vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự - Pdf 49

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.......................................................................................5
1.1 Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước và hoạt động tố tụng.........................5
1.1.1 Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước...........................5
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động kiểm sát trong hoạt động tố tụng...............................9
1.2 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự...............................10
1.2.1 Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự..............................10
1.2.2 Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tố tụng tại Tòa án.................................................................................................13
1.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các
giai đoạn phát triển...........................................................................................................14
1.3.1 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng từ năm 1945 đến
1960...............................................................................................................................14
1.3.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự từ năm 1960
đến năm 1989................................................................................................................16
1.3.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng dân sự từ năm 1989
đến nay..........................................................................................................................18
1.4 Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo pháp luật một số
nước trên thế giới..............................................................................................................21
1.4.1 Vị trí vai trò của Viện công tố Pháp trong tố tụng dân sự...................................21
1.4.2 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Liên Bang Nga trong tố tụng dân sự.................22
1.4.3 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc trong tố tụng dân sự......23
1.4.4 Vị trí, vai trò của cơ quan Công tố Hoa Kỳ trong tố tụng dân sự.......................25
1.4.5 Vị trí, vai trò cơ quan Công tố Nhật Bản trong tố tụng dân sự...........................26
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH......................................................................................28
2.1 Kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự........................................................................28
2.1.1 Hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm..............28
2.1.1.1 Kiểm sát hoạt động thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm..................................28
2.1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm.................31

3.1.2 Những vướng mắc qua thực tiễn áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự......................................................................................................66
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự............................................................................71


1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Những năm vừa qua Đảng và nhà nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới cải
cách toàn diện về nhiều mặt từ kinh tế, xã hội đến pháp luật, nhằm xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, một
trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp,
đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, xác định rõ nhiệm vụ quyền hạn
cho các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước nói chung và
các cơ quan tư pháp nói riêng hoạt động có hiệu quả, trong đó việc hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tập trung thực hiện tốt chức năng
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là một đòi hỏi có tính cấp bách và chiến
lược. Điều này đã được khẳng định một lần nữa tại Nghị quyết đại hội lần thứ X:
“Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Nhận thức
rõ được tầm quan trọng của nhiệm vụ trên, trong những năm qua để dần hoàn thiện
và thực hiện tốt chức năng của mình Viện kiểm sát nhân dân đã tiến hành nhiều
công tác kiểm sát khác nhau trong đó có công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ
việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các việc
khác theo quy định của pháp luật (gọi chung là các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng)
theo trình tự tố tụng dân sự.
Trên cơ sở cải cách tư pháp, tại kỳ họp thứ 5, diễn ra từ ngày 11/5 đến ngày
15/6 năm 2004, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (có hiệu lực

Những năm qua, nhằm thực hiện hóa chủ trương về cải cách tư pháp, đã có
một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này được công bố trên sách báo,
tạp chí chuyên ngành; các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ, các giáo trình giảng dạy pháp
luật liên quan có đề cập tới vấn đề này.
Có thể kể đến như: Hoàng Thế Anh_Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam (Luận
văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2006); Đỗ Văn Đương_Cơ quan thực hành quyền
công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay (tạp chí chuyên ngành, Hà Nội,
2006); Giáo trình kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự, Trường đào tạo các chức
danh tư pháp, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2004; Giáo trình luật tố tụng dân sự
Trường đại học luật Hà Nội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007; Giáo trình luật tố tụng
dân sự, trường đại học luật TP.HCM, NXB Hồng Đức, 2012; ; Phạm Vũ Ngọc
Quang_Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, tạp chí kiểm sát số
4/2005; Lưu Mỹ Linh_Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp
Huyện, luận văn thạc sĩ, 2009; Nguyễn Thị Minh Trang_Nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố, luận văn thạc sĩ, 2011….
Tuy nhiên với những đề tài và bài viết trên các tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu, phân tích đến một số vai trò nhất định có liên quan đến vai trò của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự, về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân nói chung, do vậy cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu


3

một cách toàn diện và có hệ thống về “vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự”. Mặc dù vậy, các công trình, giáo trình và bài viết trên đây, sẽ là những
tài liệu có giá trị tham khao giúp khóa luận được hoàn thiện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sự tham gia của Viện kiểm sát

