Luận văn: Hoàn thiện phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Pdf 49

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu
khoa học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Anh


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................. 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HOÀN
THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.....................4
1.1. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN.................................4

1.1.1. Ngân sách Nhà nước và tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước...................4
1.1.2. Phân cấp quản lý NSNN...........................................................................12
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH (THÀNH PHỐ)..............................................30

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH...............................37
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NINH..........................................................................................37

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên....................................................................................37
2.1.2. Khái quát về đặc điểm Kinh tế - Xã hội.....................................................39
2.2. TÌNH HÌNH PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH VÀ THỰC HIỆN NSNN
GIAI ĐOẠN 2004 - 2009.....................................................................................45


KẾT LUẬN..................................................................................................104
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN:

Ngân sách nhà nước

NSTW:

Ngân sách trung ương

NSĐP:

Ngân sách địa phương

HĐND:

Hội đồng nhân dân

UBND:

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng số 01: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
chủ yếu giai đoạn 2004 - 2010................................................44

nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Tuy nhiên, tình hình kinh tế,
đời sống của cả nước và địa phương phát triển, biến đổi từng ngày, luật ngân
sách và các văn bản khác qua thực hiện bộc lộ những lạc hậu, hạn chế nhất
định cần được bổ sung, hoàn thiện trong vấn đề phân cấp quản lý NSNN.


2
Với lí do đó, tôi chọn đề tài: "Hoàn thiện phân cấp quản lý Ngân sách
Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn: khảo sát, đánh giá phân cấp quản lý
NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Từ đó, đề xuất các quan điểm
các phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện phân cấp quản lý ngân
sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
Để thực hiện mục đích trên luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
- Về mặt lí luận: hệ thống hoá các cơ sở lí luận liên quan đến đề tài như:
NSNN, hệ thống NSNN; phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh hiện nay.
- Phân tích thực trạng phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh nhằm phát hiện công tác phân cấp quản lý NSNN đối với tỉnh Quảng
Ninh hiện hành còn những gì chưa hoàn thiện.
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng hoàn thiện hệ thống phân cấp
quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh (thành phố) và các điều kiện thực hiện.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các vấn đề lý luận về NSNN và phân cấp quản lý NSNN.
+ Tình hình phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong
thời gian qua.
+ Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nhóm phân cấp quản lý phân định
trách nhiệm, quyền hạn; phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình phân cấp quản lý NSNN

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN

1.1.1. Ngân sách Nhà nước và tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm và vai trò Ngân sách Nhà nước
Có nhiều quan niệm về Ngân sách Nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế
cổ điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các
khoản thu, chi của Chính phủ, được thiết lập hàng năm. Nhiều nhà nghiên cứu
kinh tế hiện đại thì cho rằng ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu
chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước.
Luật ngân sách Nhà nước Việt Nam (số 01/2002/QH11 thông qua tại kỳ
họp thứ 2 Quốc hội khoá 11 ngày 16/12/2002) định nghĩa: "Ngân sách Nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để bảo đảm thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Bên cạnh những sự khác biệt trên thì các định nghĩa đều có một số
điểm chung sau:
- Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhất định,
thường là một năm - gọi là năm tài chính.
- Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quan lập
pháp của quốc gia đó ban hành.
Nhìn dáng vẻ bề ngoài thì NSNN là một bản dự toán thu chi bằng tiền
của Nhà nước trong khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, dáng vẻ bề ngoài
đó lại chứa đựng những yếu tố pháp lý, những mối quan hệ cực kỳ quan trọng
và nội dung vô cùng phong phú và phức tạp. Ngân sách được dự toán thảo
luận, phê chuẩn từ cơ quan pháp quyền, được giới hạn thời gian sử dụng,


5
được quy định nội dung thu chi…, được kiểm soát bởi một hệ thống thể chế

Một là, Nhà nước có nhiều chức năng, nhiệm vụ. Để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ đó nhà nước cần có lực lượng vật chất nhất định. Một trong
đó là ngân sách Nhà nước. Đối với bất kỳ quốc gia nào, ngân sách Nhà nước
luôn có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm nguồn tài chính cho sự thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Hai là, Ngân sách là một trong các công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng tác
động vào nền kinh tế. Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền
kinh tế phát triển, điều chỉnh cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hoá,
động viên mọi thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình phát triển; Ngân
sách, cùng với các công cụ khác hỗ trợ sự hình thành đồng bộ các yếu tố của
kinh tế thị trường, đồng thời khắc phục các thất bại của chính nền kinh tế thị
trường, bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng
và hiệu quả kinh tế - xã hội;
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng cần phải
xây dựng được một hệ thống ngân sách hợp lí, với việc phân cấp quản lý phù
hợp nhằm mục tiêu phân phối, sử dụng ngân sách có hiệu quả nhất.
1.1.1.2. Tổ chức hệ thống NSNN
Mặc dù các mối quan hệ kinh tế thuộc nội dung NSNN chỉ có thể ra đời
và phát triển trên cơ sở sự vận động không ngừng của các mối quan hệ tiền tệ
trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, NSNN hoàn toàn không mang
tính thụ động mà còn có tác động tích cực trở lại. Sự tác động trở lại đó của
NSNN hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước, chủ thể của Ngân sách Nhà nước,
mà rõ nhất là mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước quyết định mô hình tổ chức
hệ thống NSNN.
* Về mặt lý thuyết: tổ chức hệ thống NSNN có thể thực hiện theo hai
phương án cụ thể như sau:


7
+ Một là: NSNN được tổ chức dựa trên quan điểm coi NSNN là duy

không có Ngân sách độc lập cũng hạn chế vai trò quản lý của mình. Hơn nữa,
bộ máy Nhà nước Trung ương không đủ mạnh, tệ quan liêu bảo thủ, nạn giấy
tờ còn nặng nề thì phương án này sẽ không mang lại hiệu quả.
Phương án thứ hai có khả năng khắc phục được hạn chế nêu trên vì đã giải
phóng chính quyền Trung ương khỏi một số nhiệm vụ thu chi phân tán ở tất cả
các Địa phương, để tập trung vào những mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội lớn
của đất nước. Phương án này cũng tăng cường quyền hạn trách nhiệm cuả
chính quyền Địa phương trong việc chủ động khai thác nguồn thu và đảm
nhiệm các nhiệm vụ chi được giao, xoá bỏ tình trạng ỷ lại, thụ động trông chờ
vào trung ương. Tất nhiên hạn chế của phương án này là sẽ phát sinh cục bộ
Địa phương, phân hoá giữa các Địa phương (nơi giàu, nơi nghèo) và giao
nhiệm vụ thu và chi như thế nào cho các cấp chính quyền Địa phương cho phù
hợp, tránh phân tán chia cắt dẫn tới không quản lý thống nhất được NSNN.
Xét về lịch sử ra đời, bản chất và chức năng của NSNN thì tổ chức hệ
thống NSNN theo phương án hai là có cơ sở khoa học và phù hợp vì:
- Những nhân tố hình thành NSNN xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà
nước, nó gắn liền với từng Nhà nước cụ thể, vì vậy trong mỗi cấp chính quyền
đều có nhân tố NSNN là một sự tất yếu.
- NSNN là một công cụ quản lý Nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước,
phục vụ chức năng của Nhà nước. Vậy Nhà nước Trung ương và Nhà nước
Địa phương có Ngân sách là một sự cần thiết khách quan, vì đó đều là Nhà
nước chính thống.
- NSTW vẫn giữ được vai trò tập trung vì nhiệm vụ thu chi và cân đối của
Ngân sách Địa phương đều do chính quyền Trung ương quy định và chi phối.
- Tồn tại NSTW và NSĐP vẫn đảm bảo sự thống nhất của NSNN vì các
khoản thu ở Trung ương hay Địa phương đều là thu NSNN, các khoản Trung


9
ương chi hay Địa phương chi đều là các khoản chi NSNN. Vấn đề phân chia

chi giao cho Địa phương. Do vậy, NSĐP một mặt phải nhận trợ cấp từ NSTW,
mặt khác chính quyền Địa phương phải tiến hành các biện pháp vay nợ để bù
đắp thiếu hụt Ngân sách. Cả hai biện pháp này đều dẫn tới sự phụ thuộc của
chính quyền Địa phương vào Chính phủ Trung ương thông qua việc cân đối
trợ cấp và xem xét việc cho vay nợ. Thực chất cấp NSĐP không phải là một
cấp Ngân sách đầy đủ vì chưa đủ nguồn thu để cân đối mà phải nhận trợ cấp
từ trên xuống.
Ở Việt Nam theo hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy
định có 4 cấp hành chính là: Trung ương, Tỉnh (Thành phố trực thuộc TW);
Huyện, quận, thị xã (thành phố trực thuộc tỉnh); Xã, phường và thị trấn. Nói
tóm lại, tổ chức hành chính gồm: Chính quyền trung ương; chính quyền Địa
phương (tỉnh, huyện, xã). Ở mỗi cấp vẫn tồn tại UBND và HĐND; trong đó
HĐND có nhiệm vụ ra nghị quyết về kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội và
Ngân sách. Về tổ chức hệ thống NSNN qua nhiều lần phân cấp, bổ sung, sửa
đổi, thực tế hiện nay theo quy định tại điều 4 của Luật NSNN thì Ngân sách
Nhà nước gồm: Ngân sách Trung ương và Ngân sách Địa phương (NSĐP bao
gồm Ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND).
Trong hệ thống NSNN, NSTW chi phối phần lớn các nguồn thu và
khoản chi quan trọng, là Ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn
tài chính quốc gia và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu có tính chất huyết mạch
của cả nước. NSTW phản ảnh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ
đạo trong hệ thống NSNN, nó cấp phát kinh phí cho yêu cầu yêu cầu thực
hiện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trung ương và là trung
tâm điều hoà hoạt động của NSĐP. NSĐP là tên chung để chỉ các cấp Ngân
sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các


