Mục lục
1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trang vấn đề
2.3. Các sáng kiến đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.4. Hiệu quả.
3. Kết luận, kiến nghị.
- Kết luận.
- Kiến nghị.
Tài liệu tham khảo.
Trang
2
2
2
2
2
3
3
3
4
10
12
12
12
14
Đối tương nghiên cứu : Là học sinh Lớp 8 trường THCS Thượng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu : gồm 4 vấn đề cơ bản:
- Rèn kĩ năng cảm thụ văn học.
- xây dựng lập luận cho một đoạn văn
- Xây dựng dàn ý và cách viết đoạn ở mỗi kiểu bài
- Liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, tôi đã sử dụng một
số phương pháp như sau:
+ Nghiên cứu lý thuyết về đổi mới phương pháp dạy học để áp dụng vào
tiết dạy.
+ Khảo sát kết quả đạt được .
+ Phân tích rút kinh nghiệm .
+ Tích hợp với phần Tiếng Việt, Văn bản để viết bài làm văn.
+ Đọc –hiểu một một số bài văn mẫu để áp dụng vào bài viết.
+ Giao tiếp- trình bày suy nghĩ ý tưởng, phản hồi, lắng nghe tích cực về
việc tạo lập đoạn văn, văn bản.
+ Suy nghĩ sáng tạo - phân tích, bình luận về tính thuyết phục trong thuyết
minh, tính hợp lí trong kiến nghị của văn bản.
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Việc học sinh học tốt môn ngữ văn nói chung và viết tốt bài tập làm văn
nói riêng sẽ giúp các em rất nhiều trong việc hình thành tính cách, bồi dưỡng
tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái … Nó giúp các em có tư duy lôgic hơn cũng
đồng thời giúp các em cảm thụ văn chương sâu hơn. Việc giúp học sinh viết tốt
bài tập làm văn đòi hỏi người giáo viêm phải có kiến thức sâu rộng ở nhiều mặt,
cả những kiến thức trong sách và thực tế ở ngoài đời. Nó cũng đòi hỏi sự tâm
Tổng
số
85
Giỏi
SL
%
0
0
Khá
SL
%
10
11,8
Trung bình
SL
%
Yếu
SL
55
14
lợi vào thế giới nghệ thuật của văn bản.
- Đưa các câu hỏi gợi cảm xúc, liên tưởng, tưởng tượng: Trước hết là
những câu hỏi gợi cảm xúc, ở dạng đơn giản nhất chúng là những câu hỏi trắc
nghiệm tình cảm. Những câu hỏi này có thể kiểm tra phản ứng tình cảm của học
sinh; mặt khác nó thúc đẩy sự đồng cảm, khuyến khích các em lắng nghe tiếng
nói của trái tim. Chẳng hạn, sau khi đọc diễn cảm, giáo viên có thể hỏi: Em ấn
tượng thế nào về đoạn thơ ( khổ thơ, câu thơ…trong bài thơ; hay hành động,
ngôn ngữ, tích cách nhân vật… trong truyện)?. Ngoài ra, giáo viên có thể dùng
những câu hỏi khơi gợi tưởng tượng của học sinh.
- Dùng lời bình: Dùng những lời bình hấp dẫn và đúng chỗ có tác dụng rất
lớn trong việc rèn luyện cảm thụ cho học sinh. Trước hết, nó khiến học sinh có
những ấn tượng sâu sắc khó phai mờ về vẻ đẹp của văn chương. Biện pháp này
cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích
thích mầm sáng tạo của học sinh, tạo nên sự giao lưu về tình cảm trong giờ văn.
