ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO TƯ VẤN CHÍNH SÁCH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH
ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA,
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ở VIỆT NAM TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ 21
Người thực hiện:
GS.TS. Phạm Hồng Tung
Hà Nội – 2017
1
MỤC LỤC
NHỮNG THÔNG ĐIỆP CHÍNH ................................................................................ 1
Phần I: MỘT SỐ PHÂN TÍCH DỰ BÁO VỀ VIỄN CẢNH CỦA THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM TRONG NHỮNG THẬP KỶ TIẾP THEO CỦA NỬA ĐẦU THẾ
KỶ 21 ............................................................................................................................. 9
1. Xu thế phát triển chủ đạo trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian từ nay cho
tới khoảng giữa thế kỷ 21 ........................................................................................... 9
2. Tình hình triển khai các nghị quyết của Đảng về văn hóa, giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ ............................................................................................. 29
3. Vấn đề phát triển trong cơ chế thị trường và đảm bảo định hướng XHCN của ba
lĩnh vực này .............................................................................................................. 32
4. Vai trò của các chủ thể, của cá nhân trong quá trình lao động sáng tạo như thế
ngoài những chú thích, chỉ dẫn nguồn và dẫn chứng cần thiết, chúng tôi sẽ không quá
sa đà vào việc so sánh số liệu và lập luận.
Thông điệp thứ nhất:
Văn hóa, KH&CN và GD&&DT có sứ mệnh dẫn đạo và tạo ra nguồn xung
lực phát triển để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu, gia nhập vào hàng
ngũ các quốc gia phát triển trong nửa đầu thế kỷ 21, “sánh vai với các cường quốc
5 châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
Các nghiên cứu dự báo đều khẳng định rằng Toàn cầu hóa tăng tốc và Cách
mạng công nghiệp mới (4.0) sẽ là hai xu thế phát triển chủ đạo của thế giới trong
những thập kỷ tới. Hai quá trình này sẽ tác động rất mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc
hầu hết các lĩnh vực trong đời sống nhân loại ở tất cả các nước và các khu vực, đồng
thời chúng sẽ đưa lại cho các nước “đi sau” như Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi, tạo
điều kiện để những nước này có thể thực hiện thành công chiến lược phát triển rút
ngắn, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, gia nhập vào hàng ngũ những nước
phát triển nhất. Mặt khác, hai quá trình trên cũng đem đến nhiều khó khăn, thách thức
nan giải, khiến cho các nước chậm phát triển ngày càng bị tụt hậu xa hơn và bị lệ
thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển về tất cả các phương diện.
Vì vậy, sự nghiệp phát triển văn hóa, con người, GD&ĐT, KH&CN có sứ
mệnh vô cùng quan trọng: Tạo ra hào khí dân tộc mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nỗ lực vượt qua tình trạng tụt hậu về trình độ phát triển; đào luyện nên
những thế hệ công dân Việt Nam mới có ý thức dân tộc và lòng yêu nước mãnh liệt, có
năng lực và phẩm chất của công dân toàn cầu, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế,
tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học và công nghệ của thế giới, nỗ lực khởi nghiệp
thành công để dẫn dắt dân tộc nhanh chóng theo kịp các nước phát triển; đổi mới triệt
1
để hệ thống sáng tạo quốc gia, tạo bước phát triển bứt phá mạnh về KH&CN, kích
hoạt, phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, góp
phần thực hiện thành công chiến lược phát triển rút ngắn, đạt hiệu quả, nhanh và bền
nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ.
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp then chốt nhất là phải triệt để khai thác
các mặt, các yếu tố tích cực, lành mạnh và vận dụng hiệu quả cơ chế thị trường vào
ba lĩnh vực nói trên. Chỉ có cơ chế thị trường lành mạnh mới tạo ra cạnh tranh, thông
2
qua đó “vun cao”, “nhân rộng” được những cá nhân, tập thể ưu tú, những tổ chức hoạt
động hiệu quả, thải loại được những cá nhân, tổ chức yếu kém, dựa dẫm; nhờ đó mà
thúc đẩy sáng tạo không ngừng; KH&CN, GD&ĐT và sự nghiệp văn hóa mới thực sự
hướng tới phục vụ đắc lực đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực
chính của phát triển; nhờ đó mà thu hút được thêm các nguồn lực khác nhau và sử
dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đó; cũng chỉ có thông qua cơ chế thị trường mới có
được sự hội nhập và hợp tác quốc tế lành mạnh, hiệu quả, tránh để nước ta trở thành
“bãi rác công nghệ”, “thuộc địa văn hóa” và “nền kinh tế vệ tinh” của các nước phát
triển.
