Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng_2 - Pdf 49

Header Page 1 of 85.

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với sự hội nhập kinh tế ngày nay, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt cả trong và ngoài nước. Nhưng để duy trì được và phát triển yêu cầu
các nhà quản lý kinh tế phải xây dựng cho doanh nghiệp mình một phương pháp
hoạt động đúng đắn, các chiến lược, các phương án sản xuất kinh doanh một cách
có hiệu quả.
Trong cơ chế hiện nay việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vô cùng quan
trọng:
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điệu kiện quan trọng để đảm bảo duy
trì và phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại được là bởi sự tiêu thụ sản
phẩm trên thị trường, mà hiệu quả sản xuất kinh doanh lại là yếu tố trực tiếp đảm
bảo sự duy trì này, hơn nữa mục tiêu của doanh nghiệp là luôn luôn phát triển một
bền vững. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một yếu tố khách
quan đối với tất cả các doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động hiện nay. Do yêu cầu đó
mà mỗi nhà quản lý kinh tế muốn tăng thu nhập của doanh nghiệp nhưng với điều
kiện vốn và các yếu tố đầu vào cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ
thay đổi trong khuôn khổ nhất định. Vậy để tăng lợi nhuận thì các doanh nghiệp
phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện để tăng sự cạnh tranh và phát
triển trên thị trường. Muốn tăng khả năng cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp
phải năng động, sáng tạo tạo nên sự phát triển trong kinh doanh. Với cơ chế thị
trường cạnh tranh ngày nay việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay
gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng
mà cạnh tranh cả về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác. Với mục tiêu lâu dài của
các doanh nghiệp là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố hai mặt, nó co thể làm các
doanh nghiệp vượt trội nhưng ngược lại cũng có thể làm cho các doanh nghiệp
không duy trì được trên thị trường. Để có thể duy trì hoạt động và phát triển mạnh
mẽ các doanh nghiệp cần phải mạnh hơn đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trước

Xi măng Hải Phòng trong 5 năm qua từ 2010 - 2014, từ đó tác giả đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2015 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Thương
mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng.

Footer Page -Footer Page -Footer Page 2 of 85.

2


Header Page 3 of 85.

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của Công
ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng giai đoạn 2010 2014.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn vận dụng những phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…
5. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Hệ thống những lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng giai đoạn 2010 - 2014
và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong giai
đoạn 2015 - 2020.
6. Nội dung của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2. Đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng

phẩm, với khách hàng – người tiêu dùng; họ có mối quan hệ liên quan với nhau là
mối quan hệ với các đối tác, đối thủ cạnh tranh; ngoài ra còn có mối quan hệ với
các bên hữu quan như chính phủ và các tổ chức tài chính. Những mối quan hệ sẽ
có tác dụng làm cho hoạt động kinh doanh được vận hành một cách liên tục nhằm
giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển;
- Sản xuất kinh doanh phải có vốn. Mọi hoạt động kinh doanh đều cần có vốn. Chủ
thể kinh doanh dùng vốn để chi trả các yếu tố đầu vào;
- Mục đích chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh là mục đích vì lợi
nhuận.[3,16]

Footer Page -Footer Page -Footer Page 4 of 85.

4


Header Page 5 of 85.

1.1.2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngày nay, mục tiêu kinh tế quan trọng của các doanh nghiệp là sản xuất kinh
doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
luôn gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh.
“Có thể hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó
phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu đề ra, nó
thể hiện mối quan hệ giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra, độ chênh lệch
hay tỷ lệ giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Như vậy thì hiệu
quả có nghĩa là lợi nhuận của doanh nghiệp cao và chất lượng của sản phẩm đáp
ứng được nhu cầu của thị trường.”
Ngoài ra khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh được hiểu một cách đơn giản như
sau: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh
tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ


