Kinh nghiệm rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở tân lập - Pdf 43

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Về nội dung kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9.
2.2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về kĩ năng làm bài văn nghị luận về
tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
2.2.3. Thực trạng nhận thức của học sinh về kĩ năng làm bài văn nghị luận về
tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
2.3. Các biện pháp thực hiện rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác
phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học
sinh lớp 9 trường trung học cơ sở Tân Lập.
2.3. Các giải pháp, biện pháp thực hiện.
2.3.1. Biện pháp 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn
thơ.
2.3.1.1. Kĩ năng chung về rèn luyện làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn
thơ.
2.3.1.2. Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ.
2.3.1.3. Dạng 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về toàn bộ bài thơ.
2.3.1.4. Dạng 2: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một phương diện của
bài thơ.
2.3.1.5. Dạng 3: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về nhân vật trữ tình

5
7
7
7
7
8
9
10
9
13
13
14
15
16
17
18
20
21
21
22

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đối
với học sinh trung học cơ sở. “Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác
sâu rộng, phong phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn học (nghị
luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài

tài liệu hướng dẫn về việc rèn các kĩ năng làm bài văn nghị luận. Tham khảo
sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 9.
Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm dạy và học: Tích lũy các giờ dạy
trên lớp, dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ góp ý.
2


Phương pháp thực nghiệm, áp dụng dạy thử nghiệm trên lớp, so sánh đối
chứng: Lựa chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (trong năm học 2015-2016
và 2016-2017 tôi chọn lớp 9A là lớp đối chứng, lớp 9B là lớp thực nghiệm).
Phương pháp phân tích: So sánh chất lượng các bài viết, lực học, mức độ
tích cực của học sinh khi chưa áp dụng rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác
phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ với khi đã
áp dụng việc rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Kiểu văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữ
văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Bản chất của việc học thể
loại nghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích,
chứng minh, phân tích, bình giảng...) để từ đó giúp các em biết trình bày một
cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn
đề văn học. “Học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phải
biết xây dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến các mức độ cao”[2].
Trong khi rèn luyện kĩ năng cách làm bài văn nghị luận văn học thì mỗi
một giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tích cực sự sáng tạo của từng học
sinh chứ không được gò ép theo những khuôn mẫu.
Chúng ta cần xác định đây là tiết dạy học rèn luyện, rèn phương pháp, kĩ
năng làm văn chứ không phải là giảng văn. Vì thế cần tránh sa vào bình giảng và
phân tích một tác phẩm cụ thể. Việc học sinh học tốt môn Ngữ văn nói chung và

Giáo viên khó có thể thực hiện đầy đủ, trọn vẹn việc truyền đạt kiến thức kĩ năng cho từng đối tượng học sinh về cách viết bài văn, xây dựng đoạn văn,
tách đoạn văn, liên kết đoạn văn bởi vì thời lượng không cho phép. Ở các tiết
“Trả bài viết Tập làm văn”, tiết “Ôn tập”, tiết “Luyện nói” nhiều khi giáo viên
chưa hướng dẫn chưa được cụ thể cho các em xây dựng được bố cục của các
dạng bài viết cụ thể.
Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc giảng dạy tập làm văn cũng
còn hạn chế, chưa hợp lí… nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến viếc gây hứng thú
và việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
Trước đây khi dạy văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và
nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho các em, tôi mới chỉ giúp các em nắm bắt
được những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa. Trong quá trình dạy chỉ dạy
tập làm văn ở những tiết học về tập làm văn, chưa tận dụng được thời gian ở các
phân môn khác để tích hợp với phần tập làm văn. Đặc biệt chưa chú trọng luyện
tập và ra bài tập về các dạng bài văn nghị luận về nhà cho các em để từ đó hình
thành kĩ năng làm bài.
2.2.3. Thực trạng nhận thức của học sinh về kĩ năng làm bài văn nghị
luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ,
bài thơ.
Đời sống còn nhiều khó khăn, các em phải lao động hàng ngày ở ngoài
ruộng nương và làm nhiều việc phụ giúp gia đình nên ít có thời gian để đọc các
tài liệu tham khảo, mở rộng hiểu biết.
Xa trung tâm xã, huyện, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ
việc dạy học nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo. Vì vậy chỉ có thể
nắm bắt được những gì sách giáo khoa cung cấp.
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh lớp 9 trường trung
học cơ sở Tân Lập lại ít có điều kiện cũng như thời gian để luyện tập. Bên cạnh
đó học sinh chủ yếu là người dân tộc Thái và Mường dẫn tới vốn từ không
phong phú do về nhà các em thường giao tiếp bằng tiếng của dân tộc mình)
những điều kiện trên làm cho các em nghèo nàn về vốn từ nên khi viết bài cũng
thêm phần khó khăn.