Giải pháp then chốt thứ hai chính là hiểu đúng và phát huy đầy đủ lợi thế của
chế độ chính trị và tính ưu việt của định hướng XHCN. Điểm cốt lõi trong tính ưu việt
XHCN là ở tính nhân văn, nhân bản, pháp quyền, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây
cũng chính là những định hướng có tính nguyên tắc, đảm bảo tạo ra một môi trường
lành mạnh để các hoạt động của ba lĩnh vực trên đạt hiệu quả cao nhất, vì đó đều là
những hoạt động đòi hỏi rất cao về quyền tự do sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Lợi thế lớn nhất của chế độ chính trị chính là vị thế cầm quyền của Đảng. Khi Đảng
đã đề ra chủ trương, chiến lược đúng đắn thì toàn hệ thống chính trị sẽ “vào cuộc” và
tạo ra sự đồng thuận chính trị rất cao – điều mà các thể chế chính trị khác khó mà đạt
được. Tính ưu việt của định hướng XHCN và lợi thế của chế độ chính trị cũng chính
là yếu tố đảm bảo quan trọng nhất cho việc ngăn ngừa những mặt trái và yếu tố tiêu
cực của cơ chế thị trường, khai thác và phát huy được các mặt hữu ích và yếu tố tích
cực của cơ chế đó.
Thông điệp thứ ba:
đặc thù của ba lĩnh vực này (chẳng hạn, trong KH&CN, đó là khoa học cơ bản,
KHX&NV; đội ngũ nhân tài khoa học trẻ; các nghiên cứu theo đặt hàng phục vụ chế
độ chính trị, quốc phòng, an ninh vv.. Trong GD&ĐT, đó là tạo điều kiện về cơ hội
giáo dục cho các vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn; đào tạo những ngành, nhóm
ngành khoa học cơ bản, khoa học chính trị, văn hóa, nghệ thuật vv… Trong sự nghiệp
văn hóa, đó là giữ gìn, bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, văn hóa và truyền thống
cách mạng, phát triển đội ngũ nghệ nhân vv…). Các bộ phận còn lại bắt buộc phải
vận hành theo cơ chế thị trường lành mạnh thì mới thu hút được các nguồn lực từ xã
hội, thông qua cạnh tranh, chất lượng và giá trị ứng dụng của sản phẩm đầu ra mới
được nâng cao. Làm như vậy, sản phẩm KH&CN mới được ứng dụng; người đi học sẽ
chỉ học những cái mình và xã hội cần, không chỉ vì tấm bằng, và do đó trở thành
người giỏi, người hữu dụng; công nghiệp văn hóa mới có ngày càng nhiều sản phẩm
cạnh tranh được với sản phẩm ngoại lai, nhờ đó mà có thêm nguồn lực và góp phần
đẩy lùi “xâm thực văn hóa” của ngoại bang…
Vai trò kiến tạo quan trọng của Nhà nước ta cũng cần được thể hiện rõ ràng,
minh bạch và hiệu quả hơn trong việc xác định rõ vai trò và trách nhiệm của từng
loại, từng nhóm chủ thể, trên cơ sở đó ban hành những chính sách và cơ chế phù hợp
trong phát triển văn hóa, KH&CN, GD&ĐT.
Có thể nhận ra vai trò quan trọng của 4 chủ thể chính là: cá nhân, cộng đồng,
doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Mỗi loại chủ thể này có vị trí, đặc điểm
riêng, và cần có cơ chế, chính sách riêng để phát huy tối đa vai trò tích cực của họ.
Về cá nhân: yếu tố cốt lõi là tạo điều kiện để cá nhân các nhà khoa học, nhà
giáo, văn nghệ sĩ trí thức và bất kỳ công dân nào cũng có cơ hội để sáng tạo, có quyền
sáng tạo và chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình. Trên đường tìm tòi, khám phá,
4
họ cũng có thể mắc sai lầm. Họ phải được quyền phạm sai lầm (nhưng không được
phạm tội) và phải chịu trách nhiệm về sai lầm đó. Chúng ta đấu tanh chống chủ nghĩa
cá nhân, nhưng là chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, “lợi mình, hại người” chứ không
định cho đúng đối tượng, phạm vi, phương thức lãnh đạo phù hợp. Trong các lĩnh vực
văn hóa, KH&CN, GD&ĐT có những thành tố và đối tượng chỉ có thể lãnh đạo bằng
phương thức gây ảnh hưởng (nêu gương, giáo dục, tuyên truyền vv…) nhưng có
những thành tố có thể và cần phải lãnh đạo và quản lý bằng các phương thức cưỡng
5
chế (luật pháp, hành chính, quy trình, quy ước cộng đồng vv…). Trong quá trình đó,
việc quản lý và sử dụng tốt truyền thông đại chúng, truyền thông công nghệ cao và vai
trò nêu gương của cán bộ, của thầy cô giáo và các nhà khoa học, nhà trí thức lớn là
hai yếu tố quyết định nhất.
Thông điệp thứ tư:
Trong lĩnh vực văn hóa, những vấn đề cốt lõi nhất là: xây dựng nhân cách
văn hóa của con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa; vấn đề giải quyết
thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa gìn giữ bản sắc dân tộc và
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vấn đề phát triển sức mạnh mềm quốc gia
thông qua phát triển công nghiệp văn hóa.
