Khóa luận tốt nghiệp: Phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam thực trạng và giải pháp - Pdf 49

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàng thủ công mỹ nghệ là những mặt hàng thuộc các ngành nghề truyền
thống, được sản xuất ra bởi các nghệ nhân, thợ thủ công có tay nghề tinh xảo
độc đáo của các làng nghề và được truyền từ đời này sang đời khác. Hàng thủ
công mỹ nghệ có nhiều chủng loại khác nhau, phát triển theo nhu cầu của
cuộc sống. Đời sống xã hội thay đổi thì nhu cầu về mặt hàng này cũng tăng
lên cho cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Đẩy mạnh sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ mang lại lợi ích
kinh tế thực mà còn ý có ý nghĩa xã hội rất lớn. Là sản phẩm của những
ngành nghề thủ công truyền thống, mang đậm nét văn hóa của dân tộc, có dấu
ấn lịch sử nên hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm đáp ứng
nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, mà còn là những văn hóa phẩm
phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thưởng thức những tinh hoa văn
hóa của các dân tộc. Nhờ tính độc đáo này mà nhu cầu hàng thủ công mỹ
nghệ ngày càng tăng do sự giao thoa nền văn hóa giữa các quốc gia trên thế
giới.
Trong những năm qua, việc phát triển làng nghề truyền thống của Việt
Nam đã thu được những kết quả tương đối tốt, góp phần thiết thực vào việc
phục hồi và phát triển các làng nghề, bảo tồn và phát triển một trong những di
sản văn hóa quý báu của dân tộc. Ngoài ra có tác dụng tạo hàng ngàn công ăn
việc làm và thu nhập cho nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi các
tệ nạn xã hội, đảm bảo trật tự an ninh xã hội.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu, tôi nhận thấy việc phát triển làng
nghề truyền thống của Việt Nam vẫn còn có vấn đề cần được nghiên cứu hoàn
thiện hơn. Do vậy tôi lựa chọn đề tài: “phát triển làng nghề truyền thống ở
Việt Nam thực trạng và giải pháp”.

1



Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG NỀN KINH TẾ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của làng nghề
1.1.1. khái niệm làng nghề
Làng nghề là những làng mà tại đó hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề
duy nhất nào đó, nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại
nguồn thu nhập cho dân làng.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm
trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt
Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư
dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng
lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc. Thông thường chỉ
những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc
làm nhiều, những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm. Từ
đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục
đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày về sau
là tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó,
mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây,
tre, lụa... phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ
từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang
lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ
lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm

3


theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần


Làng Lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội
Làng Nghề Sơn Đồng ...
Tuy nhiên, các làng nghề lại không tập trung ở một nơi nhất định nào đó
mà nằm rải rác trên các tỉnh khác nhau, chủ yếu là các nơi chưa được phát
triển, cơ sở hạ tầng còn thô sơ, vì vậy nó gây ra không ít khó khăn và ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển các sản phẩm.
Chính vì vậy, để tháo gỡ một phần khó khăn cho các làng nghề, để duy
trì sản phẩm và quảng bá các sản phẩm của các làng nghề một cách có hệ
thống và hiệu quả, tập trung thì cần phải có một hướng đi đúng đắn và tích
cực. Cổng Thông Tin Làng Nghề Việt Nam ra đời một phần đáp ứng được
những yêu cầu cụ thể.
Cổng thông tin làng nghề này là nơi tổng hợp một các có hệ thống thông
tin và sản phẩm của các làng nghề trên toàn lãnh thổ Việt Nam, qua đó mọi
làng nghề đều có thể đưa thông tin và các sản phẩm chủ chốt của mình lên
Cổng để đưa đến cho những người quan tâm tìm hiểu thêm về những đặc
trưng của mình.
Ngoài ra, đây còn là nơi mà các làng nghề có thể làm Thương mại điện
tử một cách hiệu quả và cũng là nơi để các doanh nghiệp trong và ngoài nước
quan tâm đến các sản phẩm thủ công tìm đến và giao dịch.
Đây là một trong những hướng đi đúng đắn để phát triển và quảng bá
sản phẩm thủ công của các làng nghề ở Việt Nam ra thế giới một cách nhanh
chóng, hiệu quả và tiết kiệm nhất.
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề
Các làng nghề truyền thống Việt Nam xuất hiện từ rất lâu đời. Nó gắn liền
với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm
thủ công truyền thống, với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ.