4

5. Những đóng góp khoa học của khóa luận:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự: xây dựng khái niệm và làm rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát nhân dân trong từng thủ tục, giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự theo
các quy định của pháp luật hiện hành.
Phân tích làm rõ thực trạng về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự thể hiện trong các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành, so sánh và đưa ra được những điểm mới so với các quy định trước đây (thời
điểm mới ban hành BLTTDS chưa được sửa đổi bổ sung vào năm 2011) và những
bất cập đang tồn tại.
Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra những kiến nghị, giải pháp cụ
thể để hoàn thiện pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân
sự, nhằm đi đến hoàn thiện bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng dân sự.
6. Ý nghĩa của khóa luận:
Kết quả khóa luận góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận về pháp luật
nói chung và lý luận về hoàn thiện pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự nói riêng.
Khóa luận có thể dung làm tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên cứu và học
tập cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự.
Chương II: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật hiện hành.
Chương III: Thực trạng và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự.


pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân. Trên nền tảng đó, bộ máy nhà nước
ta được thành lập trên cơ sở thống nhất không có sự phân chia quyền lực mà là sự
phân công quyền lực, phối hợp hoạt động giữa ba nhánh quyền Lập pháp, Hành
pháp và Tư pháp và để quyền lực nhà nước trên cả 3 nhánh quyền lực có được sự


6

cân bằng dân chủ thì vấn đề đặt ra ở đây chính là phải có một cơ chế kiểm tra, giám
sát các hoạt động đó một cách chặt chẽ. Đầu tiên, Quốc hội với tư cách là cơ quan
quyền lực cao nhất của Nhà nước là đại biểu đại diện của toàn thể nhân dân lao
động sẽ thực hiện quyền giám sát chung của mình đối với tất cả các hoạt động của
bộ máy nhà nước; tiếp theo trên các phương diện cụ thể của mỗi nhánh quyền lực sẽ
phải có cơ chế tự giám sát và giám sát lẫn nhau, làm cho quyền lực được cân bằng;
và quan trọng là nhánh quyền lực Tư pháp phải có được sự độc lập bởi cơ quan
trung tâm của nhánh quyền lực này chính là Tòa án nhân dân, chủ thể sẽ “cầm cân
nảy mực” đưa ra các phán quyết quyết định đến quyền lợi của nhân dân, nên cần có
sự chính xác trong việc xét xử, áp dụng đúng pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, lợi ích chung của Nhà nước và toàn xã hội. Vì vậy, để
đảm bảo cho sự công bằng này không chịu tác động trước sự lạm quyền của bất kỳ
cá nhân, cơ quan, tổ chức quyền lực nhà nước nào, hay có bất kỳ sự vi phạm pháp
luật nào, thì sự giám sát của một cơ quan độc lập trong quá trình hoạt động của Tòa
án là vô cùng quan trọng. Nhận thức rõ điều đó Hồ chủ tịch và Đảng cộng sản Việt
Nam đã sớm thành lập cơ quan Công tố (tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân ngày
nay) cùng với các cơ quan chuyên chính khác như: Quân đội, Tòa án, Công an…
Ban đầu, tuy là bộ phận nằm trong hệ thống Tòa án, nhưng cơ quan Công tố hoạt
động hoàn toàn độc lập không lệ thuộc vào Chánh án mà trực thuộc Bộ tư pháp và
thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát:
Theo từ điển Luật học: “giám sát là sự theo dõi quan sát hoạt động mang tính
chủ động, thường xuyên liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích tực

nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo
pháp luật.
Cho đến nay, VKSND đã trở thành cơ quan hoạt động tập trung ở hai nhiệm
vụ: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Điều đó cho thấy
ngay từ khi thành lập bộ máy nhà nước Hồ chủ tịch đã nghiên cứu và tổng kết thực
tiễn xây dựng cơ quan Công tố từng là bộ phận nằm trong hệ thống Tòa án, sau đó
là cơ quan trực thuộc Chính phủ, cuối cùng người đã lựa chọn tư tưởng của Lê-nin
về bộ máy Nhà nước Xã hội chủ nghĩa để xây dựng VKSND có vị trí độc lập. Tổng
kết hơn 50 hoạt động VKSND đã góp phần to lớn vào việc đấu tranh có hiệu quả
đối với mọi loại tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp
luật, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế
xã hội2.
Vị trí của VKSND trong bộ máy nhà nước ta được quy định bởi các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam
được ghi nhận trong Hiến pháp. Bên cạnh Quốc hội, bộ máy nhà nước Việt Nam
còn có ba hệ thống cơ quan quan trong khác, trong đó có hệ thống cơ quan kiểm sát

2 Lê Thành Dương: “Chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam”, tạp chí kiểm sát số 13
(tháng 7/2012), trang 35.