Việc giải quyết hiệu quả ba vấn đề trên đây sẽ mở đường để văn hóa thực sự
trở thành một nguồn xung lực trong phát triển bền vững, thực sự trở thành nền tảng
tinh thần của xã hội Việt Nam trong quá trình phục hưng hào khí dân tộc, thoát khỏi
tình trạng tụt hậu, vươn lên sánh vai với các nước phát triển trên hoàn cầu.
Về vấn đề thứ nhất: xây dựng nhân cách văn hóa của con người Việt Nam
trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, tức là xây dựng nhân cách văn hóa của công dân toàn
cầu Việt Nam. Đây chính là mục tiêu cao nhất và cũng là nền tảng của sự nghiệp phát
triển văn hóa Việt Nam. Sứ mệnh cao cả, vẻ vang nhưng cũng vô cùng khó khăn, nan
giải của các thế hệ người Việt Nam trong những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ 21 chính
là nỗ lực hết mình đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi tình trạng tụt hậu, gia nhập vào
hàng ngũ những nước phát triển nhất. Nếu không hoàn thành được sứ mệnh này thì
dân tộc ta sẽ vĩnh viễn bị lệ thuộc, bị chi phối bởi các nước phát triển về mọi phương
diện. Đó chính là nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước, của tinh thần dân tộc Việt
“bảo tồn để phát triển và phát triển để bảo tồn tốt hơn”. Nguyên tắc này cần được
triển khai trên cơ sở khoa học đầy đủ, tránh nóng vội, làm liều, thương mại hóa hoặc
“khoán trắng” cho cộng đồng. “Bảo tồn”: nếu không được hiểu và làm đúng thì sẽ trở
thành rào cản cho đổi mới và phát triển, thậm chí là bảo tồn cả những cái cũ nát, xấu
xa, hủ bại, lạc hậu vốn cần phải loại bỏ. “Phát triển”: nếu không được hiểu và làm
đúng thì sẽ biến thành phá hoại di sản, thậm chí phát triển cả những cái xấu xa, nguy
hiểm vốn cần được ngăn chặn và loại bỏ. Vì vậy, đối với mỗi di sản, cần phải nghiên
cứu thật cẩn trọng, phân tích, đánh giá từng bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó xác định
những thành tố nào, những giá trị nào cần được bảo tồn toàn vẹn, nguyên bản, thành
tố nào, giá trị nào cần được bảo tồn theo nguyên tắc kế thừa hoặc phát triển.
Ở một bình diện khác, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển cũng chính là mối
quan hệ giữa giữ gìn, phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu ảnh
hưởng, tinh hoa văn hóa nhân loại. Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập ngày
càng sâu rộng với thế giới toàn cầu hóa, vì vậy, mở rộng cửa giao lưu, đối thoại, trao
đổi và tiếp thu tinh hoa văn hóa từ bên ngoài là một yêu cầu khách quan, tất yếu. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do buông lỏng lãnh đạo và quản lý
mà hiện nay nền văn hóa nước ta đang bị xâm thực rất nặng nề; ảnh hưởng văn hóa
ngoại lai được du nhập ào ạt, không phân biệt vàng, thau, tốt, xấu, khiến cho một bộ
phận không nhỏ thế hệ trẻ đang quay lưng lại với các giá trị truyền thống của dân tộc.
Vì vậy, cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, lập lại kỷ cương, đồng thời tích
cực, chủ động xây dựng hành trang hội nhập văn hóa cho dân tộc, nhất là cho giới trẻ
thông qua các biện pháp giáo dục, tuyên truyền trong gia đình, nhà trường và xã hội.
Vấn đề thứ ba là phát triển sức mạnh mềm quốc gia, nhất là thông qua phát
triển công nghiệp văn hóa. Trong thế giới ngày nay, “sức mạnh mềm” (soft power)
ngày càng có vai trò quan trọng, như một bộ phận hợp thành trọng yếu của năng lực
cạnh tranh quốc gia. Trên cơ bản người ta đều nhất trí với nhau trong quan niệm về
sức mạnh mềm với 3 thành tố: văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại.
Trong đó, văn hóa có thể được xem như một bộ phận nền tảng, là “kênh dẫn” cho hai
7
– quốc gia – khu vực và thế giới, tức là dựa trên những dự báo khoa học về những xu
hướng vận động chủ đạo của nhân loại và đất nước. Khoa học dự báo (Futurology), vì
vậy, đã và đang đóng vai trò tối quan trọng đối với tất cả các khâu đoạn của quá trình
hoạch định và thực thi chiến lược và chính sách ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
1.1. Xu hướng vận động chủ đạo của thế giới trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ,
toàn cầu hóa và Cách mạng 4.0
Câu hỏi thứ nhất đặt ra là: những quá trình và yếu tố nào sẽ định hình tương lai
của nhân loại trong khoảng ba thập kỷ tới? Trả lời được câu hỏi này, chúng ta sẽ
mường tượng được rõ hơn bối cảnh của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam nói chung và phát triển văn hóa Việt Nam nói riêng trong tương lai gần.
