Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết bài văn tự sự lớp 6 - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
1.4. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

3

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung có một vị trí đặc biệt
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn cấp học, ngành học là
đào tạo con người mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới. Phân môn Văn là một
phân môn rất quan trong ba phân môn của môn học. Với nhiệm vụ hướng dẫn
cho học sinh tiếp cận với các tác phẩm văn học ở các thời đại khác nhau của Việt
Nam và thế giới nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về văn học, về
cuộc sống; rèn luyện và nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ, bồi dưỡng tâm
hồn, tình cảm, nhân cách cho học sinh, làm cho các em qua mỗi giờ học thấy
“thêm yêu đời, yêu cuộc sống và lớn khôn thêm một chút.’’ (Tố Hữu).
Xuất phát từ đặc trưng của văn chương và muc tiêu của việc dạy và học
Văn, chương trình, sách giáo khoa cấp Trung học cơ sở đã dành lượng thời gian
rất lớn trong khoảng thời lượng dành cho bộ môn và cũng là nhiều nhất trong tất
cả các môn học ở cấp THCS để học sinh được tiếp cận với các tác phẩm. Ở lớp
6, đối tượng học sinh mới rời mái trường Tiểu học, các em được tiếp cận với các
tác phẩm tự sự dân gian là chủ yếu. Điều đáng quan tâm là làm thế nào để giờ
Ngữ Văn thực sự có hiệu quả, để học sinh không còn ngại học Văn, chán học
Văn và trở nên ham thích học Văn ?
Với Tập làm văn, không phải chỉ biết phân tích mà còn phải biết học theo
mẫu. Đừng nghĩ học theo mẫu là không phát huy được tính tích cực. Phải động

phương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện theo mối quan hệ nào đó như
quan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng.
Sách giáo khoa Tập làm văn trước đây (1986 - 1995) không dùng khái
niệm tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, tường thuật. Trong
sách giáo khoa Ngữ văn 6- Tập 1- trang 28- Nhà xuất bản Giáo dục 2002, nêu
định nghĩa về văn tự sự như sau:
"Tự sự" (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi sự việc, sự việc
này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.
Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ
thái độ khen, chê”.
c. Mối quan hệ giữa tự sự với các phương thức khác:
Trong các quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích, nội dung và tính
chất của văn bản mà người viết kết hợp với hầu hết các phương thức biểu đạt,
song chủ yếu là các phương thức miêu tả, biểu cảm và nghị luận.
+ Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm:
Miêu tả trong khi kể nhằm làm cho sự việc kể thêm sinh động màu sắc,
hình dáng, diện mạo của nhân vật, sự việc hành động như hiện lên sống động
trước mắt người đọc. Yếu tố biểu cảm xuất hiện trong khi kể giúp người viết thể
hiện được rõ hơn thái độ, tình cảm của mình trước việc đó, buộc người đọc phải
trăn trở, nghĩ suy trước sự việc đang kể, ý nghĩa của chuyện này càng thêm sâu
sắc.
+ Tự sự kết hợp với nghị luận:
Chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở đã cung cấp 6 kiểu văn bản dựa
trên 6 phương thức biểu đạt chính. Nếu như các phương thức miêu tả, biểu cảm,
tự sự... chủ yếu dùng hình tượng, hình ảnh, cảm xúc để tái hiện hiện thực thì
nghị luận dùng lí lẽ lô gích phán đoán nhằm làm sáng tỏ một ý kiến, một quan
4


điểm, tư tưởng nào đó. Các phương thức trên là cơ sở của tư duy hình tượng,

ảnh rực rỡ, phản ánh ước mơ, khát vọng cao đẹp của con người.
- Như vậy, điều quan trọng là câu chuyện tưởng tượng phải có diễn biến
tự nhiên, hợp lí vì chứa đựng ý nghĩa xã hội.
2.1.2.2. Sự việc và nhân vật trong văn tự sự:
a. Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách rõ ràng:
- Trong thời gian cụ thể;
- Ở địa điểm cụ thể;
- Có nhân vật cụ thể;
- Có nguyên nhân, diễn biến và kết quả;
- Đặc biệt, sự việc được sắp xếp theo một trình tự, một diễn biến hợp lí để
thể hiện tư tưởng của người kể.
b. Nhân vật:
*Nhân vật chính và nhân vật phụ:
5