8

(Viện kiểm sát nhân dân các cấp_Điều 127 Hiến pháp). Viện kiểm sát nhân dân hiện
nay ở Việt Nam là một hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất.
Tính thống nhất của nó được thể hiện ở hệ thống tổ chức gồm 3 cấp:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (hiện có 63 VKSND cấp tỉnh); Viện kiểm sát nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 691 VKSND cấp huyện tại 691 quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).


pháp luật và lợi ích của nhân dân được tôn trọng và phát huy trên thực tế, góp phần
ổn định tình hình xã hội, thúc đẩy sự phát triển hội nhập kinh tế quốc tế của đất
nước thì ta phải trang bị cho VKSND một vị trí đứng, và một quyền lực thực sự
hoàn toàn độc lập chỉ đứng trên lập trường của mình để làm việc.
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động kiểm sát trong hoạt động tố tụng
Viện kiểm sát nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp khác là công cụ hữu
hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các
loại tội phạm và vi phạm, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh
tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, trong hoạt động tố tụng
của Tòa án không thể thiếu sự tham gia kiểm tra, giám sát của VKSND. Nhiệm vụ
này lại càng trở nên quan trọng hơn, khi mà Việt Nam đang ngày càng phát triển và
mọi vấn đề đều có hai mặt của nó: hội nhập cùng với thế giới mang đến cho Việt
Nam những cơ hội vô cùng lớn để phát triển đất nước về mọi mặt từ kinh tế, chính
trị, giáo dục, khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng,…nhưng cũng mang đến cho chúng ta
những thách thức vô cùng lớn trong quá trình quản lý xã hội, quản lý đất nước.
Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện
chức năng kiểm tra giám sát quá trình tố tụng và áp dụng pháp luật của Tòa án
nhằm hạn chế sự lạm quyền của các chủ thể mang quyền lực công khi thực thi công
quyền. Hiện nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các vụ án dân sự
ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp nhiệm vụ này lại càng quan
trọng. Đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất là một
đòi hỏi khách quan xuất phát từ tính chất và mục đích của nhà nước xã hội chủ
nghĩa, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó vai trò của ngành kiểm sát là
không thể thiếu được.
Việc tham gia kiểm sát tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân có những ý nghĩa
rất lớn:
Đối vối hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói
riêng: Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của mình VKSND trong phạm vi

biệt, vì hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm của quá trình tố tụng, nên việc giữ
vững cho hoạt động này tránh những sai lầm, thiếu sót cũng chính là biểu hiện cụ
thể của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của VKSND không chỉ
giúp cho nền tư pháp trong sạch mà còn hướng đến việc xây dựng một nền tư pháp
vững mạnh, bảo đảm pháp chế hiện diện với đầy đủ ý nghĩa của nó.
1.2 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
1.2.1 Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự
Cơ quan tiến hành tố tụng dân sự là những cơ quan Nhà nước có chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói


11

riêng quy định nhằm thực hiện nhiệm vụ giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự; hoặc
kiểm tra giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động dân sự 3.
Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, VKSND là một trong
những cơ quan tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng để thực hiện chức năng kiểm tra,
giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố tụng dân sự. Điều 20
Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc
giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và
những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ
án đúng pháp luật, kịp thời”.
Khi tham gia tố tụng với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng VKSND thực
hiện những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định, theo quy định của pháp luật
hiện hành được xác định như sau:
VKSND kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hoạt động của những người tiến hành
và tham gia tố tụng từ thủ tục sơ thẩm đến thủ tục phúc phẩm.
Tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến, theo quy định tại Điều 21 BLTTDS
2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011(sau đây gọi tắt là BLTTDS) đã quy định rõ những
nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tâm thần;
tham gia phiên tòa phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Viện kiểm sát không thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự là thẩm quyền
đã được quy định cho Viện công tố và Viện kiểm sát trong 34 năm từ năm 1950 đến
năm 2004…) mà một trong những phương thức hoạt động chủ yếu là phải tập trung
kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết và xử lý vụ việc dân sự của Toà án để
góp phần đảm bảo các quyết định này có căn cứ và hợp pháp.
Về phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm (Điều 234
BLTTDS) đã có sự sửa đổi cơ bản về nội dung quyền phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát tại phiên toà. Theo đó, Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử; đối với những người tham gia tố tụng dân sự Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về
việc chấp hành pháp luật, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án. Như vậy, tại phiên toà sơ thẩm Viện kiểm sát không có quyền đưa ra
quan điểm, đường lối giải quyết vụ án về nội dung; ý kiến phát biểu của Viện kiểm
sát chỉ đánh giá có vi phạm hay không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự.
Về phạm vi kiểm sát: Điều 21 BLTTDS quy định VKSND kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng
nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự
kịp thời, đúng pháp luật. Luật sửa đổi bổ sung đã mở rộng phạm vi kiểm sát, Viện
kiểm sát thực hiện kiểm sát ngay từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện của đương sự.
Trường hợp phát hiện những vụ, việc dân sự Tòa án trả lại đơn khởi kiện không
đúng với quy định tại Điều 168 BLTTDS (sửa đổi), thì Viện kiểm sát có trách nhiệm
kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp và Chánh án Tòa án cấp trên theo
quy định tại Điều 170 của BLTTDS (sửa đổi) để khắc phục.