Quá trình toàn cầu hóa vốn được khởi phát từ cuối thế kỷ 20, tiếp tục phát triển
mạnh mẽ trong hai thập kỷ đầu thế kỷ 21 và chắc chắn sẽ còn là một quá trình góp
phần quyết định nhất vào việc định hình diện mạo và chi phối đời sống nhân loại
trong những thập kỷ tiếp theo.
Nền văn minh nhân loại được sản sinh và nuôi dưỡng trên bề mặt trái đất vốn là
một chỉnh thể thống nhất của vô vàn sự khác biệt. Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện
những nỗ lực kết nối các vùng, miền, các trung tâm văn minh nhân loại với nhau: các
cuộc chiến tranh, di dân, các hoạt động truyền giáo và hoạt động thương mại đã trở
thành những phương thức kết nối chủ yếu. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một số
đồng tiền xu của Roma ở di chỉ khảo cổ Óc Eo (Đồng Tháp) – một minh chứng cho
thấy từ rất sớm một phần của Việt Nam ngày nay đã được đặt trong hệ thống thương
mại quốc tế kết nối trực tiếp hay gián tiếp với cả những trung tâm văn minh xa xôi.
Dẫu vậy, tình trạng chia cắt, tách biệt, cô lập và khép kín vẫn là đặc điểm bao trùm
của văn minh nhân loại. Phải đến cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, các cuộc Phát kiến địa
lý vĩ đại mới tạo ra bước ngoặt quyết định trong lịch sử kết nối toàn cầu. Sau các cuộc
9
du hành – phát kiến này là sự phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn của chủ nghĩa tư bản
ở phương Tây, và chẳng bao lâu sau đó, cơn lốc tư bản – thực dân đã tràn ngập khắp
vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục.
Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả
các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một
thế giới theo hình dạng của nó (…) Cũng như nó đã bắt nông thôn phải phụ thuộc vào thành thị, bắt những nước
dã man hay nửa dã man phải phụ thuộc vào các nước văn minh, nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ
thuộc vào những dân tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây.” Xem: K.Marx và F. Engels,
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Chương I, https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/
tuyen/phan_01.htm.
3
10
hoặc Gia Định nhanh nhất cũng phải mất bảy ngày đêm. Đến khi có đường bộ, đường
sắt thì việc chuyển thư, báo mất khoảng 2 – 3 ngày. Và từ khi có điện thoại, điện tín,
fax, điện thoại di động, email và nhất là có video conferencing thì tốc độ liên lạc từ
Thủ đô Hà Nội đến tất cả mọi tỉnh thành và các vùng miền gần như chỉ còn tính bằng
đơn vị phút hoặc giây! Tương tự, trước kia, việc liên lạc thư tín từ Châu Âu sang Châu
Mỹ bằng đường tàu biển phải mất từ 10 ngày đến một tháng; bằng đường hàng không
cũng phải mất ít nhất một ngày. Giờ đây qua internet, mọi liên lạc dường như diễn ra
ngay tức khắc. Việc phủ sóng toàn cầu của internet cũng giúp cho việc lan truyền
thông tin, và kèm theo đó là các giá trị văn hóa, không chỉ bằng ký tự và các con số
khô khan và chết cứng mà kèm theo cả hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp nhờ
các hình thức truyền thông tương tác, đa phương tiện công nghệ cao. Những tiến bộ
công nghệ này đã khiến cho các khoảng cách của không gian và cảm xúc cũng gần
như bị xóa bỏ hoàn toàn. Vì vậy, chỉ số sử dụng internet được xem như một tiêu chí
quan trọng nhất để đánh giá mức độ kết nối toàn cầu.
Bảng 1. Tình hình sử dụng internet trên thế giới (2016)
Đơn vị: phần trăm dân số
Khu vực
Khối các nước CH độc lập (thuộc Liên Xô cũ)
10%
34%
67%
Châu Âu
46%
67%
79%
Châu Mỹ
36%
49%
65%
Nguồn: International Telecommunication Union, 2017.