11
cấp, được giao nhiệm đảm nhận các khoản thu và nhiệm vụ chi có tính chất
Địa phương (phản ảnh nhiệm vụ thu chi theo vùng lãnh thổ), đảm bảo tổ chức

Vị trí độc lập của NSĐP được thể hiện ở các cấp chính quyền có quyền
độc lập, chấp hành và quyết toán Ngân sách cấp mình trên cơ sở chính sách,
chế độ đã ban hành. Chính quyền Địa phương được phép ban hành quy định
về một số khoản thu (phí, lệ phí và các khoản đóng góp…) tuỳ theo yêu cầu
phát triển Kinh tế - Xã hội mà ban hành một số chính sách chi. Mặt khác;
chính quyền Địa phương phải chủ động sáng tạo trong việc động viên khai
thác các thế mạnh của Địa phương để tăng nguồn thu, đảm bảo chi, thực hiện
cân đối Ngân sách.
Tổ chức bộ máy của Nhà nước ta là thống nhất từ Trung ương xuống Địa
phương. Nguồn lực tài chính quốc gia được sáng tạo ra từ trong một nền kinh tế
thống nhất được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia nên NSNN (bao
gồm NSTW và NSĐP) là thể thống nhất bao gồm toàn bộ các khoản thu và các
khoản chi của Nhà nước trong một năm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước. Sự thống nhất này khác với các nước khác ở chỗ là dự toán và
quyết toán Ngân sách hàng năm bao gồm tất cả các khoản thu, chi của NSTW và
NSĐP. Dự toán và quyết toán Ngân sách hàng năm của NSĐP bao gồm tất cả
các khoản thu, chi của Ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và Ngân sách cấp xã.
Tóm lại: Tổ chức hệ thống NSNN như đã trình bày ở trên, dù ở mô hình
hệ thống hành chính nào thì vẫn tồn tại sự phân cấp NSNN, đó là sự cần thiết
tất yếu và là yếu tố quan trọng để chính quyền Địa phương thực hiện công
cuộc phát triển Kinh tế - Xã hội của mình.
1.1.2. Phân cấp quản lý NSNN
1.1.2.1. Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Phân cấp quản lý NSNN được hiểu là việc xác định phạm vi trách nhiệm
và quyền hạn của chính quyền nhà nước ở mỗi cấp trong việc quản lý điều


13
hành thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân sách nhà nước. Thực chất của phân cấp
nhà nước là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cả về quyền hạn

1.1.2.2.1. Thẩm quyền ngân sách: là sự phân định quyền hạn, trách
nhiệm của Chính phủ và chính quyền địa phương trong các vấn đề chủ yếu
của ngân sách như: quyết định dự toán; phân bổ dự toán ngân sách; phê chuẩn
quyết toán ngân sách: quyết định dự toán; phân bổ dự toán ngân sách; phê
chuẩn quyết toán ngân sách; điều chỉnh dự toán ngân sách; ban hành chế độ,
tiêu chuẩn định mức về ngân sách.
a) Quốc hội: làm luật và sửa đổi luật trong lĩnh vực ngân sách nhà nước;
Quyết định phân cấp quản lý tài chính, tiền tệ quốc gia để góp phần phát triển
kinh tế, bảo đảm cân đối thu, chi ngân sách nhà nước; Quyết định dự toán
ngân sách nhà nước với tổng số thu, tổng số chi, mức bội chi và các nguồn bù
đắp; Quyết định phân bổ ngân sách nhà nước theo từng loại thu, từng lĩnh vực
chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ;
Quyết định danh mục các chương trình, dự án quốc gia, các công trình xây
dựng cơ bản quan trọng được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước; Quyết
định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước trong trường hợp cần thiết; Giám
sát việc thực hiện ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý tài chính, tiền tệ quốc
gia, Nghị quyết của Quốc hội về ngân sách nhà nước hàng năm, các chương
trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng; Phê chuẩn
quyết toán ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào quyết định của Quốc hội về ngân sách nhà nước hàng năm,
Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định phương án phân bổ
ngân sách Trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ sung từ ngân sách
Trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chính phủ
trình và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất.