Trong đó:
H : Là hiệu quả sản xuất kinh doanh
K : Là kết quả thu được
C : Là chi phí bỏ ra
Để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải có thông tin
về kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết
quả là điều kiện để tính hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp có thể là sản lượng, doanh thu, lợi nhuận. Như vậy kết quả sản
xuất kinh doanh thường là mục tiêu ban đầu của doanh nghiệp.
- Phải phân biệt hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội.
“Nếu xét trên phạm vi từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế. Hiệu
quả kinh tế là quan hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó. Kết quả thu được trong khái niệm này có thể là sản lượng, doanh thu, lợi
nhuận, … Hiệu quả kinh tế cho biết khả năng khai thác các yếu tố đầu vào trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
Nếu xét trên phạm vi toàn xã hội có hai phạm trù là hiệu quả chính trị và hiệu quả
xã hội. Chúng thể hiện ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh tới việc xử lý
những yêu cầu và mục tiêu chung của nền kinh tế xã hội. Hai loại hiệu quả này
quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. Hiệu
quả chính trị xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt trình
độ dân trí, mức sống bình quân, chỉ số hạnh phúc...
Nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia là luôn có sự cân đối
giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị xã hội. Nếu có sự mất cân đối nào thì
sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng”.
- Hiệu quả ngắn hạn với hiệu quả dài hạn.

Footer Page -Footer Page -Footer Page 6 of 85.

6

Hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh trình
độ tổ chức, năng lực sản xuất, quản trị công ty mà còn là vấn đề quan trọng quyết
định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.

Footer Page -Footer Page -Footer Page 7 of 85.

7


Header Page 8 of 85.

Hiện nay, các doanh nghiệp phải biết năng động trong kinh doanh, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp khắc phục những điểm yếu, tận
dụng cơ hội để cải thiện và phát triển sản phẩm, qua đó giữ vững vị trí trên thị
trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, tiết kiệm chi phí tài lực và
vật lực. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là sự phát triển doanh nghiệp
được mở rộng, nâng cao đời sống người lao động, góp phần vào sự phát triển
chung của xã hội và đất nước.[1,16]
1.3. Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình kết hợp sử dụng nhiều
yếu tố như: nguyên vật liệu, tư liệu lao động, sức lao động, tiền vốn. Hiệu quả kinh
tế của sản xuất kinh doanh đạt được khi sử dụng các yếu tố đó có hiệu quả. Vì vậy,
để phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh cần sử dụng hệ thống chỉ tiêu, khi tính
toán (từng chỉ tiêu cụ thể) người ta dựa vào công thức (1.2).
Về kết quả sản xuất đạt được hiện nay người ta thường dùng chỉ tiêu về doanh thu
hoặc lợi nhuận, trong bài này tác giả sử dụng chỉ tiêu về lợi nhuận.
Về chi phí sản xuất có thể sử dụng toàn bộ chi phí lao động sống và lao động vật
hoá thường tính theo số lượng lao động bình quân năm hoặc vốn sản xuất bình
quân năm.
Từ công thức (1.2) ta có thể vận dụng và tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

(1.3)

Trong đó:
* Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để
có thu nhập đó. Theo phạm vi tính ta có:
Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh = Doanh thu - Chi phí sản xuất
kinh doanh

(1.3.1)

Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động tài chính = Thu từ hoạt động tài chính - Chi phí
hoạt động tài chính

(1.3.2)

Lợi nhuận trước thuế khác = Thu khác - Chi phí khác

(1.3.3)

Tổng lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh + Lợi
nhuận trước thuế từ hoạt động tài chính + Lợi nhuận trước thuế khác (1.3.4)
Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh
nghiệp.[4,7]
Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp = Lợi nhuận trước thuế X Thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp

Footer Page -Footer Page -Footer Page 9 of 85.


phẩm của doanh nghiệp là hoạt động xuất bán sản phẩm cho người mua để nhận
được số tiền về sản phẩm đó. Quá trình tiêu thụ sản phẩm được coi là hoàn thành
khi doanh nghiệp được chấp nhận trả tiền của bên mua hàng.
Tổng doanh thu = Doanh thu thuần + Thu từ hoạt động tài chính + Thu nhập
khác

Footer Page -Footer Page -Footer Page 10 of 85.

