LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS. Nguyễn Thị Kiều
Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em tận tình, chu đáo để em hoàn
thành khóa luận với đề tài Xung đột trong kịch Lưu Quang Vũ qua một số
kịch bản dựa trên tích truyện dân gian.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Lí luận văn học, cùng toàn
thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu để em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu, do sự hạn chế về thời gian nên khóa luận tốt
nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của quý vị, thầy cô để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày .... tháng .... năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Lý
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp
của TS. Nguyễn Thị Kiều Anh.
Tôi xin cam đoan:
Nội dung trong khóa luận là công trình nghiên cứu chưa được công bố.
Khóa luận không hề có sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình, tài
liệu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày .... tháng .... năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Lý
3.2. Nghệ thuật xây dựng xung đột ...................................................................36
3.2.1. Xung đột thể hiện qua nhân vật ...........................................................36
3.2.2. Xung đột thể hiện qua hành động ........................................................47
3.2.3. Xung đột thể hiện qua ngôn ngữ nhân vật ...........................................51
KẾT LUẬN ..........................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển nền sân khấu kịch nói Việt Nam, nhà viết kịch Lưu
Quang Vũ (1948 - 1988) được biết đến như một hiện tượng hiếm có, một tác gia
tiêu biểu nhất sân khấu kịch những năm 80 của thế kỉ XX. Mặc dù thời gian
dành cho sân khấu gần 10 năm ông để lại một gia tài đồ sộ với hơn 50 vở kịch.
Cho đến nay chưa có một nhà viết kịch Việt Nam nào vượt qua được Lưu Quang
Vũ. Tác phẩm của ông không những số lượng được dàn dựng nhiều nhất mà còn
có giá trị nghệ thuật cao, chất lượng tốt. Dù ông khai thác ở mảng đề tài nào
cũng đều khắc họa được những vấn đề lớn, có ý nghĩa xã hội nhân sinh sâu sắc.
Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ
và tác phẩm của ông nói chung, tác phẩm kịch nói riêng. Tuy nhiên trong đó việc
nghiên cứu nghệ thuật sáng tạo về kịch chưa nhiều. Chính vì vậy việc tìm hiểu
những giá trị trong sáng tác của ông là điều vô cùng cần thiết cả về mặt lí luận và
thực tiễn. Mặt khác xung đột kịch là yếu tố then chốt, thúc đẩy vở kịch phát triển
và chuyển tải tư tưởng của tác giả.
Hiện nay trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn THCS và THPT đổi
mới theo quan điểm tích hợp đều đưa các trích đoạn kịch của Lưu Quang Vũ vào
giảng dạy. Nhằm mục đích giúp học sinh hiểu biết hơn về kịch, văn bản kịch, giá
đột.
5
CHƯƠNG 1. QUAN NIỆM VỀ XUNG ĐỘT KỊCH VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC KỊCH CỦA LƯU QUANG VŨ
1.1. Khái niệm về kịch
Theo Từ điển thuật ngữ văn học:
“Kịch được dùng theo hai cấp độ:
Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức của văn học (kịch, tự
sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là chủ
yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Song nói
đến kịch là nói đến sự biểu diễn bằng hành động cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói
(riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời).
Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc
những xung đột muôn thuở mang tính toàn nhân loại như (thiện và ác, cao cả và
thấp hèn, ước mơ và hiện thực...). Những xung đột ấy được thể hiện bằng một
cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những
quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch. Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch
tính, là những căng thẳng do tình huống tạo ra với những nhân vật.
Phần lớn kịch được xây dựng trên hành động bên ngoài với những diễn
biến của chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhân
vật. Tuy nhiên cũng có hành động bên trong, qua đó nhân vật chủ yếu là suy
ngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng.
Trong kịch, những lời phát biểu của các nhân vật (trong đối thoại hoặc độc
thoại) nói lên hành động, ý chí và sự tự khám phá tích cực của họ có một ý nghĩa
quyết định. Còn những lời trần thuật (câu chuyện kể của nhân vật về những điều
trần thuật đã qua, sự thông báo của người dẫn truyện, những lời chỉ dẫn của tác
giả trong kịch bản) chỉ đóng vai trò thứ yếu và nhiều khi không cần đến.
trong đời sống văn học - sân khấu và xã hội ở nước ta.”[3, 167-168].
Như vậy kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp có sự tham gia của nhiều
người, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, diễn ra trong một môi trường đầy xung
đột, va chạm cần được giải quyết.