5


6


(tính theo GDP bình quân đầu người), 90% hộ đói, nghèo trong tổng số hộ đói
nghèo của cả nước là nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn rất
nghiêm trọng, có khoảng 7 triệu lao động chưa có hoặc thiếu việc làm, mỗi
năm lại bổ sung thêm 400.000 người. [6.tr10]
Việc phát triển làng nghề truyền thống đóng vai trò rất quan trọng trong
nền kinh tế nước ta hiện nay nhất là khâu giải quyết việc làm cho người lao
động. Tỷ lệ thất nghiệp ở các làng nghề gần như không có vì thời gian nông
nhàn đã được người lao động tận dụng vào việc phát triển các nghề phụ như
thêu, dệt, đồ mỹ nghệ… Theo số liệu của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả
nước hiện có trên 2017 làng có nghề, trong đó trên 300 làng nghề truyền
thống với hàng triệu cơ sở sản xuất. Đã có hơn 40% sản phẩm được xuất khẩu
đến hơn 100 nước. Tỷ lệ hộ nghèo trong các khu vực có nghề phụ phát triển là
3,7%, thấp hơn nhiều so tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong cả nước (10,4%).
Chính vì vậy việc phát triển làng nghề truyền thống đã góp phần không nhỏ
trong tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân nói
chung và người lao động nói riêng.
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung
cấp và hậu thuẫn đắc lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp. Tuy nhiên,
nguồn lao động này vẫn còn ít cơ hội để phát huy khả năng cống hiến của
mình cho sự phát triển nông thôn. Đây là thách thức đối với chính lao động
nông thôn và các nhà hoạch định chính sách.
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang
sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực
lượng lao động cả nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông
nghiệp, năng suất lao động thấp, phương thức sản xuất lạc hậu, hiệu quả sản
xuất không cao. Giai đoạn 2000-2007, tốc độ tăng trưởng lao động của cả
nước đạt 2,79%, trong đó tốc độ tăng trưởng của lao động nông thôn là

sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85%. [7.tr33].
Làng nghề phát triển sẽ tạo ra nhiều lợi thế trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, nhất là cơ cấu lao động. Phát triển làng nghề là một hướng

8


đi phù hợp nhằm giải quyết lao động dôi dư trong nông nghiệp, nông thôn mà
không tạo ra căng thẳng về tình trạng di cư ồ ạt vào các thành phố lớn tìm
việc làm, trên cơ sở thực hiện: “Rời ruộng - không rời làng”. Làng nghề lại là
nơi có nhiều lợi thế trong việc khai thác thị trường tại chỗ về công cụ sản
xuất, hàng tiêu dùng, nhất là góp phần trực tiếp vào việc cải thiện phương tiện
lao động tại các địa phương. Như vậy, phát triển làng nghề không chỉ có ý
nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các
làng, xã có nghề, mà còn có ý nghĩa đối với quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn và vấn đề lao động việc làm ở nước ta
hiện nay.
1.2.2. Nâng cao thu nhập cho người lao động.
Vấn đề nâng cao thu nhập cho người lao động là mối quan tâm lớn của
nhà nước ta nhất là người lao động nông thôn và đặc biệt ở các làng nghề
truyền thống. Nếu nhìn vào thực tế trước khủng hoảng tài chính, ở nông thôn,
địa phương nào có làng nghề, mức sống của người dân nơi đó luôn ở mức
khá. Thu nhập của người lao động ở làng nghề cao hơn 3 - 4 lần so với sản
xuất nông nghiệp đơn thuần. Thường thì ở các làng thuần nông mỗi lao có
mức thu nhập hàng tháng khoảng 500.000 vnđ thấp hơn nhiều so với lao động
ở các làng nghề truyền thống là 1.700.000 – 1.800.000 vnđ/ tháng tại nhiều
làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành
nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở
ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên.
Trung bình mỗi cơ sở doang nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn

những mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo lên một xã hội ổn định hơn, môi
trường được cải thiện và dễ dàng qui hoạch quản lý hơn nhất là ở các vùng
nông thôn. Đó cũng chính là một phần của cơ cấu kinh tế phát triển bền vững
trong công cuộc đổi mới và hội nhập của Việt Nam