- Nhân vật chính: xuất hiện nhiều, từ đầu đến cuối, được tập trung khắc
họa trên nhiều phương diện: tên tuổi, lai lịch, diện mạo, tài năng, tính cách, hành
động, lời nói, việc làm... Đây là nhân vật giữ vai trò then chốt, thiếu những nhân
vật này thì không còn là truyện.
- Nhân vật phản diện: trái ngược với nhân vật chính, làm sáng tỏ nhân vật
chính, tô đậm nhân vật chính.
*Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện:
- Nhân vật chính diện: thể hiện tư tưởng, lí tưởng xã hội nhất định, được
tác giả tập trung đề cao, biểu dương và khẳng định bằng những phẩm chất tốt và
những hành động cao cả, đẹp đẽ.
- Nhân vật phản diện: trái ngược với nhân vật chính diện, nhân vật này bị
tác giả phê phán, tố cáo, chế giễu, phủ định... thường đại diện cho cái xấu, cái
ác, cái tiêu cực.
*Đặc biệt, khi xây dựng nhân vật trong văn tự sự, nhân vật cần phải có



- Có lúc chuyện sau được kể trước, chuyện trước được kể sau, các sự việc
đan xéo nhau, mục đích gây bất ngờ, hứng thú cho người đọc, tô đậm tính cách
nhân vật: các truyện đương đại thường kêt theo kiểu này.
2.1.2.5. Lời văn, đoạn văn tự sự:
a. Lời văn:
- Lời văn giới thiệu nhân vật: tên gọi, lai lịch, hình dáng, tài năng, tính
nết, tâm hồn, quan hệ tình cảm...
- Lời văn kể việc: kể hành động, việc làm, kết quả và sự thay đổi do hành
động đó đem lại.
b. Đoạn văn:
Bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Đoạn văn tự sự có thể giới thiệu về
nhân vật ( lai lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng...) hoặc kể về các việc làm,
hành động, lời nói, kết quả và sự thay đổi do các hành động ấy đem lại. Ở những
đoạn có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với một đoạn thoại, tức
là đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộc
thoại.
2.1.2.6. Chủ đề và dàn bài của một bài tự sự:
a. Chủ đề:
- Là vấn đề chủ yếu, là lí tưởng mà người kể muốn thể hiện, gửi gắm qua
văn bản. Những điều muốn nói, muốn gởi gắm ấy có thể là sự ca ngợi, khẳng
định hay lên án, phê phán...
- Chủ đề cần hướng vào cuộc sống của con người, gửi gắm thông điệp cho
con người, ngay cả khi thế giới nhân vật trong truyện là con vật, đồ vật. Vì vậy,
khi bắt tay vào viết một bài văn tự sự, người viết cần đặt câu hỏi:Câu chuyện
mình sắp kể sẽ có ý nghĩa gì, truyện nhằm gửi gắm điều gì?
b. Dàn bài:
*Mở bài:
- Có thể giới thiệu nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện.