Đặc biệt là với thế hệ trẻ, những người được mệnh danh là thế hệ “Y” hoặc thế hệ
“thiên niên kỷ” (Generation of Millennials) thì kết nối toàn cầu được xem như một
trong những đặc điểm chính.4 Điều này càng thể hiện rõ thông qua số liệu thống kê về
Châu Phi
Nguồn: ICT facts and figures 2017. International Telecommunication
TBD Union, 2017
Tuy nhiên, sau gần 3 thập kỷ kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, người ta ngày
càng nhận rõ hơn một thực tế là: “thế giới không hề phẳng”. Ngay sau khi trật tự “thế
giới hai cực” vừa bị xóa bỏ, trong vòng 3 thập kỷ đã có hàng chục cuộc chiến tranh
đẫm máu nổ ra, điển hình là các cuộc chiến tranh ở Liên bang Nam Tư cũ, chiến tranh
ở Afghanistan, ở Iraq, ở dải Gaza và gần đây là ở Syria và một số nước Bắc Phi và
Trung Đông. Đặc biệt, chủ nghĩa khủng bố ngày càng phát triển, áp dụng từ các hình
thức và phương tiện chiến tranh man rợ thời Trung cổ cho tới các phương tiện công
nghệ cao để tiến hành hàng trăm cuộc tấn công khốc liệt trên khắp hoàn cầu, trong đó,
cuộc tấn công khủ bố nhằm vào nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001, có thể nói, đã
tạo nên một cơn địa chấn toàn cầu. Chiến tranh, xung đột và sự bùng phát của chủ
nghĩa khủng bố quốc tế chứng tỏ rằng trong thế giới toàn cầu hóa đang ẩn chứa quá
nhiều mâu thuẫn, sự khác biệt và cách biệt cũng như những sự hận thù độc ác, phi
nhân tính đã và đang được sản sinh ra, tích tụ và bùng nổ trong chính quá trình kết nối
và hợp tác toàn cầu.
Càng tham gia, hội nhập sâu vào thế giới toàn cầu hóa các dân tộc càng lo lắng bị
quá trình toàn cầu hóa “nuốt chửng”, tức là lợi ích, chủ quyền quốc gia bị xâm hại, bị
chi phối bởi các cường quốc kinh tế và công nghệ. Cùng với đó là việc bản sắc và
truyền thống văn hóa dân tộc bị suy thoái, dân tộc bị “hòa tan” trong quá trình hội
nhập. Một mặt, khoảng cách phát triển giữa nhóm nước tiên tiến nhất với các nhóm
quốc gia lạc hậu, giữa các nhóm công dân giàu nhất và các nhóm công dân nghèo nhất
càng lớn hơn, đến mức hầu như không thể thu hẹp. Mặt khác, khoảng cách giàu –
nghèo trong từng quốc gia – dân tộc cũng càng ngày càng trở nên lớn hơn. Đây cũng
chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến làn sóng phản đối toàn cầu hóa đã và
đang thịnh phát, lan rộng và ngày càng có tính bạo lực nhằm vào các quốc gia phát
nước phát triển nhất, như Mỹ, Đức, Anh, Áo, Pháp, Bỉ, Úc vv… Như vậy, phải đặt
vấn đề, rằng tự bản thân Hồi giáo hay bất kỳ tôn giáo nào khác không phải là cha đẻ
của chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Trái lại, chủ nghĩa khủng bố quốc tế là một sản phẩm
của thời đại, nảy sinh ra từ chính những mâu thuẫn, những xung đột và kỳ thị vốn âm
thầm phát triển và tích tụ trong tất cả các xã hội trên thế giới.
Nhiều nghiên cứu liên ngành mới nhất đã chỉ ra những đứt gãy liên cá nhân
(interpersonal gaps) điển hình và phổ biến trong xã hội hiện đại. Thế giới ngày càng
đạt tới độ kết nối cao hơn nhờ các phương tiện khoa học và công nghệ hiện đại thì
ngày càng trở nên phi nhân bản bấy nhiêu, và con người trong thế giới đó càng bị tách
biệt, trở nên cô độc hơn bấy nhiêu. Trong các xã hội truyền thống, các dạng thức giao
tiếp trực tiếp, mặt đối mặt (face to face) đã khiến cho các cá nhân xích lại gần nhau
hơn, và con người thường gắn bó chặt chẽ hơn với vô vàn dạng thức cộng đồng lớn
nhỏ trên khắp bề mặt hành tinh. Trong thời kỳ cận đại, khi các phương tiện giao thông
và truyền thông mới ngày càng phát triển thì các “không gian cá nhân” (prevate
13
spaces) càng trở nên tách biệt hơn. Đến kỷ nguyên toàn cầu hóa, một mặt thì internet
và mạng xã hội đã mở ra khả năng kết nối vô hạn cho các cá nhân và cộng đồng. Nhờ
đó người ta có thể trò chuyện chia sẻ, tương tác với bất kỳ ai và cùng lúc với rất nhiều
người trên khắp bề mặt hành tinh, dưới rất nhiều hình thức nhờ sự hỗ trợ của truyền
thông công nghệ cao, như viết thư (email), trò chuyện (chat) và phát trực tiếp (live
stream), mạng xã hội (social networks) kể cả chơi và thi đấu trực tuyến (game online)
vv… Tuy nhiên, đáng tiếc, đó chỉ là những hình thức kết nối ảo (virtual connections),
không phải là các tương tác thật (real interractions). Con người, nhất là giới trẻ càng
ngày càng bị chìm sâu vào thế giới ảo, thoát ly thế giới thực. Các tương tác của con
người trong thế giới thực ngày càng bị giảm thiểu.5 Và đến khi họ buộc phải quay lại,
đối diện thế giới thực thì không tránh khỏi những cuộc khủng hoảng, thất vọng về xã
hội và về chính bản thân họ. Hàng nghìn loại hình tội ác đã xảy ra ở thế giới thực,
nhưng có nguồn gốc từ việc con người bị tha hóa trong thế giới ảo, gọi là “offline
xâm nhập và kiểm soát các giao dịch ngân hàng và hệ điều hành của một số sân bay
quốc tế; nạn buôn người, buôn ma túy dựa trên các mạng lưới và tổ chức tội phạm
toàn cầu ngày càng trở nên khó kiểm soát vv… Tất cả vấn nạn trên không thể giải
quyết được nếu thiếu sự chung tay, hợp tác toàn cầu. Một lần nữa, những vấn đề trên
cho thấy tư duy và tầm nhìn toàn cầu và ý thức công dân toàn cầu đã thực sự trở
thành một giá trị cốt lõi, nền tảng của văn hóa nhân loại trong nửa đầu thế kỷ 21.