năng thuần thục, cung cấp kiến thức đầy đủ để cuối năm học các em tham gia
lao đọng sản xuất, dự kì thi tuyển vào trung học phổ thông và tham gia các lớp
học nghề ... Cuối tháng 3 năm học 2013 – 2014 và năm học 2014 - 2015 khi học
sinh đã học hết phần nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận
về một đoạn thơ, bài thơ tôi tiến hành ra đề nghị luận văn học, sau đó chấm bài,
mục đích để nắm bắt được khả năng làm bài nghị luận của học sinh. Kết quả
điểm khảo sát năm học 2013 – 2014 và năm học 2014 - 2015 ở hai lớp 9 môn
Ngữ văn như sau:
Bảng 1:
Năm học

Khối


số

Điểm
9 - 10

7 - 8,5

SL % SL

5 - 6,5

3 - 4,5

0 - 2,5

%


8

17.0

4

8.5

2014-2015

9

49

2

4.1

9

18.4

24

49.0

9

18.4


Điểm
9 - 10

7 - 8,5

SL % SL

5 - 6,5

3 - 4,5

0 - 2,5

%

SL

%

SL

%

SL

%

9A


4

16.0

14

56.0

4

16.0

2

8.0

9A

27

1

3.7

4

14.8

15


3

10.7

Từ bảng trên, cùng với thực tế giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy trình độ và
kiến thức Ngữ văn ở các lớp đối chứng (9A) và thực nghiệm (9B) trong cả hai
năm học là tương đương nhau.
2.3. Các biện pháp thực hiện rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận
về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
cho học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở Tân Lập.
2.3.1. Biện pháp 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ.
2.3.1.1. Kĩ năng chung về rèn luyện làm bài nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ.
Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản.
Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ. Đặc
biệt phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàn
cảnh ra đời đến giá trị bài thơ, đoạn thơ.
Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng của
thơ ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận.
Đó là thể thơ, là hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, có
thể đặt các câu hỏi sau để định hướng cho việc nghị luận.
Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì ?
Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không ?
Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo ? Giá trị biểu đạt là
gì ?
Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào ?
Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích ? Phân tích ra
sao ?
Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?

VD : Cho đoạn thơ:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
(Sang thu – Hữu Thỉnh)
Đặt câu hỏi để định hướng khai thác đoạn thơ ?
Gợi ý:
a. Hệ thống câu hỏi có thể là:
Đoạn văn có những từ ngữ nào đặc sắc ? Tác dụng như thế nào ? (Một loạt
phó từ : vẫn, đã, cũng kết hợp với những động từ diễn tả sự tồn tại:còn, vơi, bớt :
Sự biến đổi rất tinh tế của các hiện tượng tự nhiên, của thời tiết, khí hậu lúc sang
thu).
7


Biện pháp tu từ nghệ thuật có giá trị trong đoạn thơ là gì ? ( Biện pháp nhân
hoá - ẩn dụ: Sấm - ẩn dụ cho những vang động, những bất thường, sóng gió của
cuộc sống; hàng cây đứng tuổi ẩn dụ cho những con người đã “sang thu” già dặn,
chín chắn,…Ý nghĩa triết lí về cuộc sống…).
Giọng điệu đoạn thơ như thế nào ? (nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất suy tư,
bài học ý nghĩa càng trở nên thấm thía sâu sắc với người đọc, người nghe).
Nội dung bao trùm đoạn thơ là gì ? (diễn tả tinh tế những biến chuyển rõ rệt
của thời tiết, khí hậu lúc sang thu và đưa ra bài học triết lí về con người, về cuộc
đời).
- Vai trò, vị trí của đoạn thơ đối với bài thơ như thế nào ? (đoạn thơ không chỉ
góp phần bổ sung, hoàn chỉnh bức tranh sang thu của thiên nhiên đất trời và sự
sang thu của đời người mà còn thể hiện những bài học chiêm nghiệm quý giá về
cuộc đời con người. Với nội dung ấy đoạn thơ đã góp phần không nhỏ đối với
thành công và giá trị, sức sống lâu bền của toàn bài thơ…).