(1.5)

10


Header Page 11 of 85.

Doanh thu là tiền thu từ việc bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng
trong một thời gian nhất định. Doanh thu được xác định từ khi khách hàng chấp
nhận trả tiền không kể tiền đã nhận được hay chưa. Các sản phẩm dùng để biếu
tặng, đổi vật tư, trả thay lương... đều được tính vào doanh thu của doanh nghiệp
trong kỳ.
Thu từ hoạt động tài chính là thu từ các hoạt động về đầu tư vốn, kinh doanh vốn
như góp vốn liên doanh, thu lãi tiền gửi, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn,
kinh doanh ngoại tệ...
Thu nhập khác là các khoản thu phát sinh ngoài dự kiến của doanh nghiệp như các
khoản thưởng của khách hàng, tiền phạt các đối tượng khác vi phạm hợp đồng kinh
tế với doanh nghiệp, thu về thanh lý tài sản cố định, thu từ những khoản thu khó
đòi đã xử lý và những khoản thu có tính chất bất thường khác.
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.[4,7]

nghiệp.[4,7]
Tổng chi phí = Chi phí sản xuất kinh doanh + Chi phí hoạt động tài chính +
Chi phí khác

(1.6)

1.3.2. Tỷ suất lợi nhuận theo Vốn
Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng
bản thân nó mới chỉ biểu hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và
chi, muốn đưa ra được đánh giá sâu rộng hơn ta phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận hay còn gọi là chỉ tiêu doanh lợi.
Tỷ suất lợi nhuận là đại lượng tương đối dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, nó được xác định thông qua sự so sánh giữa chỉ tiêu lợi nhuận với
các chỉ tiêu đặc thù của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh là doanh thu, vốn và
chi phí.
Từ đó ta có ba chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn được tính toán như sau:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn =

(1.7)
Vốn bình quân trong kỳ

Vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Thông qua các chỉ tiêu này thấy được một đồng
vốn bỏ vào kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó cho ta thấy được
hiệu quả kinh tế không chỉ đối với lao động vật hoá mà còn cả lao động sống. Nó

Footer Page -Footer Page -Footer Page 12 of 85.

12

xét tại một thời điểm nhất định, số vốn đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị
hiện có của các tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Vốn bình quân trong kỳ được tính bằng trung bình cộng của vốn đầu kỳ và vốn
cuối kỳ.[1,3]
1.3.3. Tỷ suất lợi nhuận theo Chi phí
Ta có công thức sau:

Footer Page -Footer Page -Footer Page 13 of 85.

13


Header Page 14 of 85.

Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí =

(1.8)
Tổng chi phí

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Để tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần hạn chế tối đa chi
phí để thu lợi nhuận nhiều nhất. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp
kinh doanh càng hiệu quả ngược lại là doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và có thể
là không có lãi.[1,3]
1.3.4. Tỷ suất lợi nhuận theo Doanh thu
Ta có công thức:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =


Tổng doanh thu
Năng suất lao động =

(1.10.1)
Tổng lao động bình quân

* Nếu kết qủa kinh doanh là lợi nhuận:
Lợi nhuận
Năng suất lao động =

(1.10.2)
Tổng lao động bình quân

Chỉ tiêu năng suất lao động (1.10.1) biểu hiện hiệu quả trong việc sử dụng lực
lượng lao động trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu năng suất lao động (1.10.2) hay mức
sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh
nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này
càng cao thì chứng tỏ lao động trong doanh nghiệp làm việc năng suất và có hiệu
quả ngược lại thì là làm việc kém hiệu quả.[1,3]
1.4. Các nhân tố môi trƣờng ảnh hƣởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.4.1. Nhóm nhân tố vĩ mô
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố vĩ mô tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách đầu tư ưu
đãi, chính sách phát triển sẽ tạo ra sự ưu tiên hoặc kìm hãm sự phát triển của từng
ngành từng lĩnh vực cụ thể do đó có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của các doanh nghiệp trong từng ngành, từng lĩnh vực nhất định.
Ngoài việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, các cơ quan quản lí nhà nước
về kinh tế phải làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư,