7
1.2. Xung đột kịch
Nếu ta quan niệm xung đột như một hình thái trong khái niệm chung nhất
thì đó là một cấp độ của mâu thuẫn với những biểu hiện tăng dần, đến những
mâu thuẫn gay gắt mà hình thái của nó diễn ra trong cuộc chiến tranh thực sự.
Hơn thế trước khi đạt đến mức độ gọi là xung đột thì nó phải được tích tụ dần
qua những cấp độ khác nhau. Lúc đầu có vẻ giản đơn nhưng ngày càng phức tạp
gay gắt thêm đến mức không thể hòa hoãn được. Trong văn học, đặc biệt là trong
kịch những suy nghĩ đánh giá về nội dung nhân bản, nhân đạo là rất quan trọng,
sự khác nhau về giai tầng xã hội... phát triển thành xung đột. Aristotle nói đến
tính hành động nhưng cũng không bỏ qua một đặc trưng quan trọng của kịch đó
là tính xung đột. Ông coi thắt nút là phần kịch bao gồm từ đầu đến sự biến, nó
xuất phát từ xung đột ban đầu. Tức mỗi xung đột được tạo nên từ tình huống ban
đầu, tình huống xuất phát của kịch. Hê - ghen nói đến đối tượng xung đột kịch
ông còn gắn liền với đặc trưng hành động kịch. Trước hết ông cho rằng kịch là
tổng thể về nội dung và hình thức cần được xem xét ở mức độ cao nhất của thi ca
và nghệ thuật. Ông phân tích kịch như một nghệ thuật có chức năng diễn tả
những mâu thuẫn của hiện thực, ở mức độ căng thẳng cực độ.
Pha-đê-ép cho rằng: “xung đột là cơ sở của kịch” là biểu hiện tập trung
nhất, cơ sở cho mọi sáng tạo nghệ thuật. Xung đột kịch phản ánh những mâu
thuẫn trong xã hội và thời đại mang tính lịch sử cụ thể trong đời sống của con
người. Xung đột kịch là mấu chốt, chìa khóa để kịch phản ánh một cách cô đọng,
súc tích và điển hình nhất. Xung đột trong kịch bắt nguồn từ mâu thuẫn trong đời
sống, chỉ có những xung đột hoặc mâu thuẫn sắc nhọn, kịch liệt, đầy kịch tính
qua yếu tố xung đột là một thiếu sót lớn.
Theo tác giả Phạm Vĩnh Cư trong kịch xung đột “chi phối trực tiếp đến cấu
trúc tác phẩm, đến nhịp độ dồn dập khác thường của cốt truyện, xung đột là
động lực thúc đẩy của hành động kịch nhằm xác lập lên những mối quan hệ giữa
các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu cuả tác phẩm kịch, thiếu xót xung
đột, tác phẩm sẽ mất đi đặc trưng đầu tiên của thể loại, sẽ trở thành vô nghĩa
9
hay chỉ có thể là vở kịch tồi.”[10, 202]. Vì vậy người nghệ sĩ phải có sự nghiên
cứu công phu kĩ lưỡng, tìm tòi và phát hiện hiện thực. Đồng thời phải có một
cảm quan, một sự nhạy bén trong nắm bắt các hiện tượng đời sống để xây dựng
được những xung đột mang ý nghĩa điển hình.
Đối lập thường tạo ra mâu thuẫn nhưng không phải bất kì mặt đối lập nào
cũng tạo nên mâu thuẫn. Mâu thuẫn trong kịch nên hiểu: “là một khái niệm nghệ
thuật thuộc về con người, là nói tới những cuộc đấu tranh về chính trị, về lí
tưởng, về thẩm mỹ, về tư tưởng, về đạo đức, những xung khắc có ý nghĩa trọng
đại về mặt xã hội mâu thuẫn kịch đâu phải là sự tương phản của một vài cảm
xúc nhỏ nhặt, rải rác trong một câu chuyện êm dịu cuối chiều. Mâu thuẫn kịch
không phải là sự khác biệt.”[1, 87]. Mâu thuẫn trong kịch phải đảm bảo được
yêu cầu cơ bản về tính chân thực và ý nghĩa xã hội sâu sắc. Giữa xung đột và
mâu thuẫn có mối quan hệ qua lại với nhau. Tuy nhiên chỉ đến một giai đoạn
nhất định, khi mâu thuẫn đạt đến một mức độ sâu sắc mới dẫn đến xung đột và
lúc đó chúng mới tới địa hạt chân chính của tính kịch.