13

Với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng và với các quy định mở rộng

5 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001
6 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002.
7 Điều 1, 3, 4 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự năm 2012


14

Với chức năng đó hiện nay, VKSND có thể được xem là một thiết chế song
hành cùng với Tòa án và cơ quan thi hành án trong quá trình tố tụng, Viện kiểm sát
sẽ tham gia từ khi bắt đầu quá trình tố tụng (thụ lý đơn, lập hồ sơ vụ án) cho đến khi
Tòa án ra bản án có hiệu lực pháp luật và được cơ quan thi hành án đem ra thi hành
nhằm giúp phát hiện, sửa chữa, khắc phục những sai lầm xảy ra khi các chủ thể
mang quyền lực thực thi công quyền do khách quan hoặc chủ quan đem lại.
1.3 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
1.3.1 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng từ năm
1945 đến 1960
Theo Hiến pháp 1946 và các sắc lệnh có liên quan cho thấy, Tòa án là một hệ
thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy Nhà nước và là một cơ quan được giao
cả quyền công tố và xét xử. Tuy không thành lập cơ quan Công tố độc lập mà chỉ tổ
chức cơ quan Công tố trong cơ cấu, bộ máy của hệ thống Tòa án, nhưng cơ quan
Công tố hoạt động độc lập, không lệ thuộc vào Chánh án mà trực thuộc Bộ tư pháp,
đây cũng chính là cơ quan tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân sau này.
Ngày 20/7/1946 Sắc lệnh 131 ban hành bổ khuyết, sửa đổi Sắc lệnh số 51
ngày 17/4/1946 đã quy định rõ nhiệm vụ của Công tố viên, Điều 26 của Sắc lệnh
quy định “Công tố viên Tòa án tỉnh bắt buộc phải có mặt tại các phiên tòa hình và
hộ”. Theo Điều 22 Sắc lệnh 131, Nghị định 11 ngày 6/3/1948, đặt một hệ thống tổ
chức Công tố viên tại mỗi Hội đồng phúc án, Công tố viên chỉ có trong Tòa đệ nhị
cấp, tham gia giải quyết cả việc hình và hộ. Công tố viên trong giai đoạn này, có
nhiệm vụ giám sát việc tuân theo pháp luật và điều hành công việc của tư pháp công

phát triển chế định Công tố, đặc biệt đã dần quan tâm đến sự quan trọng của các
quan hệ dân sự trong quá trình xét xử của Tòa án bên cạnh các quan hệ hình sự.
Vai trò của VKSND trong quá trình tố tụng đã được Hiến pháp 1946 và các
Sắc lệnh, Nghị định sau đó khẳng định, nhưng do buổi ban đầu của quá trình xây
dựng lại đất nước, còn phải đối mặt với vô vàn khó khăn thử thách, thù trong giặc
ngoài, nên việc xây dựng cơ quan này thành một hệ thống còn chưa được thực hiện.
Tuy nhiên, sau khi cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thắng lợi, Đảng và Nhà
nước ta đã nhận thấy cần phải phát triển nền tư pháp nước nhà, một công cụ không
thể thiếu của một quốc gia nếu muốn đứng vững và trấn át được kẻ thù, đồng thời
ổn định xã hội, đưa đất nước phát triển. Vào cuối những năm 1950, tổ chức của
Viện công tố lại được kiện toàn và tăng cường một bước quan trọng: Thực hiện
Nghị quyết ngày 29/4/1958 của Quốc hội khóa I và Nghị định số 256/TTg ngày
01/7/1959 của Chính phủ Viện công tố được tổ chức thành các hệ thống độc lập,
tách khỏi Bộ tư pháp và trực thuộc Chính phủ. Để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tài sản
xã hội chủ nghĩa, Nghị định số 256 đã quy định rất rõ ràng về quyền hạn của Viện
công tố: “Giám sát việc chấp hành pháp luật của Tòa án; Viện công tố có quyền
khởi tố vụ án dân sự và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên
quan đến lợi ích Quốc gia”. Hệ thống Viện công tố gồm: Viện công tố Trung ương,