15
b) Các cơ quan của Quốc hội: có trách nhiệm giúp Quốc hội trong thực
hiện pháp luật về ngân sách nhà nước, trong đó:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội: ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực

lý ngành và địa phương trong việc thực hiện ngân sách nhà nước; Tổ chức và
kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước, báo cáo Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, các chương
trình, dự án quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan trọng; Quy định
nguyên tắc, phương pháp tính toán việc bổ sung nguồn thu từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới; Quy định chế độ sử dụng khoản dự phòng ngân
sách nhà nước và quản lý quỹ dự trữ tài chính; Quy định hoặc uỷ quyền cho
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức
chi ngân sách nhà nước để thi hành thống nhất trong cả nước; Kiểm tra Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách.
d) Nhiệm vụ, quyền hạn và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà
nước trong lĩnh vực NSNN
- Đối với Bộ Tài chính
+ Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực tài
chính - NSNN trình Chính phủ; ban hành các văn bản pháp quy về tài chính NSNN theo thẩm quyền. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng
thống nhất phân cấp quản lý ngân sách nhà nước về công tác thu thuế, phí, lệ phí
và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước; Thống nhất quản lý các khoản
vay và trả nợ của Chính phủ, quản lý tài chính các nguồn viện trợ quốc tế.
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước; tổ chức thực
hiện thu ngân sách nhà nước và cấp phát các khoản chi của ngân sách nhà
nước; cho vay ưu đãi hoặc hỗ trợ tài chính đối với các dự án chương trình
mục tiêu kinh tế của Nhà nước theo quy định của Chính phủ.


17
+ Hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, cơ quan khác ở Trung ương và các địa
phương xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; chủ động phối hợp
với các cơ quan hữu quan ở Trung ương và địa phương lập dự toán ngân sách
nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách
Trung ương trình Chính phủ; đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện phân cấp

lập, phân bổ và quyết toán ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ
trách; nhất là các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quan trọng: Bộ Giáo dục - Đào
tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá Thông tin,…
+ Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra theo dõi tình hình thực hiện ngân
sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
+ Báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành,
lĩnh vực phụ trách theo chế độ quy định.
+ Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng chế độ, tiêu chuẩn định
mức chi ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
- Hội đồng nhân dân: Quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa
phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; Quyết định các chủ
trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; Quyết định điều
chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; Giám sát việc
thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định. Đối với Hội đòng
nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định thu một số khoản thu về phí, lệ phí,
các khoản phụ thu theo quy định của Chính phủ trong trường hợp có nhu cầu
đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách tỉnh đảm
bảo mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách tỉnh thì được phép huy động
vốn đầu tư trong nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ để đầu tư.
- Uỷ ban nhân dân: Lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa
phương, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính
Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
1.1.2.2.2 Phân định nội dung cụ thể về từng nguồn thu, nhiệm vụ chi


19
giữa các cấp ngân sách: là sự phân chia giữa ngân sách Trung ương (NSTW)
và ngân sách địa phương (NSĐP) cũng như giữa các cấp ngân sách địa phương
về nguồn thu và nhiệm vụ chi. Nói cách khác, đó là sự xác định NSTW được

thu từ quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh (theo quy định của Nghị định
60/2003/NĐCP ngày 6/6/2003, Điều 58); Viện trợ không hoàn lại của các tổ
chức cá nhân nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo qui định của pháp luật.
Phần nộp ngân sách theo qui định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí
do các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu
và lệ phí trước bạ; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; Phần
nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các
đơn vị do địa phương quản lí. Huy động từ các tổ chức cá nhân theo quy định
của pháp luật; đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân ở trong và ngoài
nước; Thu từ huy động xây dựng.
Các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật
ngân sách nhà nước; thù từ kết dư ngân sách địa phương; Các khoản phạt, tịch
thu và thu khác của ngân sách địa phương theo qui định của pháp luật; thu bổ
xung từ ngân sách cấp trên; thu chuyển nguồn từ ngân sách địa phương năm
trước sang ngân sách địa phương năm sau.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách Trung ương và
ngân sách địa phương
Do điều kiện kinh tế - xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau,
trình độ phát triển không đều, do đó, số thu và yêu cầu chi của các địa phương
không giống nhau. Vì vậy, ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng 100%
nêu trên. Luật ngân sách năm 2002 ở nước ta cũng quy định có một số khoản
thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách các cấp Trung ương và địa phương
(tỉnh, thành phố). Các khoản đó là: thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị
gia tăng hàng hoá nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số
kiến thiết; Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status