thuyết phục.
8


c. Kết bài:
Đánh giá vai trò vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đối
với văn học dân tộc nói chung.
Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ.
Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng
mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm.
a. Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ
b. Thân bài:
Cảm nhận chung về hình thức kết cấu bố cục của bài thơ: chia ba đoạn, với
ba khúc ru, ba khúc ru có sự đan xen lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ
dành cho em bé. Ba khúc ru được lặp lại những câu đầu, được sắp xếp theo trình
tự tăng tiến, với sự mở rộng về không gian, về tính chất công việc người mẹ
làm, đặc biệt về sự nâng cao phát triển trong tình cảm, ước mơ của người mẹ…
Nhờ thế vẻ đẹp của hình tượng người mẹ cũng như tình cảm của tác giả dành
cho mẹ cũng được nhấn mạnh, tô đậm hơn lên.
Lần lượt cảm nhận cụ thể:
Vẻ đẹp của người mẹ Tà Ôi: một người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàu
ước mơ và giàu nghị lực… Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc
sống lao động và chiến đấu, vẻ đẹp của những người mẹ anh hùng.
Tình cảm thái độ của tác giả dành cho mẹ: sự thấu hiểu, cảm thương, niềm
trân trọng, khâm phục, ngợi ca tự hào…
c. Kết bài: Khẳng định giá trị của bài thơ về cả nội dung và nghệ thuật; nâng
cao, mở rộng.
2.3.1.4. Dạng 2: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một phương
diện của bài thơ.
Vì chỉ cảm nhận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của bài thơ,

Vẻ đẹp của tình bà thiêng liêng, cao cả:
Bà đã hết lòng yêu thương, dạy bảo, chăm sóc cháu, sẻ chia những buồn vui
cùng cháu. bà vừa là người bà của cháu, đồng thời cũng là người mẹ người cha,
người bạn của cháu vậy. Bà đã thắp sáng lên ngọn lửa của tình yêu thương.
Bà là người chuẩn bị cho cháu đầy đủ hành trang để vào đời, để cháu lớn
khôn trưởng thành; là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa cho bao thế hệ.
Vẻ đẹp của tình cháu dành cho bà: Sâu nặng, chân thành, cháu thương bà
vất vả, khó nhọc, lo lắng và quan tâm bà, biết nghe lời bà.
Cháu yêu quý, tự hào, ngợi ca, biết ơn bà.
Khi xa bà cháu đã nhớ bà da diết khôn nguôi, nỗi nhớ mang nặng cả tình
thương yêu, lòng biết ơn, quý trọng…
Để diễn tả tình bà cháu cao đẹp như vậy nhà thơ đã thành công trong việc
lựa chọn thể thơ 8 chữ, trong xây dựng hình ảnh mang nhiều ý nghĩa, cách dùng
điệp từ điệp ngữ…
Tình bà cháu đựơc thể hiện trong bài thơ rất chân thành cảm động. Càng
cảm động và thiêng liêng hơn khi tình cảm ấy được gắn liền hoà quyện với tình
yêu quê hương đất nước. Mỗi chúng ta cần biết trân trọng nâng niu, bồi đắp tình
cảm gia đình cho mình…
c. Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ. Liên hệ tình
bà trong những tác phẩm khác và trong thực tế cuộc sống.
2.3.1.5. Dạng 3: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về nhân vật trữ
tình trong bài thơ.
- Nhân vật trữ tình ở đây là người bày tỏ thể hiện cảm xúc, chứ không phải
là nhân vật là đối tượng trữ tình trong bài thơ. Vậy nên, nghị luận về nhân vật
này là nghị luận về diễn biến tâm trạng, tình cảm cảm xúc của nhân vật thể hiện
trong bài thơ. Có nhân vật trữ tình trực tiếp (thường là tác giả, tự xưng) và nhân
10