của doanh nghiệp.
* Môi trường văn hoá xã hội
Các nhân tố điều kiện xã hội của địa phương, phong tục tập quán, văn hóa giáo
dục, lối sống của người dân... là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể duy
trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp với nhu cầu, thị hiếu khách
hàng, xu hướng tiêu dùng hiện tại, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến
hành hoạt động sản xuất. Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường
văn hoá xã hội quy định. Đây là nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.

Footer Page -Footer Page -Footer Page 16 of 85.

16


Header Page 17 of 85.

* Môi trường chính trị pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hình thức, thể chế đường lối chính trị của
Đảng và Nhà nước quyết định các chính sách, đường lối kinh tế chung, từ đó quyết
định các lĩnh vực, loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể
ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển
nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại.
Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài
kinh tế của kinh doanh. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong
nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược

ra là yếu tố quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở sự chấp nhận hàng
hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. Thị trường đầu ra có thể bao gồm
các kênh phân phối, người sẽ giúp doanh nghiệp trong việc đẩy nhanh hay chậm
tốc độ tiêu thụ, vòng quay vốn để từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
* Người tiêu dùng
Người tiêu dùng chính là người tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất, là
lực lượng quyết định đến sự phát triển hay thành bại của doanh nghiệp. Người tiêu
dùng chịu sự tác động của giá cả, chất lượng sản phẩm, thu nhập, thói quen và thị
hiếu của người tiêu dùng.
Việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng là yêu cầu khách quan của môi
trường cạnh tranh, cũng như sự phát triển nền kinh tế thị trường. Nhưng chính nhu
cầu khách quan này thể hiện quan điểm và văn hoá riêng của mỗi nhà quản lý trong
mục tiêu kinh doanh, cũng như nét đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Việc phục
vụ khách hàng được biểu hiện thông qua sự thoả mãn tối đa nhu cầu của khách
hàng từ những phương tiện phục vụ hiện đại và với thái độ nhiệt tình, lịch sự và
chăm sóc sau bán hàng... Từ đó góp phần thu hút khách hàng, tạo niềm tin và tăng
nhanh doanh số tiêu thụ, nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh.
* Đối thủ cạnh tranh
Là bao gồm cả đối thủ cạnh tranh sơ cấp và đối thủ cạnh tranh thứ cấp. Trường hợp
doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh hơn thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc này chỉ có
thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm
giá thành sản phẩm để tăng tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu và tăng vòng quay của

Footer Page -Footer Page -Footer Page 18 of 85.

18



- Tên đầy đủ tiếng Việt: Công ty cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng
Hải Phòng.
- Tên đầy đủ tiếng Anh: Hai Phong Cement Transport and Trading joinstock
Company.
- Mã chứng khoán: HCT
- Địa chỉ: Số 290 Đường Hà Nội phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải
Phòng.
- Điện thoại: 0313.540.445

Fax: 0313.540.417

- Ngành nghề kinh doanh chính:
+ Vận tải hành khách bằng xe khách nội tỉnh, liên tỉnh. Vận tải hàng hóa ven biển
và viễn dương. Bốc xếp hàng hóa ga đường sắt, bốc xếp hàng hóa đường bộ, bốc
xếp hàng hóa cảng biển, bốc xếp hàng hóa cảng sông;
+ Kinh doanh vật liệu xây dựng, kho bãi và lưu giữ hàng hóa. Dịch vụ đại lý tàu
biển, dịch vụ đại lý vận tải đường biển, dịch vụ khác liên quan đến vận tải. Dịch vụ
lưu trú ngắn ngày: Khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn
ngày;
+ Nhà hàng, quán ăn, hàng ăn uống, dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động khác;
+ Khai thác đá, cát, sỏi, đất sét, đại lý, môi trường, đấu giá, cho thuê máy móc,
thiết bị xây dựng;
+ Cho thuê máy móc và đồ dung hữu hình khác;
+ Đại lý du lịch, điều hành tour du lịch, dịch vụ hỗ trợ liên quan đến quảng bá và
tổ chức tour du lịch;
+ Xây dựng nhà các loại, xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng;
+ Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác;

