BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------
TRẦN THANH TIỆP
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÂN BÓN CỦA THƯƠNG NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------
TRẦN THANH TIỆP
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÂN BÓN CỦA THƯƠNG NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀI
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU........................................................................................3
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .........................................................3
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................... 3
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................... 4
1.5. KẾT CẤU LUẬN VĂN ..........................................................................................4
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............................................................................5
2.1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ............................................................................5
2.1.1. Thương nhân ................................................................................................................. 5
2.1.2. Kinh doanh ................................................................................................................... 6
2.1.3. Trách nhiệm của thương nhân kinh doanh phân bón ................................................... 7
2.2. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ QUY ĐỊNH..........................................9
2.2.1. Tuân thủ quy định và tác dụng chính sách ................................................................... 9
2.2.2. Chính sách quản lý hướng về tuân thủ (Compliance-Oriented Policy) ...................... 11
2.2.3. Lý thuyết tuân thủ ....................................................................................................... 11
2.2.3.1. Khái niệm về tuân thủ .......................................................................................... 12
2.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ-Phương pháp T11 ...................................... 12
2.2.4. Mô hình tuân thủ tổng hợp Nielsen và Parker (2012) ................................................ 18
2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ-Phương pháp T14 .............................................. 20
2.3. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ................................................23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..............................................................................................25
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU ...............................26
3.1. KHUNG PHÂN TÍCH ...........................................................................................26
3.2. XÂY DỰNG THANG ĐO .....................................................................................26
3.3. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU .............................................................30
DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN
Các nước Đông Nam Á
CQQL
Cơ quan quản lý
GDP
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
KDPB
Kinh doanh phân bón
NĐ-CP
Nghị định Chính phủ
QĐ-TTg
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
UBND
Ủy ban nhân dân
Bảng 4.5: Kiến thức quy định (T1)
38
Bảng 4.6: Những yếu tố chi phí – lợi ích (T2)
39
Bảng 4.7: Mức độ chấp nhận (T3)
40
Bảng 4.8: Tuân thủ chuẩn mực (T4)
41
Bảng 4.9: Kiểm soát không chính thức (T5)
42
Bảng 4.10: Khả năng bị báo cáo (T6)
43
Bảng 4.11: Khả năng bị thanh tra, kiểm tra (T7)
44
Bảng 4.12: Khả năng bị phát hiện (T8)
18
Sơ đồ 3.1: Khung phân tích
26
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Kiên Giang
31
Biểu đồ 4.1: Quy mô kinh doanh theo huyện
33
Biểu đồ 4.2: Tình hình kinh doanh của cơ sở
35
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Vấn đề tuân thủ quy định của pháp luật về kinh doanh mặt hàng phân bón được
các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Tỉnh Kiên Giang là một tỉnh có diện tích nông
nghiệp lớn, nhiều loại nông sản chất lượng cao, sản lượng lúa luôn nằm trong nhóm đầu
của khu vực. Do đó, việc quan tâm đến hành vi tuân thủ các quy định của các cơ sở kinh
doanh là cần thiết, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, cung cấp những
sản phẩm sạch ra thị trường.
Tác giả sử dụng cơ sở lý thuyết liên quan về vấn đề nghiên cứu như lý thuyết
hành vi về tuân thủ quy định gồm tuân thủ quy định và tác dụng chính sách, các chính
sách về quản lý tuân thủ, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ, cơ sở lý thuyết về
các nước có số lượng nông sản xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, hồ tiêu…
Với tầm quan trọng của phân bón, trong các năm qua, Nhà nước đã có nhiều
chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật để quản lý đầu tư, phát triển ngành phân
bón đáp ứng nhu cầu trong nước, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, quản lý hoạt
động sản xuất, kinh doanh phân bón nhằm phát triển thị trường phân bón lành mạnh,
đảm bảo chất lượng phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao
giá trị và sức cạnh tranh hàng nông sản của Việt Nam. Sau khoảng 3 năm thực hiện
Nghị định 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón, việc quản lý mặt
hàng này đã có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn thực hiện,
thực tiễn cho thấy Nghị định 202 còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại kẽ hở, chưa bắt
kịp yêu cầu thực tiễn dẫn đến sản phẩm phân bón phát triển ồ ạt, không theo định
hướng. Tình trạng phân bón giả, kém chất lượng tràn lan nhưng không kiểm soát
được chất lượng trở nên khá phổ biến…
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo nhiều thuận lợi về cải cách thủ tục hành chính
trong việc thành lập đơn vị kinh doanh, cải cách quản lý thuế, điều kiện này làm gia
tăng số lượng thương nhân hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực nói chung không
riêng gì ngành phân bón.