Nhưng tuyệt nhiên giáo viên không được lạm dụng biện pháp này, bởi nhiệm vụ
chính của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản
chứ không phải là trổ tài trình diễn để thôi miên học sinh. Do đó, giáo viên chỉ
tung ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới, đánh giá chưa xác đáng và
những lời bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ, tiến tới khắc sâu ấn tượng cho học
sinh, tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ. Lời bình vì thế, trước hết phải giàu
cảm xúc, là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản. Mặt
khác, nó phải độc đáo, giáo viên phải chọn cách nói ấn tượng, ưu tiên tiên những
lối diễn đạt giàu hình ảnh nhằm tác động mạnh đến học sinh. Hơn nữa, giáo viên
chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật của tác phẩm và việc bình
giá nó giúp học sinh nắm được thần thái, linh hồn của văn bản. ở đây, tôi muốn
nói đến những lời bình có khả năng đánh thức liên tưởng của học sinh, nó tựa
con đường dẫn học sinh thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật văn bản.
4
một cách rõ ràng hơn, sâu sắc hơn.
Chứng minh: Là làm sáng tỏ vấn đề bằng các dẫn chứng và lí lẽ để người
đọc, người nghe tin vào vấn đề trình bày.
Bình luận: Là bày tỏ ý kiến về một vấn đề, đánh giá bản chất, ý nghĩa của
vấn đề, khẳng định tính đúng sai, mở rộng vấn đề giải quyết vấn đề một cách
triệt để và toàn diện.
So sánh:
+ Lập luận so sánh bằng cách tương đồng.
+ Lập luận so sánh bằng cách tương phản.
Nhân quả: Nhân quả là cách thức lập luận đi từ nguyên nhân đến kết
quả, hoặc đi từ kết quả rồi chỉ ra nguyên nhân hoặc chỉ ra mối quan hệ nhân quả
theo cách liên hoàn.
5
2.3.3. Xây dựng dàn ý và cách viết đoạn ở mỗi kiểu bài
Ở mỗi kiểu bài Tập làm văn, giáo viên cần xây dựng cho học sinh nắm
vững yêu cầu - nội dung của mỗi kiểu bài. Học sinh phải nhớ thật cụ thể bố cục
dàn ý đại cương của mỗi kiểu bài, nhiệm vụ của mỗi phần trong dàn ý là gì, cách
làm như thế nào, dẫn dắt ra làm sao…Có như vậy, khi đứng trước một đề bài
Tập làm văn các em có thể xác định được ngay kiểu bài, yêu cầu, dàn ý để làm
tốt bài văn.
Việc xây dựng dàn ý cũng như tìm hiểu yêu cầu của bài Tập làm văn cũng
cần phải được thực hiện đầy đủ, rõ ràng ở các tiết Trả bài viết Tập làm văn, các
tiết Ôn tập Tập làm văn.
Việc xây dựng dàn ý cũng như tìm hiểu yêu cầu của bài Tập làm văn cũng
cần phải được thực hiện đầy đủ, rõ ràng ở các tiết Trả bài viết Tập làm văn, các
tiết Ôn tập Tập làm văn.
Chẳng hạn như đối với thể loại văn Thuyết minh, Giáo viên nhất thiết cần
6
có các bộ phận sau: Gợi mở vào đề: nều xuất xứ, lí do dẫn đến bài viết. Giới
thiệu nội dung vấn đề và trích dẫn vấn đề.
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nắm vững một số cách mở bài cơ bản và
đơn giản nhất để học sinh trung bình, yếu kém có thể làm được, như :
+ Bằng cách giới thiệu tác giả, tác phẩm, sự nghiệp sáng tác rồi đưa vào
tác phẩm định phân tích, chứng minh, giải thích…
+ Đi từ hoàn cảnh sáng tác.
+ Từ đề tài, chủ đề của tác phẩm…
- Viết phần giải quyết vấn đề : Giáo viên hướng dẫn cho các em đến hai
cách viết thông dụng: phân tích và tổng hợp ( Diễn dịch và Quy nạp). Học sinh
cần phải chú ý yêu cầu mỗi đề bài, đặc điểm, nội dung của đề bài mà thực hiện.
Tức là phải bám sát đề, chú ý gợi ý của đề, nắm vững nội dung kiến thức, ngữ
liệu mà đề bài yêu cầu thực hiện…Vận dụng các kĩ năng khái quát, phân tích,
tổng hợp (Văn tự sự thì phân tích dựa vào cốt truyện, tình huống, nhân vật và
bút pháp nghệ thuật như thế nào; thơ trữ tình thì phân tích ngôn ngữ, hình ảnh,
biện pháp nghệ thuật ra sao…). Giáo viên lưu ý cho các em về cách chuyển
đoạn, dùng câu nối hoặc dùng từ để liên kết đoạn.