10


Ngoài những thuận lợi thì ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn trước
mắt đó là nguy cơ các làng nghề phát triển thiếu bền vững. Hà Nội hiện có
khoảng 1.270 làng có nghề, trong đó là 224 làng nghề truyền thống với 47
nhóm nghề (trên tổng số 52 nghề toàn quốc), góp phần giải quyết việc làm
cho 627.000 lao động. Tuy nhiên, hầu hết các làng nghề phát triển theo hướng
tự phát, quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình và chưa được đầu tư
chiều sâu về công nghệ và quản lý nên năng suất, chất lượng thẩm mỹ sản
phẩm chưa cao, sức cạnh tranh chấp.
Phần lớn các làng nghề ở Hà Nội đang đối mặt với nguy cơ phát triển
thiếu bền vững vì chưa đăng ký thương hiệu. Dù có tới trên 1.000 làng nghề
nhưng mới chỉ có sản phẩm bánh chưng của làng Tranh Khúc (xã Duyên Hà,
Thanh Trì) đã đăng ký thương hiệu và công bố tháng 12/2009.
Vẫn biết, việc xây dựng thương hiệu cho mỗi sản phẩm làng nghề là rất
khó khăn, vì nó đòi hỏi phải đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm.... Tuy nhiên, để sản phẩm phát triển bền vững thì phải có
thương hiệu.
Nhiều người vẫn quen với nếp nghĩ chẳng cần khuếch trương xây dựng
thương hiệu mà cứ “hữu xạ tự nhiên hương”, nếu sản phẩm tốt thì ắt sẽ được
mọi người ghi nhận nên chưa quan tâm đến việc đăng ký thương hiệu. Điều
đó dẫn đến tình trạng nhiều làng nghề khi phát hiện sản phẩm của mình bị làm
nhái, làm giả nhưng không biết kiện ai.
Mặt khác, tỷ lệ thành lập tổ chức làng nghề của các địa phương còn rất ít

động sáng tạo, những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm tuyệt
vời, mà ở đó là tư duy, là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế hệ. Mỗi sản
phẩm còn là khúc tuỳ hứng, khát vọng của con người và của cả cộng đồng. Đó
chính là phần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của làng nghề và sản phẩm của
làng nghề.
Thêm vào đó việc tôn vinh các nghệ nhân, những người thợ thủ công của
các làng nghề cũng là một yêu cầu đặt ra đối với việc bảo tồn di sản văn hóa
dân tộc. Cần thẳng thắn thừa nhận rằng, việc này còn là một thiếu sót. Nguyên

12


nhân ban đầu có thể do nhận thức chưa đúng rằng làng nghề chỉ đơn thuần là
hoạt động kinh tế phụ. Do đó, các giá trị vô hình và đặc biệt là bàn tay khối óc
và tâm hồn của những người thợ tài ba làm ra sản phẩm, những nghệ nhân lại
dễ bị lãng quên. Nghệ nhân không phải là người lao động bình thường, ở họ
ngoài tài ba khéo léo của đôi bàn tay, họ còn giữ trong mình những bí quyết,
kỹ thuật cha truyền con nối và cả những tài hoa, có khi xuất thần, khó giải
thích bằng lời. Ngoài sự sáng tạo, nghệ nhân còn có sứ mệnh truyền nghề cho
các thế hệ sau. Vì vậy việc tôn vinh nghệ nhân không đơn thuần chỉ là đánh
giá công lao và tỏ lòng kính trọng, mà hơn thế, đây là một hoạt động, một
phương pháp, một nội dung nhằm bảo tồn được các giá trị văn hóa phi vật thể
của làng nghề truyền thống.
Cần tiến hành nghiên cứu để bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn
liền với sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của các làng nghề. Tục thờ tổ
nghề và lễ hội làng nghề được cư dân làng nghề và xã hội coi trọng. Thờ tổ
nghề là một nét văn hóa truyền thống chứa đựng ý nghĩa lịch sử xã hội, đời
sống và con người. Từ đặc trưng văn hóa này cho phép chúng ta mở rộng sự
nghiên cứu về “nghề”, về “nghiệp”, về yếu tố “bản địa”, “sự thiên di” hay khả
năng lan tỏa của mỗi nghề hay mỗi làng nghề. Cùng với tục thờ tổ nghề là các