Theo số liệu của Bộ Công Thương tại Hội thảo quốc gia về lập lại thị trường
phân bón năm 2016, nhu cầu tiêu thụ phân bón bình quân trong nước với 80% là phân
bón vô cơ và 20% là phân bón hữu cơ, khu vực phía Nam chiếm 70% cơ sở sản xuất
2
và lượng phân bón tiêu thụ trong cả nước, đặc điểm phân phối của phân bón chủ yếu
dựa trên hệ thống hàng nghìn thương nhân kinh doanh làm đại lý, cửa hàng rải rác ở
khắp các tỉnh, thành, rất ít nhà sản xuất thực hiện phân phối đến tay người tiêu dùng.
Mặc dù, công tác kiểm tra của các lực lượng chức năng đã góp phần tạo chuyển
biến tích cực hơn trong việc thực hiện các quy định pháp luật trong hoạt động kinh
doanh phân bón của thương nhân từ khâu sản xuất đến phân phối trên thị trường. Tuy
trong hoạt động kinh doanh phân bón. Kết quả nghiên cứu được sử dụng để đề xuất
các giải pháp để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
trong lĩnh vực phân bón trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Với mục tiêu chung là khảo sát, nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi tuân thủ hoặc không tuân thủ quy định quản lý nhà nước về phân bón của
các thương nhân hoạt động kinh doanh, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao tuân
thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu chung này, đề tài sẽ giải quyết 3 mục tiêu cụ thể, đó là:
- Khảo sát hiện trạng kinh doanh phân bón của thương nhân trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang;
- Xem xét các yếu tố tác động và mức độ tuân thủ quy định quản lý nhà nước
trong hoạt động kinh doanh phân bón của các thương nhân trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang;
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Hiện trạng kinh doanh phân bón của thương nhân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
(thực hiện kinh doanh và những thách thức họ đang gặp) như thế nào?
Các yếu tố nào tác động đến mức độ tuân thủ quy định quản lý nhà nước trong
hoạt động kinh doanh phân bón của các thương nhân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang?
Các giải pháp gì để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước trong lĩnh vực phân bón?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
4
Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài gồm thương nhân, kinh
doanh, trách nhiệm của thương nhân kinh doanh phân bón. Trình bày lý thuyết hành
vi tuân thủ quy định. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
2.1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.1.1. Thương nhân
Theo pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm
2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.
Theo khái niệm này thì thương nhân có các đặc điểm: Phải thực hiện hành vi
thương mại; phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa chính mình
và vì lợi ích của bản thân mình; hoạt động thương mại mang tính chất nghề nghiệp
của thương nhân là hoạt động thường xuyên, liên tục được thương nhân thực hiện
nhằm mang lại thu nhập cho chính thương nhân; phải có năng lực hành vi thương
mại; phải có đăng ký kinh doanh, đây là yêu cầu bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức
muốn trở thành thương nhân.
Thương nhân được phân loại như sau: Thương nhân là cá nhân chịu trách
nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại, tự mình gánh chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại; thương nhân là
hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ, nếu tài sản chung
không đủ thì các thành viên của hộ phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng;
thương nhân là pháp nhân chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động
thương mại trong phạm vi số vốn, số tài sản của pháp nhân.