- Viết phần kết thúc vấn đề: Yêu cầu của phần này là :
+ Ngắn gọn, súc tích, nghĩa là diễn đạt ý một cách khái quát, cô đọng, gợi
cảm xúc sâu lắng.
+ Sát đề: đã mở ra vấn đề gì thì khi kết thúc phải trở lại vấn đề ấy bằng
cách nêu lời giải đáp rõ ràng , dứt khoát.
+ Sinh động, hấp dẫn bằng cách làm tăng thêm tính văn chương, ngôn
ngữ nhiều hình ảnh và các biện pháp tu từ.
Có thể viết các loại kết thúc vấn đề: Tóm tắt, khẳng định vấn đề, có thể
mở rộng, nâng cao. Rút ra bài học hay phát biểu cảm nghĩ…
2.3.4. Luyện kỹ năng liên kết đoạn văn trong văn bản:
Cũng như ở ví dụ 1, nhưng có thể cho học sinh tìm phương tiện liên kết
trong văn bản “ Đánh nhau với côi xay gió” ( Xéc - van - téc), ở văn bản này thì
dễ nhận biết hơn.
Học sinh có thể tìm được các phương tiện liên kết:
Vừa bàn tán về cuộc phiêu lưu mới xảy ra, …
Đêm hôm ấy, …
Trên cơ sở bài tập này, giáo viên đã giúp học sinh khắc sâu kiến thức phần
lí thuyết, từ đây có thể cho học sinh thực hành việc liên kết đoạn văn.
Việc viết các đoạn văn có sự liên kết với nhau đối với học sinh trung bình
và yếu là tương đối khó. Cho nên trong quá trình dạy tôi luôn có những đoạn
văn mẫu cho các em. Bên cạnh đó là bài của các em học sinh khá giỏi. Đồng
thời luôn khích lệ tinh thần cho các em.
Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho
các em về nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).
Ví dụ 1:
Ở bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sư (tiết 25, bài 6), khi dạy
đến phần luyện tập, giáo viện cho học sinh làm bài tập 1 và đọc phần đọc thêm ở
trên lớp. Còn bài tập 2 - “viết một đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi
em gặp lại một người thân” thì giáo viên cho học sinh về nhà làm. Giáo viên
yêu cầu học sinh viết thành 2 đoạn văn đoạn trong đó có các phương tiện liên
kết.
Đến tiết 29, bài 7 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và
biểu cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày bài của mình rồi giáo viên nhận
xét. Sau đó thu bài về nhà chấm và sửa cho học sinh.
Ví dụ 2:
Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc - van - téc) có hai nhân vật Đôn
- ki - hô - tê và Xan - chô - Pan - xa tương phản nhau về mọi mặt. Vậy sau bài
học đó giáo viên yêu cấu học sinh viết 2 đoạn văn nói về hai nhân vật (hai đoạn
có quan hệ đối lập).
Ví dụ 3:
làm văn không khô khan mà tạo được sự thu hút, hấp dẫn; truyền đạt được đầy
đủ, trọn vẹn kiến cũng như mở rộng thêm kiến thức cho học sinh và đảm bảo
thời lượng lên lớp. Học sinh có cơ hội hiểu rộng hơn nữa và khắc sâu được nội
dung kiến thức.
Hướng dẫn học sinh tham quan, quan sát tìm hiểu một số vấn đề có liên
quan đến kiến thức và kĩ năng bài học. Chẳng hạn tìm hiểu về vấn đề xả rác bừa
bãi hay tệ nạn cờ bạc, ma tuý tại địa phương, các em tìm hiểu, ghi chép lại và
làm thành một bài thuyết minh hoặc bài nghị luận để trình bày thái độ, quan
điểm của bản thân trước lớp, từ đó mà các em vừa ý thức được bản thân vừa thể
hiện được trách nhiệm của mỗi công dân trước một vấn đề nóng bỏng của xã
hội.