Tất cả những quá trình và yếu tố được phân tích ở trên cho thấy nhân loại đang
bước nhanh vào một kỷ nguyên văn minh mới:7 kỷ nguyên văn minh trí tuệ và kinh
tế tri thức mà chặng đường tiếp theo chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
mới hay còn gọi là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0).
Trong kỷ nguyên này nguồn lực trí tuệ sẽ là yếu tố cốt lõi, quyết định năng lực
cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của từng quốc gia. Hàm lượng chất xám kết tinh
trong giá trị sản phẩm sẽ quyết định sức cạnh tranh của từng sản phẩm đó. Vì vậy,
khoa học và công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi, năng động nhất của nguồn lực trí tuệ
và của toàn bộ nền kinh tế. Trong khoa học, tốc độ đổi mới tri thức chứ không chỉ
chính bản thân tri thức mới là thước đo giá trị và sức mạnh của khoa học; tương tự,
trong công nghệ thì tốc độ rút ngắn vòng đời công nghệ chính là yếu tố cốt lõi nhất.
Đương nhiên, khả năng ứng dụng, trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất chính là mục
tiêu quan trọng nhất của khoa học và công nghệ. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới,
khoa học và công nghệ phải đủ sức tiếp cận và giải quyết hiệu quả các vấn đề có tính
liên ngành và độ phức hợp cao ở quy mô và tầm mức toàn cầu, dựa trên triết lý nền
tảng của phát triển bền vững, hướng tới sự tăng trưởng nhanh, thân thiện với môi
trường tự nhiên, văn hóa và xã hội.
Chặng đường Cách mạng 4.0 chính là sự tiếp nối của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ đang diễn ra trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức. Cốt lõi
của Cách mạng 4.0 là sự ra đời và phát triển của nền sản xuất thông minh dựa trên
nền tảng của sự phát triển của của trí tuệ nhân tạo và sự phát triển của hệ thống thực
- ảo (cyber-physical system), công nghệ số, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,
lạc hậu hơn sẽ phải lệ thuộc vào các nước tiên tiến và bị các nước tiên tiến chi phối về
mọi phương diện.
Quá trình này, tương tự như quá trình bành trướng và xâm thực của chủ nghĩa đế
quốc – thực dân phương Tây hồi thế kỷ 19, sẽ đưa đến những ách áp bức dân tộc và áp
bức xã hội mới. Điều khác biệt lớn nhất là: các cường quốc phát triển sẽ không xâm
lược và áp bức các dân tộc lạc hậu bằng vũ lực (tàu đồng, súng thép) mà bằng sức
mạnh khoa học và công nghệ, sức mạnh kinh tế và sức mạnh văn hóa – tức là bằng
các dạng thức của “quyền lực mềm” (soft powers). Và vì thế, sự thống trị, chi phối của
các cường quốc sẽ bền vững, toàn diện và hiệu quả hơn, trong khi đó thì các nỗ lực
của các dân tộc bị lệ thuộc nhằm “tự cường, cứu quốc” sẽ trở nên vô cùng gian nan,
phức tạp và lâu dài.
Như vậy, có thể nói trong kỷ nguyên của Cách mạng 4.0, nội hàm của các khái
niệm “chủ nghĩa yêu nước” và “chủ nghĩa dân tộc” sẽ phải được định nghĩa lại.
Do tác động của quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt là của cuộc Cách mạng 4.0, tất
cả các xã hội cũng sẽ trải qua những biến đổi mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu sắc.
Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề sẽ thay đổi vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ. Có
nghiên cứu dự báo rằng chỉ trong vòng hai thập kỷ nữa có tới 70% nghề nghiệp hiện
nay sẽ biến mất, thay vào đó là hàng loạt nghề nghiệp mới sẽ ra đời. Như vậy, cơ cấu
ngành nghề trong nền sản xuất sẽ thay đổi, và tương ứng, trong xã hội sẽ xuất hiện
nhiều nhóm xã hội – nghề nghiệp mới, trong khi nhiều nhóm xã hội – nghề nghiệp cũ
sẽ tiêu vong. Không chỉ có vậy, phương thức lao động của con người cũng sẽ thay đổi
theo xu hướng giảm dần các công việc giản đơn có tính quy trình, gia tăng các công
việc có hàm lượng chất xám với đòi hỏi sáng tạo cao hơn và các loại công việc mang
tính nhân bản đặc trưng. Trong khi đó, robot sẽ thay thế cho con người trong rất nhiều
17
công việc, kể cả các việc giản đơn có tính quy trình cho tới những việc vô cùng phức
tạp, cần độ chính xác cực cao. Trong bối cảnh đó, thất nghiệp sẽ trở thành một nguy
cơ xã hội trầm trọng, không chỉ đe dọa thường trực đối với những người lao động
nước nghèo và lạc hậu. Cơ hội bứt phá, “đi tắt, đón đầu” là có thật nhưng chỉ được
hiện thực hóa trong những điều kiện xác định (như đã chỉ ra ở trên). Có thể thấy trước
phần lớn các nước chậm phát triển đều không có đủ các điều kiện này. Do vậy,
khoảng cách phát triển giữa các nước, các khu vực sẽ ngày càng nới rộng và vĩnh viễn
18
không thể được xóa bỏ. Tương tự, trong phần lớn các xã hội, cơ hội vươn lên chiếm
lĩnh các lợi thế của Cách mạng 4.0 sẽ không phải dành cho số đông, nhất là ở các
nước chậm phát triển. Có thể trong tương lai gần, đói nghèo tuyệt đối sẽ được giảm
thiểu và bị loại trừ, song bất bình đẳng và khác biệt xã hội – hay nói khác đi là nạn đói
nghèo tương đối, nhất là đói nghèo văn hóa – văn minh, lại sẽ trở nên phổ biến.
Thứ hai, chỉ số kết nối của thế giới càng cao, nhân loại càng bị nhấn sâu hơn vào
thế giới ảo, bị lệ thuộc vào thế giới ảo và càng bị tha hóa nặng nề. Tính nhân văn,
nhân bản trong đời sống xã hội ngày càng suy giảm. Do đó, lối sống, thói quen, các
tương tác xã hội, hệ giá trị và toàn bộ nền văn hóa nhân loại sẽ bị đảo lộn và trải qua
những cuộc khủng hoảng với những mức độ trầm trọng, quy mô và hậu quả khác
nhau.
Thứ ba, cuộc Cách mạng 4.0 có thể đưa lại những cơ hội và phương tiện để giảm
thiểu và có thể giải quyết dứt điểm một số vấn nạn toàn cầu, như các tai biến thiên
nhiên, ô nhiễm và tai biến môi trường, tăng sức chống chịu và ứng phó tốt hơn với
biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này tự bản thân nó không giúp gì nhiều
đối với việc giảm thiểu các khác biệt, xung đột về lợi ích hoặc xuất phát từ các định
kiến văn hóa, chính trị và tôn giáo. Thế giới ngày càng trở nên khác biệt (diversified)
thì càng khó tìm kiếm sự đồng thuận chung (general consensus). Vì vậy, những xung
đột đã và đang chia rẽ nhân loại hiện nay sẽ chưa giảm thiểu đáng kể trong một vài
thập kỷ tới, thậm chí có thể đưa tới những thảm họa toàn cầu chỉ vì một sai sót kỹ
thuật, một lỗi công nghệ hoặc một “tai biến nhân cách” của cá nhân hay nhóm cầm
quyền nào đó.
Thứ tư, Cách mạng 4.0 chắc chắn sẽ đưa lại nhiều thành tựu khoa học công nghệ vĩ
Bình Dương. Có lẽ đây là nghiên cứu dự báo công phu, nghiêm túc và bài bản theo
mô hình của một futurological study đầu tiên từng xuất hiện ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích – dự báo tình hình, khát vọng và yêu cầu khách quan của sự
nghiệp phát triển của Việt Nam hiện nay và trong tầm nhìn đến năm 2035, “Báo cáo
khuyến nghị Việt Nam cần thực hiện sáu chuyển đổi quan trọng để trở thành một nền
kinh tế thu nhập trung bình cao. Trước hết là hiện đại hóa nền kinh tế đồng thời với
nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Hai là phát triển năng lực
đổi mới sáng tạo, lấy khu vực kinh tế tư nhân làm trung tâm. Ba là nâng cao hiệu quả
của quá trình đô thị hóa, tăng cường kết nối giữa các thành phố và vùng phụ cận. Bốn
là phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí
hậu. Năm là đảm bảo công bằng và hòa nhập xã hội cho các nhóm yếu thế cùng với sự
phát triển của xã hội trung lưu. Sáu là xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại
với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hội nhập và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao.
