Bàn về khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập và đánh giá những điểm bất cập trong các chế
định của pháp luật
Cung cấp dịch vụ công là một trong những chức năng hay nói cách khác là trách nhiệm của Nhà
nước đối với cộng đồng, xã hội. Nhà nước vừa có chức năng quản lý vừa có chức năng cung cấp
dịch vụ công. Đặc điểm này xuất phát từ tính giai cấp cũng như tính xã hội của nhà nước. Như đã
nói ở trên, chức năng xã hội sẽ mở rộng cùng với sự tiến bộ của các kiểu nhà nước. Trong xã hội
hiện nay, đang có sự tồn tại hai kiểu nhà nước tiến bộ bậc nhất trong lịch sử nhân loại: Nhà nước
Xã hội Chủ nghĩa và Nhà nước Tư bản. Cả hai kiểu nhà nước này đều dành sự quan tâm đặc biệt
cho việc cung ứng dịch vụ công để phục vụ xã hội mà không một kiểu nhà nước nào trong lịch
sử có được. Thông qua chức năng này, Nhà nước bộc lộ đầy đủ vai trò và thẩm quyền quyết định
tất yếu của mình đối với việc cung cấp dịch vụ công.
Những loại hình dịch vụ công trong cuộc sống vốn rất phong phú và đa dạng, mang
những đặc trưng rất riêng biệt của từng loại hình dịch vụ. Cùng với đó, sự phát triển ngày càng
cao của đời sống xã hội đòi hỏi cần phải có những tổ chức chuyên biệt thực hiện hoạt động cung
cấp dịch vụ công theo cách chuyên môn hóa để phục vụ một cách tối đa theo chất lượng tốt nhất
có thể cho cộng đồng, dân cư.
Trải qua các giai đoạn phát triển, Nhà nước nhận thấy cần từ bỏ cơ chế tập trung và
bao cấp, đi vào nắm giữ cũng như điều tiết những hoạt động kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô, không
can thiệp quá sâu sắc vào tất cả mọi lĩnh vực đời sống như trước đây. Bởi thế, sự ra đời của các
Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) giúp “san sẻ” gánh nặng với nhà nước trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ công, góp phần cùng nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội của mình.
Ngoài chức năng cung cấp dịch vụ công, ĐVSNCL còn có chức năng phục vụ quản lý
nhà nước. Xuất phát từ sự đa dạng của các dịch vụ công và quá trình thu hẹp phạm vi “kiểm
soát” của nhà nước trong lĩnh vực này mà nhà nước cần có một tổ chức có thể để dễ dàng cho
việc quản lý, kiểm soát cả về số lượng cũng như chất lượng của các loại hình dịch vụ công. Tuy
tư nhân cũng là lực lượng có thể tham gia vào quá trình này nhưng về cơ bản những dịch vụ
công do nhà nước cung cấp vẫn phải giữ vai trò chủ đạo trong xã hội nên sự kiểm soát và quản lý
của nhà nước thông qua những tổ chức riêng của mình là cần thiết.
Tóm lại, chức năng cung cấp dịch vụ công của Nhà nước là một chức năng đặc biệt
quan trọng, khách quan, tất yêu đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Chức năng này gắn
như
thế
nào.
Về chức năng cung cấp dịch vụ công: Dịch vụ công là một khái niệm chưa được định
nghĩa cụ thể tại Việt Nam. Có thể hiểu một cách khái quát đây là loại dịch vụ công cộng nhằm
đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, từ thực tiễn cung cấp dịch vụ
công ở Việt Nam hiện nay cho thấy: nhà nước không phải chủ thể DUY NHẤT cung cấp dịch vụ
công (ví dụ: văn phòng công chứng – loại hình công ty hợp danh cũng thực hiện chức năng cung
cấp dịch vụ công) và mỗi loại chủ thể (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp) đều
có thể cung cấp một hoặc nhiều loại dịch vụ công. Do đó, việc phân định giữa đơn vị sự nghiệp
và doanh nghiệp nhất thiết phải được tiến hành trên cơ sở mục đích cung cấp dịch vụ công.
Trong đó, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nhằm mục đích sinh lợi, đơn vị sự nghiệp cung
cấp dịch vụ công không nhằm mục đích này. Đây cũng là vấn đề mà quy định về nội hàm khái
niệm ĐVSNCL chưa chỉ ra.
Về căn cứ phân loại chức năng ĐVSNCL: trước khi Luật Viên chức 2010 ra đời và
đưa ra khái niệm “đơn vị sự nghiệp công lập” thì pháp luật phân chia ra hai loại đơn vị sự nghiệp
nhà nước: đơn vị phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước và đơn vị thực hiện dịch vụ công. Tuy
nhiên, có những đơn vị lại thực hiện đồng thời cả 2 nhiệm vụ (ví dụ: Viện Hàn lâm khoa học xã
hội Việt Nam và Viện hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam thuộc Chính phủ vừa tiến hành
hoạt động nghiên cứu phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước, vừa thực hiện hoạt động đào tạo sau
đại học).