sinh, điều đó khiến học sinh có tâm lí mệt mỏi, ngại học.
Trong quá trình dạy các văn bản tự sự ở phần Văn học, giáo viên chưa
tích hợp hiệu quả với phần Tập làm văn. Đặc biệt chưa chú trọng luyện tập và ra
bài tập về nhà cho các em.
Giáo viên chỉ hướng dẫn chung chung, đưa ra các ý lớn trong khâu lập
dàn ý mà chưa hướng dẫn cụ thể, chưa tích cực trong việc đưa ra một số đoạn
văn mẫu để học sinh tham khảo sau khi các em đã trình bày bài làm của mình.
Giờ trả bài chưa hiệu quả, đặc biệt chưa chú trọng tới việc nhận xét cách
xây dựng nhân vật, các tình tiết truyện, lời kể mà chỉ chú ý đến lỗi chính tả, cách
dùng từ đặt câu.
2.2.2. Về phía học sinh:
Học Văn đòi hỏi viết nhiều, đọc nhiều nhưng học sinh lại ngại đọc, ngại
viết, đặc biệt rất ngại đọc các tài liệu tham khảo (Các câu chuyện được viết trên
sách báo) để mở rộng hiểu biết, trau dồi vốn từ.
Học sinh không có đủ tài liệu tham khảo.Vì vậy chỉ có thể nắm bắt được
những gì SGK cung cấp.
Kiến thức về đời sống thực tế của học sinh còn ít, các em chưa quan tâm
đến đời sống thực tế, thiếu sự rung cảm trước những hiện tượng của cuộc sống
đời thường, học sinh chưa có nhiều vốn từ nên nhiều bài viết còn khô khan, xa
rời thực tế hoặc luôn theo một khuôn mẫu chung.
Thêm vào đó, nhiều học sinh coi nhẹ môn học, chưa chú ý đến việc học, ý
thức chưa cao, về nhà không làm bài (không luyện viết) nên khi viết thường
vụng về, lúng túng.
2.2.3. Các nhân tố khác:
Bên cạnh đó, bước sang thời kì hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội
phát triển, những môn học thời thượng (Toán,Lý, Hóa,Tin học, Ngoại ngữ...)
quan trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tương
lai người học không được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương. Đặc
biệt, các thông tin ảnh, báo mạng, các videoclip gây sốt trên mạng đã thu hút sự
chú ý của học sinh, đã chiếm hết thời gian của các em vốn tính tò mò, khiến các


0

0

8

17, 2

29

61,7

10

21,1

Từ thực trạng nêu trên, sau nhiều năm trăn trở trong quá trình giảng dạy,
tôi đã có những kinh nghiệm giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương
trình Ngữ Văn 6.
2.3. Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
2.3.1. Giải pháp:
2.3.1.1. Đối với giáo viên:
Người giáo viên phải nắm lấy ưu thế của học sinh như: những tri thức,
vốn sống, tư tưởng, tình cảm để phát huy những khả năng cao hơn; đồng thời,
qua đó uốn nắn, điều chỉnh, hạn chế những lệch lạc trong nhận thức, vốn sống,
tư tưởng của các em.
Giáo viên không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là
người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động
tìm tòi, khám phá, giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Giáo viên phải có

2.3.2.1. Đối với khâu chuẩn bị:
Để tiết dạy thành công thì khâu chuẩn bị bài là hết sức quan trọng. Trước
khi lên lớp, giáo viên càng làm các việc sau:
- Làm tốt khâu soạn giảng.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập.
- Chuẩn bị tốt đồ dùng, thiết bị.
2.3.2.2. Hình thành những kĩ năng để viết một bài văn tự sự:
Bước 1. Tìm hiểu đề.
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học
sinh đọc nhiều lần( thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề), lấy bút chì gạch
dưới những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho
nổi bật các yêu cầu của đề.
Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các
yêu cầu của đề bài:
- Kiểu bài.
- Lời yêu cầu của đề bài
- Đề bài và giới hạn.
Để khắc phục được khó khăn đó và học sinh thực hiện tốt bài này tôi đã
kết hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em và thời gian phụ đạo buổi
chiều để hướng dẫn các em thực hành.
Ví dụ:
Đề 1. Cho đề văn: Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng bằng lời văn của em.
*Yêu cầu trả lời:
- Kiểu bài của đề bài là gì ?
- Em hiểu thế nào là kể bằng lời văn của em ?
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào ?
* Lưu ý: Đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ quan trọng.
Bước 2. Tìm ý, lập dàn ý và xác định ngôi kể:
*Lập ý:
Trong việc tìm ý giáo viên cần lưu ý các em các thao tác tưởng tượng, hư cấu.