Về đối tượng là thương nhân trong khái niệm thương nhân, có các khái niệm
như sau: Tổ chức kinh tếbao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác
theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(Khoản 27 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013); doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm
6
7
Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân chuyên kinh
doanh mua bán hàng hóa và có những thương nhân đồng thời là nhà sản xuất, cung
ứng dịch vụ. Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến
quá trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản
phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.3. Trách nhiệm của thương nhân kinh doanh phân bón
Phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng
hoặc có tác dụng cải tạo đất (Điều 3 - Nghị định số 202/2013/NĐ-CP).
Các loại phân bón bao gồm: Phân bón vô cơ là loại phân bón được sản xuất từ
khoáng thiên nhiên hoặc từ hóa chất, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều chất
dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định
của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; phân bón hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ
nguồn nguyên liệu hữu cơ, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia.
Phân bón được pháp luật quản lý bằng các quy định tại Nghị định của Chính
phủ, từ Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2003 về quản lý sản
xuất, kinh doanh phân bón và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm
2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP, tiếp đến làNghị
định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 về quản lý phân bón, theo quy
định này thì trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phân bón vô cơ thuộc Bộ Công
Thương, phân bón hữu cơ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh phân bón phải tuân thủ các điều kiện về
kinh doanh phân bón (Điều 15 Nghị định 202/2013/NĐ-CP), trong quá trình kinh
doanh nếu không đáp ứng được các điều kiện quy định sẽ bị đình chỉ có thời hạn kinh
doanh phân bón cho đến khi đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định, bao gồm:
(1) Có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư
hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có ngành nghề về kinh doanh
phân bón do cơ quan có thẩm quyền cấp; (2) Có cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh,
phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng phân bón so với tiêu
chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; (8) Thông tin, quảng cáo
sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng phân bón, về nguồn gốc và xuất xứ
9
phân bón; (9) Che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của phân bón đối với
con người và môi trường.
2.2.LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
2.2.1. Tuân thủ quy định và tác dụng chính sách
Khái niệm tuân thủ quy định theo OECD (2000) trong tài liệu về “những thách
thức trong việc tuân thủ quy định” là việc chấp hành của cộng đồng được quản lý về
những quy định. Lý lẽ là tại sao mọi người phải tuân theo bất kỳ nguyên tắc, luật lệ
nào? Điều này cần phải xem xét rất nhiều khía cạnh.Thứ nhất là cộng đồng nhận thức
được và hiểu rõ những quy định, nếu không rõ ràng về quy định thì có thể đưa đến
tình trạng vô tình không tuân thủ. Thứ hai là cộng đồng phải sẵn lòng tuân thủ,những
động lực kinh tế có thể khuyến khích sự tuân thủ, những chương trình cưỡng chế
mạnh mẽ có thể làm giảm động lực cho những hành vi không tuân thủ. Điểm thứ ba
là cộng đồng có khả năng thi hành, tuân thủ hay không.Trong nhiều quy định quản
lý, việc thi hành chính sáchnên bao gồm những hoạt động hỗ trợ, ví dụ cung cấp thông
tin cần thiết hoặc trợ giúp kỹ thuật. Nếu một trong ba khía cạnh này không diễn ra
đồng thời thì hành vi không tuân thủ sẽ xuất hiện. Nhằm bảo đảm việc tuân thủ quy
định, những nhà làm chính sách cần phải hướng các hoạt động kiểm soát, quản lý
không dừng lại ở việc ban hành các quy định, mà còn phải bảo đảm 3 điều kiện, khía
cạnh trên được đáp ứng.