Theo quy định tại điều 4, Nghị định 55/2012/NĐ-CP về thành lập, tổ chức lại, giải thể
thì việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ sau:
a) Ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao
nhà nước làm chủ sở hữu.
Có thể thấy, định nghĩa chưa đưa ra thật đầy đủ về những cơ quan có thẩm quyền
thành lập đối với các ĐVSNCL. Trong thực tiễn hoạt động cũng như trong quy định của các văn
bản pháp luật đều cho thấy rằng, ngoài những cơ quan trên, vẫn còn những tổ chức khác có thẩm
quyền thành lập ra mô hình này.
Căn cứ vào những quy định của Nghị định 29/2012/NĐ-CP và dựa vào quy định tại
điều 2 Nghị định 55/2012/NĐ-CP có thể phân chia một cách tương đối toàn diện những cơ quan
có thẩm quyền trực tiếp trong việc thành lập, tổ chức lại và giải thể đối với ĐVSNCL:
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập
mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện).
Các cơ quan thuộc Chính phủ;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc doanh nghiệp Nhà nước;
Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề
nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội.
Rõ ràng, các doanh nghiệp nhà nước – những tổ chức kinh tế nhà nước cũng có thẩm
quyền thành lập ra các ĐVSNCL (như Đại học Dầu khí, Đại học Điện lực trực thuộc Tập đoàn
Dầu khí và Tập đoàn điện lực Việt Nam…). Tuy nó được thành lập ra dựa vào nguồn vốn kinh
phí của nhà nước nhưng cũng không thể dựa vào đó để “biện hộ” cho việc xếp chung doanh
nghiệp nhà nước nằm trong số các cơ quan nhà nước như quy định tại điều 9 Luật Viên chức
2010. Rõ ràng, đây là một sự thiếu xót trong quy định của pháp luật.
các ĐVSNCL mà không nhất thiết phải có một khuôn mẫu nào để áp theo. Nghĩa là, tùy vào nhu
cầu cũng như căn cứ vào chức năng mà đặt tên gọi.
Kinh phí thành lập: Các ĐVSNCL được thành lập hoàn toàn dựa vào nguồn vốn của
ngân sách của nhà nước mà không có sự tham gia của tư nhân. Đặc điểm này xuất phát từ chính
mục đích thành lập của ĐVSNCL là không vì mục tiêu lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động,
Nhà nước tiếp tục cấp ngân sách (một phần hoặc toàn bộ) để duy trì và tổ chức các hoạt động ấy
một cách quy củ.
Cơ cấu tổ chức: Những ĐVSNCL khác nhau sẽ có những cách thức tổ chức khác
nhau nhưng nhìn chung sẽ gồm các bộ phận sau: Bộ máy lãnh đạo quản lý (người đứng đầu và
các cấp phó); các trung tâm, khoa chuyên môn, các phòng ban (hành chính, văn thư, tài vụ, kế
toán, bảo vệ, lao công..). Mỗi bộ phận kể trên căn cứ vào nhiệm vụ được giao để thực hiện vì
mục tiêu chung của đơn vị.
Đội ngũ nhân sự: Đây chính là đội ngũ nhân lực duy trì hoạt động của ĐVSNCL. Các
đối tượng này vốn rất đa dạng mà lực lượng chủ đạo và đông đảo nhất là đội ngũ viên chức. Đội
ngũ nhân sự này vốn không tạo ra của cải vật chất trực tiếp nhưng tham gia vào công tác chuyên
môn để cung cấp dịch vụ công ra xã hội. Nhà nước bằng cách định ra chỉ tiêu biên chế và vị trí
việc làm trong ĐVSNCL để quản lý đội ngũ nhân sự của mình. Về bản chất, biên chế và vị trí
việc làm không khác nhau vì đều cùng là cách để chỉ một số lượng người cần thiết cần cho việc
đảm đương một công việc thường xuyên trong cơ quan, tổ chức của nhà nước.
Xét một cách khái quát, có thể gọi đội ngũ nhân sự này phần lớn là các nhân viên nhà
nước (đối với những người trong cơ cấu biên chế và vị trí việc làm), họ là “xương sống” của nền
hành chính quốc gia, phục vụ trong các tổ chức của nhà nước và hưởng lương trực tiếp từ ngân
sách quốc gia cũng như quỹ lương trong đơn vị mà họ công tác.