năng lập dàn ý theo bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài); nêu nhiệm vụ và
nhấn mạnh vai trò không thể vắng mặt của từng phần.
Với bài tập này, giáo viên giới thiệu dàn ý không đạt yêu cầu, yêu cầu học
sinh sửa chữa và hoàn chỉnh dàn ý, học sinh cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đọc và xác định yêu cầu của bài;
Bước 2: Phát hiện các lỗi của dàn ý;
Bước 3: Sửa chữa và hoàn chỉnh dàn ý.
- Với bài tập lập dàn ý từ đề bài cho trước, đây là dạng bài tập quen
thuộc, thường gặp nhưng cũng bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến
thức về lý thuyết cũng như vận dụng một cách thành thạo và kỹ năng làm văn.
Dạng bài tập này yêu cầu người viết từ một đề bài cho trước trải qua các thao tác
làm văn để tạo lập văn bản. Tuy nhiên, để thực hiện phương pháp này hiệu quả,
cần lưu ý, hệ thống bài tập phải phù hợp với tầm nhận thức của học sinh, các bài
tập có sự phân loại theo trình độ của học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cần sử
dụng một cách linh hoạt giữa nội dung lý thuyết và bài tập thực hành. Ngoài các
câu hỏi và bài tập thực hành trên lớp, có thể ra thêm bài tập để học sinh làm ở
nhà và thu về chấm chữa, đánh giá kết quả.
Một số dàn ý cụ thể minh họa:
Dàn ý 1: Kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu
1/ Mở bài:
- Giới thiệu nỗi nhớ về một người bạn thân thời thơ ấu dưới mái trường Tiểu học
và câu chuyện giữa mình và bạn.
- Cảm xúc khi nhớ lại sự việc không thể quên đó.
2/ Thân bài:
* Diễn biến sự việc theo trình tự thời gian, không gian:
- Trong giờ học, cây bút mực bị tắc không viết được
- Bạn thân đưa cho mượn cây bút để viết
- Đó là kỷ vật thiêng liêng mà anh trai bạn để lại
11


+ Suy nghĩ về lời thần và làm bánh chưng, bánh giầy từ lúa gạo.
+ Ngày dâng bánh lễ Tiên Vương: Rất lo khi thấy lễ vật của các lang khác nhưng
vẫn vững tin vào lòng thành kính của mình và sự công tâm sáng suốt của vua
cha.
+ Ngạc nhiên khi thấy vua cha đặt tên cho bánh, thấy lời vua đúng ý thần và suy
nghĩ của mình, hiểu ý vua muốn dân ấm no, ngai vàng bền vững nên càng cảm
phục vua cha.
+ Bất ngờ, sung sướng vì được chọn nối ngôi (ngoài mong ước) và hiểu cần phải
nối chí vua cha.
3/ Kết bài:
+ Từ khi làm vua, càng chăm lo cuộc sống của nhân dân và khuyến khích nghề
trồng lúa, giữ phong tục làm bánh chưng, bánh giầy vào những dịp lễ, Tết.
+ Tục làm bánh chưng, bánh giầy xuất hiện, vui vì mọi người đều hiểu ý nghĩa
bánh mình làm. Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị của ngày Tết

12


(Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh)
Dàn ý 3: Kể lại truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” bằng lời văn của em.
1/ Mở bài:
+ Giới thiệu Lạc Long Quân: Mình Rồng – con thần Long Nữ; lên bờ dạy dân
trồng trọt; diệt trừ yêu quái giúp dân
+ Giới thiệu Âu Cơ: Ở vùng núi cao phương bắc – dòng họ Thần Nông , xinh
đẹp tuyệt trần
2/ Thân bài:
+ Lạc Long Quân lấy Âu Cơ:
- Âu Cơ xuống đất Lạc chơi, gặp Lạc long Quân
- Họ yêu nhau rồi trở thành vợ chồng, sống ở cung điện Long Trang.
- Âu Cơ sinh bọc trăm trứng