Footer Page -Footer Page -Footer Page 20 of 85.


420 người

- Năng lực phương tiện
+ Tổng số tấn phương tiện thuỷ:

8.520 tấn phương tiện

+ Tổng số phương tiện bộ: 57 xe vận tải = 420 tấn phương tiện
* Giai đoạn từ tháng ngày 01/3/2004 đến nay
- Thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước của Đảng và
Chính phủ, theo Quyết định số 1753/QĐ-BXD ngày 29/12 /2003 của Bộ trưởng Bộ
Xây dựng về việc cổ phần hoá Xí nghiệp Vận tải thuỷ trực thuộc Công ty Xi măng

Footer Page -Footer Page -Footer Page 21 of 85.

21


Header Page 22 of 85.

Hải Phòng thành Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải
Phòng trực thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam.
Công ty cổ phần chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/3/2004.
- Tổng số cán bộ công nhân viên:
Trong đó trình độ Thạc sỹ:

130 người
02 người

Đại học:

15 người

+Phòng Kinh tế kỹ thuật:
Đội xe ca:

8 người
16 người

+ Phòng Kế toán tài chính:

5 người

+ Phòng Kinh doanh:

4 người

Bộ phận kinh doanh xi măng:

17 người

Đội vận tải bộ:

18 người

+ Phân xưởng Vận tải thuỷ:

41 người

- Năng lực phương tiện thuỷ
+ Ca nô đầu kéo: 10 chiếc (loại 135 CV÷150 CV)

tư mới thay thế các phương tiện cũ nhằm nâng cao năng suất lao động cải
thiện điều kiện làm việc tạo thêm việc làm mới cho người lao động cụ thể:
+ Đầu tư 04 tầu tự hành trọng tải từ 600 tấn đến 980 tấn thay thế toàn bộ cho
10 đoàn ca nô đầu kéo và 25 sà lan;
+ Đầu tư đóng mới 01 tầu vận tải ven biển trọng tải 2000 tấn;
+ Đầu tư mới toàn bộ 14 xe ca loại 35 đến 45 chỗ ngồi phục vụ cho việc đưa
đón công nhân và kinh doanh dịch vụ du lịch;
+ Đầu tư thêm 02 xe vận tải phục vụ công tác kinh doan xi măng...;
+ Đầu tư 01 nhà hàng ăn uống để phục vụ cán bộ công nhân viên và kinh
doanh mở rộng thêm ngành hàng dịch vụ...;
+ Đầu tư thêm các bến bãi, nhà để xe ô tô, mở dịch vụ trông coi xe máy, ô tô
tạo thêm việc làm thu nhập cho người lao động.[17]
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty

Footer Page -Footer Page -Footer Page 23 of 85.

23


Header Page 24 of 85.

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng

Bộ phận

Đội xe

Bộ phận

Đội vận

bảo vệ

ca

kinh

tải bộ

doanh xi
măng

Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty
(Nguồn: Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty)
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty gồm tất cả các cổ
đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần. Đại hội đồng cổ đông
quyết định những vấn đề được Luật pháp và điều lệ công ty quy định. Đại hội đồng
cổ đông thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của công ty và tài chính cho

Footer Page -Footer Page -Footer Page 24 of 85.

24

- Ban giám đốc của công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, có nhiệm vụ tổ chức
điều hành và quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty

Footer Page -Footer Page -Footer Page 25 of 85.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status