Mỗi tác phẩm kịch thường được triển khai trên cơ sở một cốt truyện giàu
xung đột. Chính ở đây bộc lộ rõ nhất sự khác biệt, va chạm đối lập giữa các
khuynh hướng tư tưởng, các cảnh ngộ và các tính cách, là sự phản ánh cái mâu
thuẫn có tính chất xã hội và thời đại. Đồng thời là sự tái hiện, biểu hiện cuộc
sống trong hình thái mâu thuẫn. Xung đột được coi là hình thức phản ánh thực
tại khách quan thông qua các mâu thuẫn xã hội được khái quát hóa từ các cuộc
Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ. Ông ra đi khi đang ở đỉnh cao của nghệ thuật
trong lúc tài năng ở “độ chín”. Với 40 năm tuổi đời ngắn ngủi nhưng người nghệ
sĩ tài hoa Lưu Quang Vũ đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học đồ sộ. Trước
khi trở thành nhà viết kịch, Lưu Quang Vũ đã là một nhà thơ có tiếng, được
nhiều người yêu thích, ngoài ra ông còn sáng tác truyện, vẽ tranh, là cộng tác
viên của báo... Giới phê bình khẳng định “Lưu Quang Vũ là một nhà thơ, một
cây bút trẻ nhiều triển vọng”. Các tập thơ như Cỏ tóc tiên, ...truyện ngắn như
Người kép đóng hổ,...được giới nghiên cứu đánh giá cao. Có thể nói thơ là khát
11
vọng, là động lực, là cơ sở, còn truyện là bắt đầu cho những vấn đề xã hội khả
năng khắc họa chân dung nhân vật để Lưu Quang Vũ tỏa sáng tài năng trong
kịch. Lưu Quang Vũ đã từng nói lên những suy nghĩ của mình trong lời tự bạch
trước khi mất “động lực xúi giục tôi viết kịch cũng là những động lực khiến tôi
làm thơ, đó là khát vọng muốn được bày tỏ muốn được thể hiện tâm hồn mình và
thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống,
được trao gửi và dâng hiến.”[7, 316]. Lưu Quang Vũ để lại những dấu ấn đậm
nét nhất trong lòng độc giả là những vở kịch mà ông sáng tác. Có thể thấy đó là
cả một hành trình lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ để khẳng định tài năng
và tên tuổi của mình.
Trường hợp nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đích thực là một “hiện tượng sân
khấu” Việt Nam. Nhà nghiên cứu Vũ Hà và Ngô Thảo nhận xét “sự phát lộ tài
năng ở Vũ không tuân theo quy luật của sự hội tụ mà lan tỏa trên một mặt bằng
rộng rãi.”[4, 62]. Kịch của ông thực sự là một “thương hiệu” tin cẩn đối với
khán giả lúc bấy giờ về mặt nội dung và nghệ thuật. Nhà nghiên cứu Tất Thắng
nhận định về kịch Lưu Quang Vũ “đã thực sự được mọi người chú ý và đã thực
sự thu hút sự chú ý của mọi người”. [11]. Phạm Vĩnh Cư viết “sân khấu thủ đô
Hà Nội, sân khấu thành phố Hồ Chí Minh nhiều nơi chứng kiến sự chiếm lĩnh
hầu hết vở diễn của Lưu Quang Vũ trên sàn diễn”[10,383]. Trong thời kì hậu
kịch để diễn. Kịch của Lưu Quang Vũ thường được xây dựng trên một cốt truyện
chắc chắn chủ yếu tập trung vào các vấn đề, các sự kiện quan trọng trong đời
sống. Việc khai thác các mô típ dân gian dựa vào đó để viết kịch bản mang đậm
dấu ấn cá nhân, phong cách của mình đã tạo cho kịch của ông một chiều sâu lí
tưởng. Trong số hơn 50 vở kịch của ông, số lượng tác phẩm khai thác từ cốt
truyện dân gian không nhiều nhưng hầu hết những vở kịch đó đều đạt đến hiệu
quả nghệ thuật tương đối cao.