( Truyền thuyết Thánh Gióng)
13


b. Dùng cây bút thần, Mã Lương vẽ cho tất cả người nghèo trong làng.
Nhà nào không có cày, em vẽ cày. Nhà nào không có cuốc, em vẽ cho cuốc. Nhà
nào không có đèn, em vẽ cho đèn. Nhà nào không có thùng múc nước, em vẽ cho
thùng".
( Truyện cổ tích Cây bút thần)
Tôi hướng dẫn học sinh cách nhận diện câu chủ đề:
- Câu chủ đề: Là câu thứ nhất của mỗi đoạn
- Yêu cầu xác định nội dung chính: Nằm ở ngay câu chủ đề (dựa vào câu
chủ đề để xác định).
Sau khi học sinh đã biết cách nhận diện câu chủ đề cho đoạn văn, cho học
sinh làm tiếp bài tập 2 để rèn kĩ năng viết đoạn theo chủ đề và các đoạn trong
bài văn.
Bài tập 2: Hãy viết đoạn văn tự sự triển khai câu chủ đề sau: Buổi chiều
hôm ấy, tôi cùng lũ trẻ trong xóm rủ nhau ra đê chơi trò đánh trận giả.
Để triển khai câu chủ đề thành đoạn văn, giáo viên cần cho học sinh xác
định được nội dung chính mà câu chủ đề đề cập tới: " Tôi cùng lũ trẻ trong xóm
rủ nhau ra đê chơi trò chơi trận giả". Từ ý của câu chủ đề có thể hình dung
được toàn bộ đoạn văn phải được triển khai( Thời gian, địa điểm, diễn biến,
không khí cuộc chơi...). Lưu ý cho học sinh câu chủ đề phải được giữ nguyên và
đặt đầu đoạn.
Ví dụ: Buổi chiều hôm ấy, tôi cùng lũ trẻ trong xóm rủ nhau ra đên chơi
đánh trận giả. Mặt đê lộng gió, mát rượi. Ánh nắng nhạt dần. Hơi nước từ sông
phả lên, làm dịu không khí của buổi chiều hè. Chúng tôi chia làm hai phe: Phe
quân xanh do thằng Vinh làm thủ lĩnh, phe quân đỏ thì nhất trí cử tôi. Mỗi bên
chiếm lĩnh một triền đê. Trận đánh bắt đầu. Những bụi cây lúp xúp, những gò
đất trở thành chỗ nấp của chúng tôi. Cũng lăn lê, bò toài. Cũng hô xung phong