Chương trình cải cách gắn với sáu chuyển đổi này được thể hiện theo ba trụ cột chính:
thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường; công bằng và hòa nhập xã
hội; năng lực và trách nhiệm giải trình của nhà nước.”10
Có thể khẳng định chắc chắn, rằng các phân tích, lập luận và đề xuất của Báo cáo
này đều được đưa ra trên cơ sở những luận cứ khoa học và thực tiễn đầy đủ và có độ
tin cậy cao. Vì vậy, từ sau khi công bố, Báo cáo này nhận được sự hoan nghênh của
đông đảo giới khoa học và các nhà hoạch định chính sách.
Xem: Ngân hàng Thế giới – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035 – hướng tới thịnh vượng, sáng tạo,
công bằng và dân chủ, Vụ xuất bản, Ngân hàng Thế giới, 1818 H Street NW, Washington, DC 20433,
USA.
10
Ngân hàng Thế giới – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035, Báo cáo tổng quan, sđd, tr. xi – xii.
Chúng tôi nhấn mạnh những chỗ in nghiêng.
9
20
lĩnh vực trong đời sống cộng đồng dân tộc Việt Nam. Việc Việt Nam có hội nhập
thành công hay không, thậm chí, sẽ là yếu tố quyết định đến toàn bộ tương lai, vận
mệnh của quốc gia – dân tộc.
Hội nhập quốc tế thành công tức là Việt Nam tranh thủ được những lợi thế do toàn
cầu hóa và cuộc Cách mạng 4.0 mang lại, thực hiện thành công chiến lược phát triển
Ngân hàng Thế giới – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Việt Nam 2035,Báo cáo tổng quan, sđd, tr. xviii –
xxxiv.
11
21
rút ngắn và trở thành một trong những nước phát triển nhất. Đồng thời, về phương
diện văn hóa và chính trị, Việt Nam hội nhập nhưng không “hòa tan”, giữ vững và
củng cố chế độ chính trị, bảo vệ thành công chủ quyền và lợi ích quốc gia và bản sắc
văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nếu không đạt được những kết quả như trên thì càng
hội nhập, Việt Nam càng tụt hậu xa hơn, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước phát
triển. Như thế, chẳng những chủ quyền, lợi ích quốc gia không được đảm bảo mà cả
bản sắc, truyền thống văn hóa cũng bị xói mòn và chế độ XHCN cũng sẽ bị đe dọa
hoặc biến đổi theo chiều hướng xấu.
Có nhiều yếu tố quyết định đến sự thành bại của quá trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam trong thời gian tới, trong đó hành trang văn hóa và tri thức, tâm thế của dân
tộc, nhất là của các thế hệ lãnh đạo đất nước và của đội ngũ thanh niên Việt Nam
chính là yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, việc chuẩn bị hành trang văn hóa và tri thức
của dân tộc sẵn sàng cho công cuộc hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện một
cách tích cực, chủ động và khôn ngoan (smart) chính là một nội dung chính trong sứ
mệnh của lĩnh vực văn hóa, khoa học và giáo dục của nước ta hiện nay và trong thời
gian tới.
Hai là, trong thời gian tiếp theo kinh tế thị trường vẫn sẽ tiếp tục là đặc trưng cơ
bản nhất của nền kinh tế nước ta và nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, nền kinh tế thị
trọng nhất và thực sự đóng vai tò cốt lõi của năng lực cạnh tranh của quốc gia và của
doanh nghiệp.12
Cũng chỉ trong cơ chế thị trường, tất cả các nguồn vốn (capital), nhất là nguồn vốn
xã hội (social capital) mới trở thành nguồn lực phát triển và phát huy được đầy đủ vai
trò và hiệu quả của chúng.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường cũng có những tác động tiêu
cực mà người ta thường gọi là “mặt trái” của cơ chế này. Điều này không có gì lạ, đã
được K. Marx và F. Engels chỉ ra từ giữa thế kỷ 19. Những gì các ông nói về “giai cấp
tư sản” thực chất là nói về những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa:
“Tất cả những mối quan hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người
phong kiến với "những bề trên tự nhiên" của mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay
phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích
trần trụi và lối "tiền trao cháo múc" không tình không nghĩa. Giai cấp tư sản đã dìm
những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa
cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ. Nó đã biến phẩm
giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ
thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính
đáng. Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem lại sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn
nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị.
Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay
vẫn được trọng vọng và tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, bác học đều bị giai cấp tư
sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó. Giai cấp tư sản đã xé
toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ
ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần.”13
Về trạng thái “tĩnh” và trạng thái “động” của nguồn lực trí tuệ, xem: Phạm Hồng Tung và Trịnh Ngọc Thạch,
“Trí tuệ: nguồn gốc, bản chất, cấu trúc và đặc điểm”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3, 2009,
tr. 166-176.
13
K.Marx và F. Engels, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Chương I, https://www.marxists.org/vietnamese/marxengels/1840s/tuyen/phan_01.htm.