và các loại hình làng nghề. Có khá nhiều làng nghề phát xuất hiện cách đây
hơn 100 năm và có một số làng nghề mới được hình thành, phát triển tương
đối ổn định.
Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có
2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề. Rất nhiều trong số này
đã có hàng trăm năm tuổi như làng nghề nổi tiếng Bát Tràng. Làng đúc đồng
Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển; nghề chạm bạc ở Đồng Xâm
(Thái Bình), hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũng đã
hình thành cách đây hơn 400 năm. Theo tổng hợp của Tổng cục Môi trường
năm 2008, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông
Hồng, chiếm khoảng 60%, miền Trung, chiếm khoảng 30% và miền Nam
khoảng 10%. Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản
phẩm của làng nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sự phát triển của các làng nghề truyền thống Việt Nam không chỉ mang
lại những sản phẩm đặc sắc của từng địa phương mà còn là điểm văn hóa của
khu vực, của vùng cũng là điểm hẹn văn hóa của nhiều du khách trong và
ngoài nước. Chính vì điều này theo xu thế chung, cả hai - làng nghề và du lịch
- đang hướng vào nhau để tạo nên "vùng giao thoa" mà nhiều địa phương có
làng nghề đã phát triển tất yếu. Bằng những sản phẩm du lịch đặc thù trong
tương lai đây được coi là mô hình phát triển của các làng nghề truyền thống.

15


Mô hình làng nghề và du lịch thu hút được rất nhiều lượng du khách cả trong
và ngoài nước mang lại thu nhập không nhỏ cho các địa phương, điển hình là
làng gốm Bát Tràng – Long Biên – Hà Nội mỗi năm đón hàng triệu du khách
thập phương (Du khách có thể đến làng tham quan nơi sản xuất, thử vẽ lên đồ
gốm sứ và mua hàng làm quà kỷ niệm). Một số chuyên gia du lịch nhận định:
“Sự kết hợp chặt chẽ giữa du lịch và làng nghề thủ công truyền thống tại Việt

Xu hướng khôi phục nghề truyền thống đi đôi với phát triển nghề mới phù
hợp với thị trường tiêu dùng
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống phục vụ cho tiêu dùng và
xuất khẩu, nhưng không phải bất cứ làng nghề nào cũng trụ được trong cơ chế
thị trường. Hiện nay, phát triển nghề mới, làng nghề mới đang lan rộng ở
nhiều địa phương như: Làng nghề xây dựng, vận tải, du lịch, làm giấy ép.
Trong xu hướng phát triển của làng nghề và các nghề mới, đã xuất hiện cả
những nghề sản xuất theo hướng công nghiệp, dịch vụ như sản xuất phân bón
từ rác thải, nghề thu gom phế liệu, nấu cán ép nilon, mây tre đan quét sơn giả
gốm, đan bao bì, túi sách bằng thân bèo bồng.... Song cũng có làng nghề
truyền thống đã mai một và dễ lụi tàn như nghề trồng cói, dệt chiếu, dệt đũi,
dệt vải màn. Trung bình 1 gia đình làm nghề có thu nhập trung bình khoảng 5
triệu đồng/tháng.
Xu hướng đa dạng hoá các hình thức sản xuất kinh doanh. Hộ gia đình là
hình thức tổ chức kinh doanh hiệu quả, quản lý và sử dụng lao động hợp lý, tự
chủ được sản xuất kinh doanh. Phương pháp truyền nghề trực tiếp ngay trong
dòng họ, gia đình đã giảm được chi phí đào tạo, giữ được bí quyết nghề
nghiệp,... Cùng với hình thức sản xuất kinh doanh theo gia đình, đã xuất hiện
nhiều hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách
nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.
Làng nghề là một trong những đặc thù ở nông thôn nước ta, nhiều ngành
nghề truyền thống đang được khôi phục, bảo tồn và phát triển cùng song hành
với một số nghề mới. Tuy vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh còn mang đậm
nét tự phát, nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch. Đặc biệt là sản xuất trong hộ gia đình
ngay tại khu dân cư hoặc các khu tập trung lại không có ranh giới rõ rệt với
khu dân cư gây ô nhiễm môi trường, sức khoẻ cộng đồng. Hầu hết các làng
nghề đều không đạt tiêu chuẩn về: Độ ồn, ánh sáng, độ rung, độ ẩm, nhiệt độ