- Dùng phương thức tự sự kết hợp với miêu tả để giới thiệu sự việc, nhân
vật và tình huống câu chuyện.
Ví dụ: Sau một đêm mưa rào, bầu trời quang đãng. Bình minh lên! Một
bình minh thật trong trẻo. Đâu đó trong không gian vẫn còn đọng chút hương vị
của trận mưa đêm. Mặt trời lên cao dần. Những tia nắng vàng tươi làm cảnh
vật thêm bừng sáng. Cây cối trong khu vườn xôn xao. Chúng hớn hở phô ra bộ
cánh màu xanh rờn lấp lánh những giọt mưa còn đọng lại.
- Nêu tình huống hoặc sự cố nào đó hay kết cục câu chuyện, số phận nhân
vật rồi ngược lên kể lại từ đầu, nêu chủ đề câu chuyện.
Ví dụ: Hoan hô! Hoan hô! Sẻ Em giỏi quá!
Cả khu rừng xôn xao những tiếng reo vui. Việc sẻ em biết bay đã trở
thành một sự kiện thật quan trọng. Từ chị sóc nâu cho đến bác Nhím già, ai
cũng có lời chúc mừng khiến Sẻ Em cảm động ứa nước mắt.
- Bằng cách bộc lộ cảm xúc:
Ví dụ: Tuổi thơ - hai tiếng ấy thật là thiêng liêng, có lẽ bởi vì thế mà ai
cũng nâng niu, gìn giữ trong trái tim mình. Đó là những hoài niệm đẹp khó phai
mờ: Đêm trăng nghe bà kể chuyện cổ tích, buổi chiều thả diều trên con đê... Và
với tôi cũng vậy, kỉ niệm về mùa thu năm ấy với hình ảnh người cha cứ sáng
mãi, cứ dội về mỗi khi nhớ lại, mỗi khi bâng khuâng.
Việc hướng dẫn học sinh viết theo các cách mở bài như vậy khiến mở bài
của bài văn không còn theo một lối mòn nào nữa, bài văn không tẻ nhạt, đơn
điệu mà phong phú, sinh động, có sức hấp dẫn ngay từ phần mở đầu. Việc rèn kĩ
năng viết phần mở bài là điều cần quan tâm đối với mỗi giáo viên dạy văn.
* Bài tập về viết đoạn mở bài: Đọc kĩ hai đoạn văn mở bài sau:
a. "Vi vu...vi vu", những âm thanh trong trẻo của ngọn gió mùa thu đang
kể nhau nghe về thế giới cổ tích thần kì. Tôi lắng nghe và biết được câu chuyện
rất thú vị từ ngày xửa ngày xưa được các nàng gió lưu truyền và cất giữ bằng
hơi thở dịu mát của mình có tên là:" Con Rồng cháu Tiên".
b. Có một câu chuyện mà có lẽ bất kì người Việt Nam nào cũng đều biết
và yêu thích, đó là truyền thuyết" Con Rồng cháu Tiên"- câu chuyện kể về nguồn

(5) Thánh Gióng đánh tan giặc;
(6) Thánh Gióng cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời;
(7) Vua phong danh hiệu và lập đền thờ;
(8) Những dấu tích còn lại của chuyện Thánh Gióng.
? Xác định các tình tiết cho các sự việc trên ?
? Trong các sự việc, sự việc nào có thể lồng các yếu tố miêu tả, biểu cảm
và nghị luận ?
Bước 2: Sau khi nêu câu hỏi, tôi cho học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi,
sau đó yêu cầu các em viết thành các đoạn văn (8 đoạn, tương ứng với các sự
việc của truyện, có sự kết hợp với các yếu tố miêu tả).
Bước 3: Đọc lại các đoạn đã viết và sửa chữa.
Ví dụ 2: Viết tiếp truyện cổ tích Cây bút thần
HS tìm hiểu như ví dụ 1. Đây là đề tưởng tượng vì thế giáo viên cần
hướng dẫn học sinh xác định sự việc dựa theo theo trí tưởng tượng của mình.
* Cách 1:
Kể sự việc 1: Giặc ngoại xâm sang xâm lược nước ta.
Đoạn văn: Nhưng đến một năm nọ, bọn giặc ngoại xâm nhòm ngó đất
nước. rồi chúng kéo vào xâm lược bờ cõi. Mã Lương đôn đốc binh lính luyện
tập. Thế giặc lúc này rất mạnh. Chúng hung hăng đốt nhà, cướp của, gây bao
đau thương, tang tóc cho dân lành. Nhiều tướng lĩnh cầm quân ra trận nhưng
đều thất bại, mọi người sống trong nỗi lo sợ, kinh hãi.
Kể sự việc 2: Mã Lương dùng cây bút thần để đánh đuổi quân thù.
16