vật trữ tình nhập vai (nhập vai vào một nhân vật khác, nhưng đằng sau đó vẫn là

nâng cao, đánh giá về tư tưởng, tình cảm của nhân vật.
c. Kết bài: Đặt trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ để khẳng định lại tâm
trạng, cảm xúc của nhân vật và đánh giá về vai trò ý nghĩa của việc thể hiện
những tâm trạng ấy trong giá trị chung của toàn bộ bài thơ. Suy nghĩ và rút ra
bài học…
Ví dụ: Những cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ Thanh Hải thể hiện qua
bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ”.
Dàn bài:
a. Mở bài:
Giới thiệu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải
11


Nhấn mạnh: đọc bài thơ, ta xúc động, trân trọng biết bao trước những cảm
xúc, tình cảm chân thành mà thi nhân gửi gắm thể hiện.
b. Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm nhỏ sau:
Trước hết đó là niềm say mê, ngây ngất, là tình yêu thiết tha của Thanh Hải
trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, đất trời (phân tích tín hiệu nghệ thuật
làm rõ).
Không chỉ vậy nhà thơ còn hết sức tự hào, hạnh phúc, sướng vui trước mùa
xuân của đất nước, trước sức trỗi dậy vươn lên, sự phát triển mạnh mẽ của dân
tộc ta trong thời kì đổi mới.( phân tích dẫn chứng)
Càng yêu mến, tự hào về quê hương đất nước, nhà thơ càng thiết tha, khao
khát được cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé của mình- một mùa xuân nho
nhỏ, mong muốn nhắn nhủ mọi thế hệ chúng ta hãy chung tay vào góp sức xây
dựng đất nước để cho mùa xuân đất nước sẽ càng tươi đẹp hơn. (phân tích dẫn
chứng).
Cả bài thơ là một khúc ca xuân, một khúc ca tự hào, ngợi ca đất nước quê
hương ( phân tích kĩ hơn ở khổ cuối) của nhà thơ, của những con người yêu đất
nước thiết tha.

Nghị luận về toàn bộ tác phẩm.
Nghị luận về một phương diện nội dung (Giá trị nội dung cụ thể, một nhân
vật cụ thể của tác phẩm).
Nghị luận về một nét đặc sắc trong nghệ thuật tác phẩm (nghệ thuật miêu tả
xây dựng nhân vật, xây dựng tình huống).
Nghị luận về đặc điểm phong cách của tác giả qua tác phẩm.
Mỗi đối tượng nghị luận như thế cần vận dụng phương pháp làm bài phù
hợp, tránh sai lạc, thiếu sót.
2.3.2.2. Dạng 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về toàn bộ tác
phẩm (hoặc đoạn trích).
Nghị luận về toàn bộ tác phẩm nên cần chú ý nghị luận đầy đủ trên cả hai
phương diện: giá trị nội dung và nghệ thuật (như đã trình bày trên). Thường thì
trước khi nghị luận, cần tóm tắt tác phẩm hoặc đoạn trích, rồi nghị luận về giá trị
nội dung, nghệ thuật.
Mỗi tác phẩm phản ánh và thể hiện một nội dung riêng, nên cần nhận ra nội
dung hiện thực của tác phẩm là gì để nghị luận về bức tranh hiện thực đó thông
qua việc cảm nhận phân tích về các nhân vật, sự việc, các chi tiết liên quan. Từ
nội dung hiện thực, chuyển qua nghị luận về giá trị nội dung tư tưởng (tư tưởng
nhân đạo, tư tưởng yêu nước, những triết lí suy ngẫm của tác giả thể hiện qua
tác phẩm, sức sống mãnh liệt của con người…).
Cần khái quát được những nét nghệ thuật thành công của tác phẩm, chọn và
phân tích chứng minh một số nét nghệ thuật tiêu biểu nhất như nghệ thuật xây
dựng nhân vật, tạo tình huống… (có dẫn chứng).
Trình tự trình bày giữa các các ý, các đoạn là do người viết lựa chọn sao
cho phù hợp, dễ lập luận…
Đánh giá khái quát được giá trị, vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác
của tác giả và sự đóng góp của tác giả vào nền văn học nước nhà.
Trong qua trình nghị luận có thể dùng phương pháp so sánh với những tác
phẩm tác giả khác để bài viết sâu sắc hơn.
Dàn bài chung:

Nghị luận về một phương diện, khía cạnh nào đó trong toàn bộ tác phẩm,
đoạn trích nên chỉ cần dựa vào những chi tiết, sự việc, nhân vật tiêu biểu thể
hiện cho phương diện, khía cạnh đó mà tập trung phân tích, cảm nhận. Tránh sa
vào nghị luận toàn bộ tác phẩm hoặc nghị luận lạc sang đới tượng khác.
Dàn bài:
a. Mở bài: Giới thiệu chung về tác phẩm, đoạn trích. Nêu phương diện
vần đề cần nghị luận mà đề bài yêu cầu.
b. Thân bài: Tiến hành nghị luận về những biểu hiện cụ thể của vấn đề.
Mội biểu hiện có thể trình bày thành một đoạn văn. Trong quá trình nghị luận
phải bám vào tác phẩm, đoạn trích để dẫn ra những chi tiết, hình ảnh, nhân vật,
sự việc tiêu biểu nhằm phân tích làm rõ vấn đề. (Tránh lan man, đưa dẫn chứng
không phù hợp, hoặc sa vào nghị luận vấn đề khác, hay nghị luận toàn tác phẩm,
đoạn trích).
c. Kết bài: Khẳng định, đánh giá ý nghĩa của vấn đề vừa nghị luận đối với
thành công, giá trị chung của toàn tác phẩm; đồng thời nêu ấn tượng cảm nghĩ
của bài thân về vấn đề, về tác phẩm…
Ví dụ: Suy nghĩ về tình cha con trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.
Gợi ý :

14


a. Mở bài: Giới thiệu “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là truyện
ngắn viết về tình cha con của người cán bộ kháng chiến đã hi sinh trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ của dân tộc.
b.Thân bài: Trình bày, phân tích được 2 luận điểm sau.
Tình cảm của bé Thu dành cho cha thật cảm động và sâu sắc:
Bé thu là cô bé có tình cảm son sắt, thuỷ chung với ba của mình.
Khi chia tay, phút giây nó kịp nhận ra ông Sáu là người cha trong bức ảnh,

ra cả những đặc điểm của nhân vật khi trong đề bài không giới hạn trước).
b.Thân bài:
Lần lượt nghị luận làm rõ những đặc điểm tiêu biểu của nhân vật về:
15


Hoàn cảnh cuộc sống, công việc…
Hình dáng diện mạo (nếu có).
Phẩm chất, tính cách: Mỗi nét của phẩm chất tính cách tiêu biểu có thể viết
thành một đoạn. Chú ý bàm vào tác phẩm, đoạn trích tìm những chi tiết, hình
ảnh cụ thể miêu tả việc làm, hành động, lời nói, suy nghĩ nhân vật để phân tích
làm rõ đặc điểm phẩm chất, tính cách…
Nâng cao, khái quát về những đặc điểm của nhân vật cho cả thế hệ…
Khái quát chung về nghệ thuật miêu tả xây dựng nhân vật cũng như tình
cảm thái độ của tác giả đối với nhân vật.
c. Kết bài: Khẳng định, khái quát về nhân vật và nêu cảm nghĩ của bản
thân đối với nhân vật…
Ví dụ: Cảm nhận của em về nhân vật Thuý Kiều qua các văn bản đã học,
đọc thêm.
Gợi ý:
a. Mở bài: Giới thiệu về nhân vật Thuý Kiều và khẳng định: Thuý Kiều là
hình tượng đẹp, gợi rất nhiều những tình cảm, niềm thương yêu đối với mỗi
người.
b. Thân bài: Lần lượt nghị luận về.
Vẻ đẹp tài sắc tuyệt đỉnh, tâm hồn đa sầu đa cảm…(Chị em Thuý Kiều).
Cuộc đời bất hạnh, sóng gió…(Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng
Bích).
Luôn giữ được phẩm hạnh, đạo đức tốt đẹp (Kiều ở lầu Ngưng Bích, Thuý
Kiều báo ân báo oán. Đức hi sinh, lòng vị tha. Tình yêu chung thuỷ sắt son.
Lòng hiếu thảo với cha mẹ. Ân oán rạch ròi, cư xử khôn khéo đúng mực…