Do sự đa dạng của các loại hình ĐVSNCL nên đội ngũ nhân sự của nó cũng đa dạng
theo. Theo lẽ thường, nhắc đến ĐVSNCL người ta nghĩ đến công chức, viên chức. Tuy nhiên,
các cơ quan Công An, Quân đội cũng có những ĐVSNCL của riêng mình và vì thế họ không thể
được gọi là công chức, viên chức mà có chức danh riêng, có những đạo luật riêng điều chỉnh.
Như vậy, nếu nhìn nhận tổng quan, chính xác nhất thì đội ngũ nhân sự của ĐVSNCL sẽ bao
sử dụng tài sản nhà nước2 giao quyền quản lí, sử dụng tài sản nhà nước và quyền thụ hưởng kinh
phí từ ngân sách nhà nước cho một số tổ chức phi nhà nước như: tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Chính vì lý do này và trên cơ sở đề cao đặc điểm các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập
trên cơ sở nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước mà nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành3 đã quy định các đơn vị sự nghiệp công lập do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và doanh
nghiệp nhà nước thành lập cũng là đơn vị sự nghiệp công lập. Nói cách khác, các tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội nghề nghiệp và doanh nghiệp nhà nước được nhà nước giao quyền thành lập đơn vị sự
nghiệp công lập trên cơ sở nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước.
Tóm lại, nếu quan niệm theo nghĩa hẹp thì đơn vị sự nghiệp công lập chỉ bao gồm những
đơn vị sự nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật;
nếu quan niệm theo nghĩa rộng thì đơn vị sự nghiệp công lập gồm tất cả những đơn vị sự nghiệp
được thành lập trên cơ sở nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước. Tuy vậy, khái niệm đơn vị sự
1 TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập được quy định như thế nào, tạp chí Thanh Tra, số
ra ngày 3/2015
2 Xem: Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước số 09/2008/QH12 ngày 03/06/2008; Nghị định Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009.
3 Xem: Khoản 1 Điều 9 của Luật Viên chức; Điều 2 của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính
phủ, quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Khoản 2 Điều 2 của Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày
28/06/2012 của Chính phủ, quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.
nghiệp công lập theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Viên chức lại không thể hiện rõ tính
chất “công lập” theo các quan niệm này.
Thứ hai, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức có tư cách pháp nhân.
Theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật Dân sự, số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005, một
tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: được thành lập hợp pháp; có cơ
cộng;… Ở Việt Nam hiện nay, dịch vụ công ích chủ yếu là do các doanh nghiệp cung cấp. Cá
biệt, một số đơn vị sự nghiệp công lập cũng có chức năng cung cấp loại hình dịch vụ này, như:
Trung tâm khí tượng thủy văn Quốc gia, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương5.
Dịch vụ sự nghiệp công loại dịch vụ công cộng có tính chất nghiệp vụ riêng biệt6 nhằm
đáp ứng những nhu cầu phi vật chất tự nhiên thiết yếu của mọi người trong cộng đồng dân cư,
như: nhu cầu về học tập, chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thông tin, hưởng thụ thành quả khoa học,
công nghệ,… Ở Việt Nam hiện nay, dịch vụ sự nghiệp công chủ yếu do các đơn vị sự nghiệp
cung cấp. Cá biệt, một số doanh nghiệp cũng có chức năng cung cấp loại hình dịch vụ này, như:
doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhà xuất bản được tổ chức và hoạt động theo loại hình
doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện do Nhà nước là chủ sở hữu7.
Mặt khác, dịch vụ hành chính công (dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà
nước) thường được hiểu là loại dịch vụ công nhằm đáp ứng những nhu chung thiết yếu của mọi
cá nhân, tổ chức, phát sinh từ yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước. Trong đó, chủ yếu là
nhu cầu xác định tư cách pháp lý của cá nhân, tổ chức (tương ứng với các dịch vụ: cấp giấy tờ hộ
tịch, văn bằng, chứng chỉ cho cá nhân; cấp đăng ký hoạt động cho pháp nhân;…) xác định tính
hợp pháp của các sự việc, tài liệu, tài sản (tương ứng các dịch vụ: công chứng; chứng thực; cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với tài sản;…). Các nhu cầu này không phát
sinh tự nhiên từ đời sống của cộng đồng dân cư mà phát sinh theo yêu cầu của pháp luật liên
quan đến các điều kiện chung, thiết yếu để các cá nhân, tổ chức tham gia vào quản lý hành chính
5 Xem: Điều 1 và Điều 3 của Quyết định số 77/2013/QĐ-TTg ngày 24/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia trực thuộc Bộ Tài
nguyên và Môi trường.
6 Xem: Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học – Viện ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, 2002, tr. 877.