Đoạn văn: Trước thảm họa của đất nước, Mã Lương ra lệnh cho binh sĩ
mở cửa kho báu và mang bút thần tới. Mã Lương lập đàn tế trời đất và xin phép
tổ tiên được dùng lại cây bút thần năm xưa để dẹp giặc. Đợi giặc kéo đến chân
thành, Mã Lương ung dung ngồi vào bàn. Rồi chàng đưa những nét bút nhan
thoăn thoắt. Mỗi nét bút vẽ ra hàng ngàn mũi tên lao về phía kẻ địch. Bọn giặc

- Kể sự việc 3:
Đoạn văn: Từ đó, ông hết lòng dạy bảo Mã Lương và cô cháu gải tập vẽ.
Ngày tháng cứ thế trôi đi, họ sống vui vẻ bên nhau, đầm ấm như một gia đình.
mã Lương cùng cô cháu gái lớn dần và trưởng thành. Cho tới một buổi sáng nọ,
Mã Lương và cô gái tỉnh dậy thì không thấy ông già đâu nữa. Họ cùng nhau đi
tìm, nhưng ngày này qua tháng nọ, tin tức về ông cụ vẫn biệt vô âm tín. Họ đành
trở về ngôi nhà thân yêu và càng đùm bọc yêu thương nhau hơn trước.
- Kể sự việc 4:

17


Đoạn văn: Một đêm nọ, trong giấc mơ, Mã Lương thấy ông già trong
quán tranh hiện về. Ông nói:" Ta chính là người năm xưa đã trao bút thần cho
cháu. Ta cùng đã dựng quán tranh để chờ cháu tới. Giờ cháu đã khôn lớn, đủ
tài trí để quyết định con đường đời của mình, nên sự có mặt của ta và cây bút
thần không cần thiết nữa. ta muốn cháu hãy yêu thương cô gái kia như ta đã
từng yêu cháu. Chúc các cháu gặp nhiều may mắn!"
Mã Lương còn đang bàng hoàng, chưa kịp nói lời cảm tạ thì bóng ông cụ
đã loang loáng xa dần và biến mất. Mã Lương chạy theo ông nhưng chỉ còn bốn
bề im lặng. Chàng bật khóc và choàng tỉnh giấc.
Ngay sáng hôm sau, Mã lương đem câu chuyện ấy kể lại cho cô gái nghe.
Cô đỏ mặt và nở nụ cười e lệ.
- Đoạn văn xây dựng nhân vật: Nhân vật trong văn tự sự là người thực
hiện các sự việc và là người thể hiện trong văn bản. Một tác phẩm tự sự có nhân
vật chính và nhân vật phụ. Phần này, nếu đối với học sinh bình thường, chỉ cần
viết đoạn giới thiệu về tên gọi, ngoại hình, lai lịch, tính nết, lời thoại... của nhân
vật đối với học sinh khá và giỏi, cho học sinh tiếp cận với đoạn văn có sử dụng
yếu tố miêu tả nội tâm.
Để rèn cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn xây dựng nhân vật tôi đưa ra hệ