quan hệ với diễn biến của truyện, trong quan hệ giữa các nhân vật, trong quan hệ
với chính bản thân nhân vật (số phận và tính cách nhân vật).
Phân tích giá trị nghệ thuật của chi tiết (nghệ thuật xây dựng hình tượng,
nghệ thuật điển hình hoá, nghệ thuật kết cấu…)
Tất cả những điều trên phải được phân tích trên cơ sở nắm được văn bản
nghệ thuật và hiểu biết về tác phẩm, tác giả, không nói chung chung hoặc áp đặt
vô căn cứ.
Khi làm bài có thể kết hợp giữa phân tích với giải thích, bình luận ở mức độ
làm sáng tỏ thêm, sâu sắc thêm sự phân tích.
2.3.2.6. Dạng 5 : Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn văn
ngắn.
Cần xác định được xuất xứ của đoạn văn (thuộc tác phẩm nào, của ai, thuộc
vị trí nào trong tác phẩm…) để đặt trong tổng thể chung mà cảm nhận, phân
tích, bình giá cho hợp lí.
Có thể yêu cầu nghị luận về đoạn văn tự sự, đoạn văn biểu cảm, đoạn văn
miêu tả hoặc đoạn văn nghị luận…Vì vậy cần vận dụng các kiến thức về nghệ
thuật của thể loại, kiểu văn bản và phương thức biểu đạt mà nghị luận. Cụ thể :
chú ý về kiểu câu văn, từ ngữ, các chi tiết hình ảnh, sự việc, nhân vật, ngôn ngữ,
nghệ thuật miêu tả, tự sự, biểu cảm ; các biện pháp tu từ...Từ các tín hiệu nghệ
thuật đó để làm nổi bật nội dung của đoạn văn.
Cách làm bài cũng tương tự như làm bài nghị luận về một đoạn thơ đã học.
Nghĩa là có thể đặt các câu hỏi tìm ý về tín hiệu nghệ thuật và nội dung, sự so
sánh liên hệ…
Dàn bài:
a. Mở bài: Giới thiệu đoạn văn cần nghị luận.
Có thể giới thiệu về tác giả, tác phẩm để dẫn đến đoạn văn.
Không cần thiết phải dẫn trực tiếp, đầy đủ đoạn văn vào mở bài (vì thường
đoạn văn dài), mà chỉ cần nêu lên sự việc nhân vật (đoạn văn tự sự), nêu nội
dung chung của đoạn văn và dẫn câu đầu câu cuối (đoạn miêu tả, biểu cảm, nghị
luận); thậm chí nếu đoạn văn là mở đầu hoặc kết thúc của tác phẩm, thì chỉ cần

bao trùm…Với cách viết ấy, ta cảm nhận được hoàn cảnh cuộc sống và làm việc
của anh thanh niên vô cùng gian khổ, vất vả.
Đây là một lời tâm sự hết sức chân tình, cởi mở. Anh nói ra cả những điều
mà có thể người ta chỉ nghĩ trong lòng. Đó là những “gian khổ”, những “rét” và
“lạnh cóng” mà anh phải trải qua. Đó còn là thái độ, tâm trạng của anh nữa,
không hề dấu diếm. Khi thì “đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ
muốn đưa tay tắt đi” (vì không muốn dậy); khi thì trước cái im lặng của đêm
khuya mà thấy “thật là dễ sợ”; …
Trong hoàn cảnh ấy, nếu không có ý chí nghị lực phi thường thì anh thanh
niên không thể vượt qua, không thể chiến thắng bản thân với những nỗi sợ hãi, e
ngại gian khổ trong cuộc sống và công việc được. “Những lúc im lặng lạnh cóng
mà lại hừng hực như cháy”, ấy là lúc ngọn lửa của nhiệt huyết tuổi trẻ, của tình
yêu và tinh thần trách nhiệm với công việc đã trỗi dậy mạnh mẽ, thôi thúc anh,
tiếp thêm cho anh sức mạnh, sự can đảm, quyết tâm. Điều đó thật khiến ta cảm
động và khâm phục.
Kết bài:
18