Ứng với mỗi khía cạnh này, nhà nước cần sử dụng một số các hoạt động đồng
thời để bảo đảm là chính sách có tác dụng: 1) Thông tin cho cộng đồng được quản lý
của quy định biết được quyền lợi và nghĩa vụ, giải thích rõ ràng về những yêu cầu. 2)
Sử dụng nhiều công cụ khác nhau (như thuế, cấm, trợ cấp, tiêu chuẩn) để tác động
thể làm nguy hại đến nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng tương tự như không
có quy định hoặc quản lý quá mức. Những thất bại có hệ thống về tuân thủ (không
tuân thủ kéo dài và phạm vi rộng lớn) là những thất bại của quản lý nhà nước, làm
giảm giá trị của các công cụ quản lý, và sau cùng là làm mất sự tin cậy với chính phủ,
và sự điều hành của nhà nước theo những nguyên tắc của luật. Các doanh nghiệp và
người dân kỳ vọng nhà nước và các nhà quản lý nhà nước có thể chứng minh rằng
những hệ thống quy phạm pháp luật được thiết kế và ban hành là có tác dụng.
Ngoài ra, theo quy định chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Bộ Tài chính, 2000)
không tuân thủ là hành vi thực hiện sai, bỏ sót, thực hiện không đầy đủ, không kịp
11
thời hoặc không thực hiện pháp luật và các quy định dù là vô tình hay cố ý của đơn
vị, một trong các dấu hiệu của hành vi không tuân thủ là cơ quan chức năng đã kiểm
tra liên quan việc vi phạm pháp luật.
Khái quát khái niệm tuân thủ, hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật
như đã nêu trên sẽ được vận dụng trong lĩnh vực kinh doanh phân bón mà đề tài đang
nghiên cứu, theo đó, hành vi không tuân thủ quy định trong hoạt động kinh doanh
phân bón của thương nhân được phản ánh cụ thể qua hành vi vi phạm được pháp luật
quy định trong các chế tài xử lý - pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2.2.2. Chính sách quản lý hướng về tuân thủ (Compliance-Oriented Policy)
Chính sách hướng về tuân thủ muốn nói đến sự phát triển của các quy định
quản lý cần được thiết kế để bảo đảm đạt được mức tuân thủ tối đa, sẽ đạt được mục
tiêu chính sách với chi phí thấp nhất.Các chính sách thuộc thể loại này tìm kiếm sự
hiệu quả về nguồn lực của chính phủ để tránh những thất bại tiềm năng mà có thể làm
giảm thấp mục tiêu cần đạt được của chính sách. Các nhà làm chính sách cần phải
hiểu và quan tâm đến đặc điểm của cộng đồng được quản lý theo quy định nào đó,
xem xét những người này sẽ đáp ứng như thế nào đối với những quy định và các hoạt
động cưỡng chế thi hành và cả những động lực bên trong và bên ngoài để tuân thủ
phức tạp, mơ hồ mà trong đó ý nghĩa của quy định được chuyển tải theo những gì đã
diễn giải, thực thi và thương thảo hàng ngày trong cuộc sống giữa những người liên
quan đến một quy định nào đó. Theo cách tiếp cận này thì tuân thủ muốn nói đến
những ý nghĩa, những tập quán xã hội, thói quen, những tương tác, thông tin giữa
những đối tượng khác nhau trong tiến trình thực hiện.
Từ cách tiếp cận trên trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận khái niệm tuân thủ
như sau: “Tuân thủ là thái độ mà cá nhân hoặc doanh nghiệp chấp hành tốt các quy
định của cơ quan quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó”.