cười.
+ Đoạn văn có kết hợp với yếu tố nghị luận: Phần này chỉ áp dụng đối với
học sinh khá và giỏi. Bởi vì đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận phải
sang đến chương trình lớp 9 mới được học. Tuy nhiên, ở chương trình lớp 6, vẫn
có thể sử dụng những câu văn nghị luận về phía cuối đoạn sau khi kết thúc phần
kể về một sự việc, một vấn đề nào đó. Yếu tố nghị luận khiến bài văn có chiều
sâu, thể hiện được những suy ngẫm, đánh giá của người viết.
Ví dụ: Tiếp phần đoạn văn nói về nhân vật mụ vợ trong truyện" Ông lão
đánh cá và con cá vàng": Cuộc sống nhung lụa của mụ hoàn toàn thiếu vắng
bóng dáng ông lão, giờ đây, mụ bỗng cảm thấy tất cả trở nên trống rỗng, vô vị,
tẻ nhạt. Một nỗi xót xa,ân hận bỗng dâng lên ngập lòng... chỉ đến bây giờ, khi
đã đánh mất ông lão, mụ mới thấy thực sự hạnh phúc chẳng ở đâu xa, hạnh
phúc ở ngay trước mắt ta, chỉ có điều khi nó vượt ra khỏi tầm tay ta, ta mới kịp
nhận ra đó là hạnh phúc...
* Rèn kĩ năng viết đoạn kết bài:
Đoạn kết bài trong bài văn tự sự cũng rất quan trọng. kết bài rất linh hoạt,
tùy theo ý nghĩa mà người kể muốn gửi gắm vào câu chuyện. Có nhiều cách kết
bài khác nhau:
- Một cảm giác đột ngột ý vị.
- Một dư âm ngân mãi trong lòng.
- Một ấn tượng sâu sắc, sự ám ảnh khôn nguôi về ý nghĩa câu chuyện.
Ví dụ 1: Rồi mùa xuân qua đi, mùa hè lại tới. Chưa bao giờ hạn hán kéo
dài đến thế. Mặt trời chói chang như quả cầu lửa hun nóng tất thảy mọi vật và
cây cối rũ xuống. Hoa không còn nở, chim chẳng còn hót. Dòng suối cảm thấy
mệt mỏi chẳng còn đủ sức mà rong chơi nữa. Một ngày kia, nó hốt hoảng nhận
ra rằng mình đang ngày một cạn kiệt đi. Nó ngước nhìn lên ngọn núi sừng sững.
Một màu xanh vẫn phủ kín, trông mới tràn trề sức sống làm sao. Dòng suối chợt
nép mình vào chân núi và cảm thấy mình thật nhỏ. Thật nhỏ bé!
Ví dụ 2: Cá vàng lặn xuống biển khơi. Ông lão đi về nhà. Mụ vợ đã được
cứu sống. Như lời cá vàng nói, Từ đó trở đi mụ vợ ông lão làm ăn lương thiện,

Điểm 5 - 6
Điểm dưới 5
SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

10

21,1

8

17, 2

29

61,7


3.2. Kiến nghị:
- Phòng Giáo dục cần tổ chức chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ Văn
trong từng năm học để giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận, tìm ra
biện pháp tối ưu, tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
- Phòng Giáo dục cần tổ chức các cụm sinh hoạt chuyên môn (theo định
kì 01 tháng sinh hoạt 01 lần) để giáo viên bộ môn Ngữ Văn các trường dự giờ,
trao đổi, rút kinh nghiệm từ những tiết/ bài dạy cụ thể, gắn với giải pháp tổ chức
và thực hiện của những sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại các cấp.
Trên đây là những giải pháp của bản thân được nghiên cứu trong quá
trình giảng dạy. Quá trình thực hiện đề tài chắc chắn sẽ có nhiều điều sơ suất
hoặc chưa thỏa đáng. Rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi của các bạn
đồng nghiệp để cùng nhau nâng cao chất lượng giáo dục. Xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1, NXB Giáo dục
2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III
(2004-2007 ) môn Ngữ văn - Quyển 1 và 2 - NXB Giáo dục.
3. Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp
và tích cực - Đoàn Thị Kim Nhung - NXB Đại học quốc gia TPHCM.
4. Dạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở - Nguyễn Trí - NXB Giáo
dục
5. Giúp em viết tốt các dạng bài Tập làm văn lớp 6 của tác giả Huỳnh
Thị Thu Ba, NXB Giáo dục.

1. Một vài suy nghĩ về dạy học Phòng
B
2008-2009
GD& ĐT
đạo đức, văn hóa và pháp luật
Huyện
trong chương trình môn
Đông Sơn
2.

GDCD THCS
Nâng cao hứng thú cho HS
lớp 6C trong tiết 32 ngoại

Sở GD&
ĐT Tỉnh
Thanh Hóa

B

2014-2015

Phòng
GD& ĐT
TP Thanh
Hóa

B

2015-2016


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status