Ở các tiết Luyện nói, giáo viên tổ chức cho học sinh thi đua giữa các tổ,
các nhóm với nhau, giữa các cá nhân học sinh với nhau có hiệu quả, giáo viên
cũng có thể hướng dẫn cho các em tự chọn chủ đề mà các em yêu thích để nói,
thảo luận, trao đổi với nhau. Như vậy sẽ lôi kéo được những học sinh yếu tham
gia, các bạn khá giỏi sẽ trao đổi giúp các bạn yếu rèn luyện kĩ năng nói, viết.
Qua đó cũng kích thích được việc đưa văn học vào cuộc sống, các em sẽ mạnh
dạn trình bày vấn đề mà mình quan tâm, yêu thích; sẽ cảm thấy yêu đời hơn khi
bộc lộ được những tâm tư, tình cảm cảm xúc của mình.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên thu thập tư liệu trên báo chí về một chủ
đề nghị luận xã hội rồi đưa ra cho các em bàn bạc tại lớp học. Chẳng hạn những
bài báo viết về những tấm gương. Những bạn có giọng đọc diễn cảm sẽ thể hiện
lại bài báo, các bạn khác tìm ra cốt lõi vấn đề để thảo luận, liên hệ về quan điểm
9
sống của bản thân. Đọc những bài báo viết về những tấm gương vượt khó học
giỏi, tật nguyền vẫn quyết không bỏ học, câu chuyện về những nghề khốn khó,
những mảnh đời bất hạnh, tấm gương về sự sẻ chia, đồng cảm hay một quan
điểm sống đẹp. Qua đó giúp các em động não suy nghĩ và phát biểu quan điểm
Năm học 2016-2017:
Tổng Giỏi
Khá
số
SL
%
SL
85
0
0
10
%
Trung bình
SL
%
Yếu
SL
11,8
55
14
0
0
%
Trung bình
SL
%
Yếu
SL
%
22.4
62
4
4.7
72.9
Hầu hết các em đều có thể tự mình viết một bài nghị luận, nắm vững cách
làm bài nghị luận. Hàng năm nhà trường đều có học sinh giỏi bộ môn Văn cấp
Huyện.
hiện phần bài tập ở nhà nhiều nên giáo viên phải thu vở bài tập về nhà để chấm,
sửa cho các em.
+ Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi quá trình học
sinh làm bài. Điều quan trọng là giáo viên biết động viên, khuyến khích, tuyên
dương học sinh đúng lúc, kịp thời. Bên cạnh đó, với học sinh điểm số rất quan
trọng nên khi chấm bài tập hoặc khi các em trình bày thì giáo viên nên cho học
sinh điểm số và có điểm cho tinh thần tự giác.
- Về phía nhà trường: Thư viện nhà trường nên có thêm tranh ảnh phục
vụ tốt cho quá trình dạy học bài giảng Ngữ văn 8. Bổ sung các tác phẩm có đoạn
trích được học. Đặc biệt là các tác phẩm nước ngoài, chân dung của một số nhà
thơ lớn, các tài liệu tham khảo, sách nâng cao cho giáo viên học sinh.
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, Tôi xin được mạnh dạn đóng góp một số
ý kiến nhỏ bé của mình về đề tài “Một sô biện pháp giúp học sinh làm tôt bài
làm văn trong chương trình Ngữ văn lớp 8 ở trường THCS ” với mong muốn
sẽ góp phần vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn và nâng
cao chất lượng giảng dạy bộ môn ở trường Trung học cơ sở hiện nay. Chắc chắn
trong quá trình nghiên cứu vẫn còn sự thiếu sót rất mong sự góp ý của các bạn
đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện tốt hơn, có hiệu quả cao hơn khi áp
dụng vào thực tế giảng dạy .
12
Xác nhận của Hiệu trưởng
Đỗ Văn Thắng
Thượng Ninh, ngày 30 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm do mình viết, không sao chép của
người khác.
14