Khẳng định: Chỉ một đoạn văn ngắn để cho nhân vật kể về hoàn cảnh cuộc
sống, công việc của mình, với cách viết giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, tác giả đã
giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên: sự cởi mở, chân
tình; ý chí nghị lực, tinh thần trách nhiệm và tình yêu công việc.
Đó là một trong những lí do khiến không chỉ bác họa sĩ, cô kĩ sư - những
người trực tiếp nghe anh nói, phải xúc động, bối rối, lắng tai nghe…mà cả chúng
ta, tuổi trẻ hôm nay càng khâm phục, yêu mến anh biết bao!
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với Hội đồng giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau 2 năm rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh các em

Điểm
9 - 10

7 - 8,5

5 - 6,5

3 - 4,5

0 - 2,5

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%


8.0

8

32.0

13

52.0

1

4.0

1

4.0

9A

27

1

3.7

6

22.2


3.6

0

0.0

So sánh kết quả bảng 2 và bảng 3 tôi nhận thấy: ở mỗi năm học, tỉ lệ học
sinh có điểm khá giỏi ở các lớp thực nghiệm tăng, tỉ lệ học sinh có điểm yếu,
kém giảm rõ rệt. Cụ thể:
19


Năm học 2015-2016: Ở lớp thực nghiệm 9B: Tỉ lệ học sinh có điểm giỏi
tăng 4.0%, khá tăng 16%, yếu giảm 12%, kém giảm 4%. Tỉ lệ này ở lớp 9A có
sự thay đổi nhỏ (yếu giảm 3.9%).
Năm học 2016-2017: Ở lớp thực nghiệm 9B: Tỉ lệ học sinh có điểm giỏi
tăng 7.1%, khá tăng 17.9%, yếu giảm 10.7%, kém giảm 10.7%. Tỉ lệ này ở lớp
9A có sự thay đổi nhỏ (khá tăng 7.4 %, yếu giảm 3.7%).
Qua việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm và thực tế giảng dạy trên lớp,
nhìn chung các em đã nắm chắc các kĩ năng làm các dạng bài văn nghị luận về
tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Các
em đã phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng, các kĩ năng
tạo lập văn bản được nâng cao hơn. Bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn,
thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận
điểm, luận cứ…Bài viết của các em đã đúng về yêu cầu thao tác nghị luận, đúng
với nội dung nghị luận của đề bài. Từ đó các em đã có được đầy đủ hành trang,
kiến thức vững vàng để bước vào trường phổ thông trung học, học nghề, tham
gia lao động sản xuất một cách vững vàng.
Từ hiệu quả của việc rèn luyện các kĩ năng trên cho học sinh, các năm học

- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về toàn bộ bài thơ.
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một phương diện của bài thơ.
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận nghị luận về toàn bộ tác phẩm (hoặc
đoạn trích).
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận nghị luận về một phương diện nội
dung hay nghệ thuật của tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận nghị luận về một nhân vật trong tác
phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận nghị luận về chi tiết nghệ thuật trong
tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn văn ngắn.
- Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ.
3.2. Kiến nghị.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi qua việc thực hiện đề tài ở lớp 9
trường trung học cơ sở Tân Lập. Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm mang tính
của bản thân và mới áp dụng trong phạm vi hẹp. Rất mong sự đóng góp ý kiến,
trao đổi, bổ sung của bạn bè đồng nghiệp và sự phổ biến nhân rộng của đề tài để
kết quả giáo dục nói chung, dạy và học Ngữ văn nói riêng ngày càng được nâng
cao.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA
HIỆU TRƯỞNG

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Hoàng Văn Thành

giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Một số phương pháp khi
dạy các phép tu từ: So sánh,
ẩn dụ, hoán dụ” trong phân
môn tiếng Việt ở trường
THCS Cổ Lũng .

Phòng

C

2005-2006

2.


Một số biện pháp hướng dẫn
học sinh tự học môn Ngữ văn
ở trường THCS Tân Lập.

Phòng

5.

Kinh nghiệm rèn luyện kĩ
năng làm bài văn nghị luận về
tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích) và nghị luận về một
đoạn thơ, bài thơ cho học sinh
lớp 9 trường trung học cơ sở
Tân Lập

Phòng

B

A

2014-2015

2016-2017

----------------------------------------------------

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status