17


18


và phát triển các loại hình làng nghề kéo theo nhiều vấn đề nan giải cần được
giải quyết như vấn đề vê môi trường, an ninh chính trị, văn hóa… của địa
phương. Các mô hình làng nghề còn mang tính tự phát thiếu tính đồng bộ
chuyên nghiệp đã gây thiệt hai không nhỏ cho nhà nước chẳng hạn như:
ngoại trừ hai cái tên được nhắc đến liên tục là Bát Tràng và làng lụa Vạn
Phúc, các làng nghề khác gần như bị bỏ quên, mặc dù có chủ trương từ chính
quyền địa phương. Ví như cụm làng nghề mây tre đan ở Chương Mỹ, khảm
trai Chuyên Mỹ, thêu Quất Động, nón làng Chuông, sơn mài Hạ Thái… Dù
được đầu tư phát triển du lịch từ những năm 2003 – 2004, dù có tên trong sản
phẩm tour của các hãng lữ hành, song đến nay tình hình du lịch tại những địa
điểm này không có biến chuyển tích cực nào, lượng tour thưa thớt, khách
hàng thờ ơ. Điển hình như làng mây tre đan Phú Nghĩa (Chương Mỹ) khu
trưng bày sản phẩm được xây dựng 8 năm nay cho khách tham quan đến giờ
vẫn hoang vắng với tổng số khách nước ngoài đón tiếp trong 8 năm là 30
người. Hay cụm làng nghề du lịch của hợp tác xã Một thoáng Việt Nam (xã
An Phú, huyện Củ Chi) đã đi vào hoạt động từ nǎm 1997, nhưng phải ngưng
đón khách từ 5 nǎm nay do doanh thu từ khách tham quan không đủ bù chi
phí hoạt động… và còn rất nhiều những bất cập khác mà ta cần phải khắc
phục trong thời gian tới
2.1.2. Về chất lượng sản phẩm
Làm cách nào để phát triển các sản phẩm làng nghề bắt kịp với xu hướng
thị trường trong nước, xuất khẩu và tiêu dùng là một vấn đề được các nhà
quản lý cũng như các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, các doanh
nghiệp kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đặc biệt quan tâm.
Các sản phẩm của làng nghề truyền thống Việt Nam cũng dần bắt kịp với xu
thế hiện nay cả về mẫu mã và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó cũng có rất
nhiều mặt yếu kém cần phải nói tới. Theo hiệp hội làng nghề truyền thống cho

lượng sản phẩm qua việc hỗ trợ vốn, thông tin khoa học nghệ, xúc tiến thương
mại…

20


2.1.3. Về trình độ kỹ thuật công nghệ
Tại các làng nghề truyền thống ở Việt Nam hiện nay thì trình độ quản lý
cũng như trình độ kỹ thuật công nghệ vẫn còn quá yếu kém. Chủ yếu việc sản
xuất theo lối thủ công truyền thống, rất ít máy móc, công nghệ được đưa vào
thì cũng chỉ là các thiết bị cũ kĩ, lạc hậu tạo ra năng suất thấp giá thành cao
hạn chế trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm làng nghề. Trình độ quản lý và
nắm bắt thông tin của các làng nghề thật sự còn yếu vì hầu hết lao động trong
làng nghề là lao động nông thôn có thể làm việc theo thời vụ hay những lúc
nhàn dỗi mà chủ yếu theo tập quán của từng địa phương. Vấn đề thông tin và
trình độ quản lý thì cực kỳ quan trọng cho chất lượng và đầu ra của sản phẩm
Chính trình độ kỹ thuật công nghệ ở các làng nghề còn kém phát triển như
vậy đã làm ảnh hưởng nhiếu đến kinh tế - xã hội của nhiều địa phương nhất là
vấn đề môi trường còn rất nhiều bất cập nan giải cho các cơ quan bảo vệ môi
trường. Hiện nay trên cả nước có khoảng 1.450 làng nghề nhưng vùng châu
thổ sông Hồng tập trung nhiều nhất với khoảng 800 làng, trong đó Hà Tây,
Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định và Thanh Hóa là những địa
phương có mật độ làng nghề cao nhất. Với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8%,
làng nghề được coi là có tác động mạnh mẽ nhất làm thay đổi đời sống và bộ
mặt nhiều vùng nông thôn, mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế và là nguồn thu
chủ yếu của nhiều hộ gia đình.
Tuy nhiên, với đặc trưng sản xuất manh mún, thủ công, nhỏ lẻ hộ gia đình,
làng nghề đang trở thành gánh nặng về môi trường với những địa phương có
nhiều làng nghề phát triển. Chế biến lương thực thực phẩm, tái chế, dệt
nhuộm được coi là một trong những làng nghề có mức độ gây ô nhiễm môi