Trước hết, Lưu Quang Vũ có khả năng tạo tình thế kịch đặc sắc. Tức là
ông tạo ra các mâu thuẫn xung đột ở cấp độ khác nhau, phù hợp với hoàn cảnh
tính cách nhân vật, đẩy kịch lên một tầng cao mới. Xung đột là những tình huống
bất ngờ, không thể lường trước được, có khi là những tình huống sinh hoạt hàng
ngày, những tình huống xa xưa được lưu truyền trong dân gian, nhưng vẫn đầy
sức hấp dẫn riêng của nó. Nó khiến cho người đọc, người xem cuốn hút theo mọi
tình tiết trong kịch bản không hề rời mắt, một sự hấp dẫn đến kì lạ, một ma lực
lớn kéo người ta vào trong đó khó có thể thoát ra được. Lưu Quang Vũ thực sự
rất có tài trong lĩnh vực này. Vì vậy các vở kịch của ông luôn được đông đảo
khán giả đón nhận. Từ mâu thuẫn xung đột cá nhân, ông đã nâng lên thành tính
khái quát trong các vở kịch mang vấn đề xã hội nhức nhối lúc bấy giờ, có tác
dụng đến ngày nay. Xung đột trong các vở kịch nói chung và các vở viết dựa
trên tích dân gian nói riêng tuy có nhiều nét tương đồng nhưng cũng có sự khác
biệt. Các tác phẩm kịch dựa trên tích truyện dân gian chủ yếu là mâu thuẫn xung
đột giữa thiện và ác, xung đột giữa sống và chết, xung đột nội tâm... Cũng từ các
văn bản kịch chúng ta thấy được triết lý cuộc sống tác giả gửi gắm.
16
Khảo sát 2 vở kịch dựa trên tích truyện dân gian là Hồn Trương Ba da hàng
thịt và Ông vua hóa hổ chúng tôi nhận thấy những loại xung đột này được thể
hiện một cách rõ rệt.
này đến lần khác. Đội lốt đồ tể thực hiện chức năng xã hội giao phó trước công
chúng. Cái thân xác “âm u đui mù” với những nhu cầu tập tính của nó ngày càng
lấn chiếm chi phối, sai khiến, ăn mòn dần linh hồn cao đẹp. Cuộc đối thoại giữa
Hồn Trương Ba và xác hàng thịt như hai thực thể đối lập nhưng không thể tồn tại
riêng rẽ tách rời. Có cái này phải có cái kia vấn đề là cái nào dành được quyền
chỉ huy cái nào. Trong trận chiến ấy rõ ràng xác hàng thịt đã thắng thế. Nó thắng
không phải xác mạnh hơn, mà vì trong trường hợp cụ thể này, cái xác đó đã từng
hợp tác với một linh hồn khác chịu ảnh hưởng sâu sắc của nó, trở thành linh hồn
ấy. Lưu Quang Vũ cho chúng ta thấy cuộc vật lộn giữa Hồn Trương Ba và Xác
hàng thịt thực chất là cuộc giao tranh giữa hai linh hồn trong cùng một thể xác.
Một linh hồn thanh cao và một linh hồn phàm phu tục tử đang đấu tranh trong
một con người. Nó giống như hai thái cực âm - dương cùng tồn tại trong cùng
một thỏi bin cuộc sống. Bị phủ nhận tàn nhẫn từ bên ngoài và bị lấn át từ bên
trong linh Hồn Trương Ba cuối cùng cũng chọn một con đường tưởng chừng như
tiêu cực nhưng lại rất đúng đắn là rời bỏ cõi đời, trả lại thân xác cho anh hàng
thịt. Trước khi để Hồn Trương Ba chết hẳn thì nó trải qua cuộc thử thách cuối
cùng nhập vào xác cu Tỵ. Với bản tính lương thiện, chất phác của mình, đồng
thời ông cũng hình dung thấy được những rắc rối nảy sinh, vì thế ông quyết định
để cu Tỵ được sống, giữ lại trong kí ức những người thân yêu kỉ niệm tốt đẹp về
mình. Nhiều người trên cõi đời này sống đều không là chính mình, ngay cả Ngọc
Hoàng ở vị trí tối cao. “Có những cái không thể sửa được, chắp vá gượng ép chỉ
làm sai thêm”. “Không thể sống với bất cứ giá nào. Có những giá đắt, không thể
trả được”. Với những kết luận chát đắng như vậy, Hồn Trương Ba tự nguyện rút
vào cõi hư vô chứ không phải là bất tử. Nhân vật Hồn Trương Ba da hàng thịt
trối từ sự bất tử, vì nó nhận ra cuộc sống bất tử tồi tệ hơn cuộc sống hữu hạn.
Cùng với Hồn Trương Ba, Đế Thích cũng chối bỏ thiên đường tự nguyện nhận
lấy thân phận con người phải chết và xem ra ông ta có lý. Đối với tiên bất tử như
ông, và cuộc sống thiên đình đầy rẫy những tội lỗi không khác gì con người hạ
20