7 Xem: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/05/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ (đã
được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/09/2010; đã bị bãi bỏ khoản 4 Điều 10 thoe quy
định của Nghị định số 45/2011/NĐ-CP, ngày 17/06/2011); khoản 2 Điều 12 của Luật Xuất bản, số 19/2012/QH13
ngày 20/11/2012.
nhà nước. Do đó, dịch vụ hành chính công chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước cung
Cơ quan thuộc chính phủ được xác định là 8 đơn vị, bao gồm: Viện Hàn lâm khoa học
công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh, Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn Xã Việt
Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ban tư lệnh bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với mỗi
đơn vị này đều có những văn bản riêng điều chỉnh, quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mỗi đơn vị và cũng đều ghi nhận các đơn vị trên là các cơ quan. Thực chất, đây
chính là các ĐVSNCL mà không phải là cơ quan hành chính nhà nước thuộc Chính phủ. Bởi vì:
Thứ nhất, bản thân nghị định đã xác định chức năng của các “cơ quan” trên là “phục vụ
nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ; thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất
quan tọng mà Chính phủ trực tiếp chỉ đạo”. Đây chính là những đặc điểm của ĐVSNCL đã được
quy định rất rõ trong khoản 1, điều 9 Luật Viên chức 2010 là “phục vụ quản lý nhà nước” và
“cung cấp dịch vụ công”. Rõ ràng, về bản chất không hề khác nhau, có chăng đây chỉ là những
đơn vị có tính chất đặc biệt, cung cấp những loại hình dịch vụ công đặc biệt mà Chính phủ cần
quản lý và chỉ đạo trực tiếp. Nếu đây là “cơ quan” vậy tại sao nhiệm vụ lại có sự chồng chéo,
giao thoa với ĐVSNCL trong khi chức năng của cơ quan hành chính nhà nước là quản lý hành
chính nhà nước còn ĐVSNCL “không có chức năng quản lý nhà nước”(khoản 2, điều 21, Nghị
định 36/2012/NĐ-CP) ? Đây chính là một tồn tại rất lớn mà pháp luật Việt Nam chưa thể làm rõ.
Thứ hai, với mỗi đơn vị trong 8 đơn vị riêng biệt thì quy định của pháp luật về chức năng
thể hiện bản chất cung cấp dịch vụ công cũng như nhiệm vụ phục vụ quản lý rất rõ ràng, tức là
“hướng về” phía của ĐVSNCL – một kiểu ĐVSNCL đặc biệt trong nền hành chính nhưng chính
bản thân các văn bản ấy cũng quy định tên gọi “cơ quan” chứ không phải ĐVSNCL. Ví dụ, định
nghĩa và chức năng của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam được quy định tại khoản 1, điều
1 Nghị định 109/2012/NĐ-CP: “cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về khoa học xã hội; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc
hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững
của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện tư vấn về chính sách phát triển; đào
tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia phát triển tiềm lực khoa học xã hội của cả nước”
hay như Ban bảo vệ Lăng chủ tịch Lăng Hồ Chí Minh: “là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức
năng chỉ đạo, phối hợp các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài
ra của cải vật chất nhưng bằng chuyên môn, nghiệp vụ và chức năng quản lý đơn vị tiến hành
trực tiếp các hoạt động phục vụ lợi ích công của cộng đồng xã hội. Công chức viên chức phải
khác biệt với đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp nhà nước, và phải được định nghĩa một cách
đầy đủ, chuẩn xác hơn bởi phạm vi của những đối tượng này rất rộng lớn. Tuy nhiên, đáng tiếc,
pháp luật Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng nhất xoay quanh các vấn đề này:
Thứ nhất, khoản 2, điều 4 Luật Cán bộ, công chức định nghĩa một rất dài về công
chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật”.
Tuy định nghĩa dài theo hình thức liệt kê nhưng định nghĩa này chưa đầy
đủ khi chưa bao quát hết tất cả các đối tượng là công chức. Đối với các khối học viện, nhà trường
thuộc bộ công an và bộ quốc phòng, người đứng đầu ĐVSNCL được quy định đến hàm Trung
tướng và Thiếu tướng (giám đốc Bệnh viện 108, giám đốc Học viện Quân y, giám đốc Học viện
Cảnh sát…). Như vậy, họ là sĩ quan chuyên nghiệp, được đeo hàm cấp tướng và được điều chỉnh
bởi luật riêng về sĩ quan, quân đội. Định nghĩa trên đã loại trừ đối tượng “sĩ quan” vậy câu hỏi
đặt ra là những người này có được coi là công chức hay không cho dù hiển nhiên là họ đứng đầu
một ĐVSNCL ?
Thứ hai, từ trong lý luận cho đến thực tiễn quy định của pháp luật đều có đủ cơ sở để
khẳng định rằng, công chức, viên chức không thể làm việc trong đơn vị doanh nghiệp nhà nước