dưỡng nguồn lao động đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ. Tuy
nhiên, trước yêu cầu phát triển mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang đặt ra nhiều thách
thức. Trong đó, thách thức lớn nhất là lực lượng lao động tuy đông, nhưng về
chất lượng nhìn chung còn thấp, sức cạnh tranh so với nhiều nước khu vực và

22


thế giới hạn chế. Nhất là chất lượng lao động trong các làng nghề truyền
thống.
+

Về số lượng: Theo số liệu điều tra gần đây, thì nước ta hiện có 44,4 triệu

lao động và vẫn tiếp tục tăng nhanh. Đáng lưu ý là lực lượng lao động này
hầu hết (75,1%) ở nông thôn và tập trung đông nhất là 2 vùng đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, từ năm 2000 đến 2006
mỗi năm bình quân có gần một triệu người bước vào tuổi lao động. Như vậy,
đến nay có thể nói Việt Nam là một trong những nước có nguồn lao động dồi
dào.
+ Về chất lượng: Trình độ học vấn của lao động Việt Nam, kể cả lao động ở
khu vực nông nghiệp nông thôn nhất là ở các làng nghề truyền thống được
chuyên gia quốc tế đánh giá vào loại khá so với nhiều nước trên thế giới, nếu
như năm 2004 mới chỉ có 47% nguồn lao động có trình độ phổ thông cơ sở và
phổ thông trung học, thì đến đầu năm 2006 con số này là 58%.
Tuy trình độ học vấn khá, nhưng chất lượng nguồn lao động Việt Nam lại
thấp so với nhiều nước khu vực và thế giới thể hiện:
- Thứ nhất, sức cạnh tranh, khả năng làm việc của nguồn lao động nhìn chung
bị hạn chế do tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thấp và kỹ năng làm

- Thứ ba, thể lực và tình hình sức khoẻ nói chung của lao động Việt Nam yếu
so với nhiều nước về cân nặng, chiều cao và sức bền. Trong khi chiều cao
trung bình của Việt Nam 1m50, cân nặng 45kg, thì ở Philipin là 1m55, cân
nặng 50kg và Nhật Bản là 1m64, cân nặng là 54,6kg.
Đây cũng là những hạn chế chung của nguồn nhân lực nước nhà đồng thời
là hạn chế riêng của nguồn nhân lực các làng nghề Việt Nam mà chúng ta cần
phải chú ý và lưu tâm hơn nữa để chất lượng nguồn nhân lực ngày một phát
triển.
2.1.5. Về hiệu quả kinh tế
Kinh tế các làng nghề truyền thống thật sự đã góp phần không nhỏ vào nền
kinh tế đất nước và bình ổn cơ cấu kinh tế nông thôn cũng như trật tự văn hóa
xã hội.
Một điều tra của Bộ Công nghiệp cho thấy làng nghề Việt Nam đang sử dụng
1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và 3-5 triệu lao động thời vụ đã khẳng
định được vị trí quan trọng của làng nghề trong nền kinh tế chung. Làng nghề
phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn đang có quá nhiều người thất
nghiệp; gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt đô
thị hóa mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm
giàu trên quê hương mình. Nó làm giảm bớt căn bệnh “to đầu” vì làn sóng

24


nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả xã hội nặng
nề.
Bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế về hiệu quả kinh tế các làng nghề
nhất là hiệu quả sản phẩm của làng nghề truyền thống do tâm lý dựa dẫm vào
truyền thống. Rõ thấy nhất là vấn đề quảng bá thương hiệu các làng nghề vẫn
còn kém nhiều làng nghề có tâm lý lấy không cần quảng bá thương hiệu bởi
làng đã có lịch sử hàng trăm năm nên đương nhiên là sẽ có nhiều người biết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status