2.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ-Phương pháp T11
Theo Năm 1993,Dick Ruimschotel, Đại học Rotterdam Erasmus và Bộ tư pháp
Hà Lan phác thảo 11 khía cạnh chính ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ (T11) và được
OECD sử dụng (OECD, 2000). Khung phân tích này tập trung vào các khía cạnh có
thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy định, luật pháp của đối tượng liên quan. Các
13
phân tích sử dụng mô hình này giúp cho chính phủ hiểu được hành vi tuân thủ/không
tuân thủ hiện hành và tiềm năng của đối tượng, và do vậy giúp thiết kế và cải thiện
quy định có tác dụng hơn. Khung phân tích 11 yếu tố xác định hành vi tuân thủ có
thể được áp dụng để đánh giá độ mạnh, yếu của các điều quy định bằng cách: 1) thông
qua thảo luận với các chuyên gia: các nhà làm chính sách, nhà quản lý, những nhà
cưỡng chế thực thi, đại diện đối tượng quản lý, và các chuyên gia luật để xem xét
mức độ mạnh, yếu của 11 yếu tố dựa theo ý kiến, nhận định riêng của từng người. 2)
Cách thứ hai có giá trị khách quan hơn bằng cách khảo sát các đối tượng ảnh hưởng
để ghi nhận và phân tích ý kiến của họ về quy định mà họ phải thi hành.
Trong cả hai cách thực hiện thì mỗi khía cạnh được đánh giá theo thang đo và
gán một con số từ mức 1 đến mức 5, trong đó mức 1 là tuân thủ thấp nhất và mức 5
cho thấy khía cạnh được tuân thủ mạnh nhất. Và như vậy, kết quả khảo sát sẽ chỉ ra
được những khía cạnh nào của tuân thủ bị thất bại. Những khái niệm chính cần được
doanh nghiệp.
(3) Sự chấp nhận về quy định
Khía cạnh này muốn nói đến sự chấp nhận của doanh nghiệp về lý lẽ của quy
định. Mức độ chấp nhận thấp có thể đưa đến việc tuân thủ không liên tục. Đối với
nhiều doanh nghiệp thì sự chấp nhận về quy định là để nâng cao, gìn giữ những tiêu
chuẩn cho nghề nghiệp.
(4) Sự tôn trọng với cán bộ nhà quản lý nhà nước (tuân thủ chuẩn mực)
Khía cạnh này kiểm định cách tiếp cận của doanh nghiệp đối với nhà quản lý.
Do có sự “thiên vị” về cách đánh giá, nhìn nhận người quản lý, nên rất khó để thiết
kế câu hỏi phù hợp nhằm khảo sát khía cạnh này một cách khách quan.
(5) Kiểm soát xã hội/không chính thức.
Kiểm soát xã hội/không chính thức nhằm khám phá những thái độ về hệ quả
của việc bị phát hiện không tuân thủ chứ không phải là các hình phạt. Những thiệt hại
về uy tín trong xã hội là điểm quan trọng trong khía cạnh này.
(6) Rủi ro khi bị báo cáo.
Khía cạnh thứ 6 xem xét các doanh nghiệp nhận thức như thế nào về xác suất
bị người nào đó báo cáo hoặc phát hiện không tuân thủ. Những thông tin báo cáo có
thể trợ giúp cơ quan quản lý giải quyết các vấn đề không tuân thủ, và như thế nhà
15
quản lý cần xem xét sự cần thiết của khách hàng và trợ giúp họ cũng như những người
khác trong việc khuyến khích báo cáo.
(7) Rủi ro bị thanh tra.
Rủi ro bị thanh tra đo lường nhận thức về rủi ro của doanh nghiệp về việc
thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước. Mức độ rủi ro thật sự (không phải rủi ro theo
cảm nhận) bị ảnh hưởng bởi mật độ kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý và phương
pháp thực hiện kiểm tra. Đây cũng là một trong những thông tin nhạy cảm và “thiên
vị”, doanh nghiệp ít khi trả lời thẳng và đúng như ý của họ muốn nói. Một số doanh
độ nặng nề của hình phạt do cơ quan quản lý ban hành do việc phát hiện đã không
tuân thủ. Việc nhận thức được mức phạt là nặng hay không ảnh hưởng lớn đế hành
vi tuân thủ trong tương lai. Doanh nghiệp phải xem xét đế thiệt hại về tài chính cũng
như các thiệt hại không phải bằng tiền khác.