vũ Nương còn thể hiện niềm cảm thông trước nỗi
vất vả, gian lao mà chồng phải chịu đựng và nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung của
mình: “Nhìn trăng soi... bay bổng”
+ Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết, nỗi

- Người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến: Qua hình tượng Vũ Nương,
người đọc thấy trong Vũ Nương cùng xuất hiện ba con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu
thảo, người vợ đảm đang chung thủy, người mẹ hiền đôn hậu. Ở nàng, mọi cái đều
sáng tỏ và hoàn hảo đến mức tuyệt vời. Đó là hình ảnh người phụ nữ lý tưởng trong
xã hội phong kiến ngày xưa. (0,25 điểm)
3. Đánh giá (0,5 điểm)
- Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền
uy của những kẻ giàu có và những người đàn ông trong gia đình. Những người phụ
nữ đức hạnh ở đây không được bênh vực, chở che mà còn bị đối xử bất công, vô lí.
Những vẻ đẹp của Vũ Nương rất tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến
nay. Thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của Vũ Nương và khẳng
định vẻ đẹp truyền thống của nàng, tác phẩm đã thể hiện giá trị hiện thực và nhân
đạo sâu sắc. (0,25 điểm)
- Liên hệ so sánh với những tác phẩm viết về nỗi bất hạnh của người phụ nữ
và ca ngợi vẻ đẹp của họ: Văn học dân gian, “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, thơ Hồ
Xuân Hương, “Chinh phụ ngâm” – Đoàn Thị Điểm, “Cung oán ngâm khúc” –
Nguyễn Gia Thiều... (0,25 điểm)
-------------------------------Hết------------------------------------Đề số 14.
Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương bằng chi
tiết Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất.
Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh
phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn. Có người lại nhận
xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí.
Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.
(Trích đề thi HSG Ngữ văn 9 tỉnh Thanh Hóa năm 2013– 2014, câu 3 (12,0 điểm))
Hướng dẫn lập dàn ý:
* Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm một bài nghị luận văn học: hệ thống luận điểm rõ ràng, lập
luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, hình ảnh.
https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

văn. Tác giả đã sử dụng yếu tố hoang đường kì ảo và lối kể chuyện dân gian để thể
hiện tư tưởng của mình. Bên cạnh giá trị nhân đạo, truyện còn có giá trị hiện thực
sâu sắc. Nếu tác giả để cho Vũ Nương trở về với cuộc sống thực tại thì nàng cũng
không thể có được hạnh phúc với một người chồng đa nghi, độc đoán cùng những
định kiến nặng nề của xã hội đương thời. (2,0 điểm)
- Kết thúc truyện như vậy là hoàn toàn hợp lí vì nó vừa thể hiện được tư
tưởng của tác giả, vừa đảm bảo tính lôgic của cốt truyện đồng thời phản ánh một
cách chân thực, khách quan số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.(2,0
đ)
3. Đánh giá khái quát (1,0 điểm)
Cách kết thúc câu chuyện của nhà văn không chỉ góp phần tạo nên sức sống
của tác phẩm mà còn khẳng định tài năng của tác giả.
-------------------------------Hết---------------------------------------

https://123doc.org/trang-ca-nhan-3408296-loc-tin-tai.htm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status