16

Viện công tố địa phương các cấp, Viện công tố quân sự các cấp và trong mỗi viện sẽ
quy định các chức danh khác nhau.
Như vậy, xét riêng về lĩnh vực dân sự thời kỳ này có thể nhận thấy dù còn một
số hạn chế như: Nghị định 256 chỉ quy định về việc Viện công tố tham gia tố tụng
trong những vụ dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích quốc gia, còn chưa đề cập
đến những vụ án dân sự liên quan đến lợi ích của nhân dân lao động, lợi ích công
cộng khác… nhưng nhìn chung đây cũng là những bước tiến vô cùng quan trọng
làm tiền đề cho sự phát triển về sau của Viện công tố trong lĩnh vực tố tụng dân sự.

Kiểm sát nhân dân. Khác với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 xác định rõ chức
năng của Viện kiểm sát nhân dân: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị
quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và các biện pháp của các cơ quan thuộc Hội
đồng chính phủ, và cơ quan nhà nước địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của nhân viên cơ quan nhà nước và nhân dân,…kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc xét xử của TAND và trong việc chấp hành các bản án,….khởi tố
hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà
nước và của nhân dân. Hiến pháp đồng thời còn quy định: Viện kiểm sát nhân dân
các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo
thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Có thể thấy theo quy định của Hiến
pháp 1959 Viện kiểm sát nhân dân đã được tổ chức thành một hệ thống thống nhất,
độc lập với cơ quan xét xử và cơ quan hành chính, chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo
trước Quốc hội. Ngoài việc thừa kế chức năng công tố và quyền giám sát tư pháp
của Viện công tố giai đoạn trước VKSND thời kỳ này còn được Nhà nước giao cho
thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát chung) trên các
lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp. Sau khi Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân được triển khai VKSND đã được tổ chức thành một hệ
thống từ Trung ương đến các đơn vị hành chính cấp huyện, hoạt động theo nguyên
tắc tập trung thống nhất dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao.
Tiếp sau đó là Nghị quyết 01/1965 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và chỉ thị số 27/CT, 28/CT xác định đẩy mạnh công tác kiểm sát, phục vụ bảo
vệ tài sản của tập thể của Nhà nước trong tình hình mới. Viện kiểm sát đóng vai trò
quan trọng trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung và kiểm sát dân
sự nói riêng. Trong công tác kiểm sát dân sự, đã mở rộng việc tham gia của Viện
kiểm sát vào kiểm sát các vấn đề về hôn nhân gia đình, tham gia giải quyết các vụ
việc bảo vệ tài sản chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn 1960-1964 Viện kiểm sát tham gia
bảo vệ thực hiện chế độ hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng…
Nhìn vào giai đoạn này ta có thể thấy vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự
không ngừng được củng cố. So với Viện công tố trước đây với những quy định ban

chức năng nhiệm vụ của VKSND theo Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân.
Đến đầu những năm 1990 chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu xụp
đổ, tan rã dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện sậu sắc của các nước xã hội chủ
nghĩa đã đặt nước ta đứng trước những khó khăn nhất định, lợi dụng thời cơ các thế
lực thù định đã câu kết với các phần tử phản động trong nước tìm mọi cách chống
phá cách mạng nước ta. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta vẫn kiên
quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội,
ban hành ra Hiến pháp 1992. Chế định Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp
1992 ghi nhận tại Chương X gồm 5 điều (Điều 126, 137, 138, 139, 140) quy định về


19

vị trí chức năng, nhiệm vụ, hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân, sự giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân. Các quy định của Hiến pháp 1992 về VKSND thể hiện bước đổi mới quan
trọng đối với các bản Hiến pháp trước đây. Theo đó, một mặt tiếp tục khẳng định
chế độ làm việc theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, đề cao
tính độc lập của VKSND đối với các cơ quan nhà nước; Mặt khác, kết hợp với
nguyên tắc bàn bạc tập thể khi quyết định những vấn đề quan trọng. Trên cơ sở các
quy định của Hiến pháp 1992, ngày 02/4/1992 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
được Quốc hội ban hành cùng với pháp lệnh về tổ chức Viện kiểm sát quân sự, Pháp
lệnh về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến
pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân đã có những nhiệm vụ
quyền hạn rộng hơn, liên quan đến chủ trương giữ vững trật tự, kỷ cương pháp luật,
tăng cường pháp chế trong điều kiện mới.
Tuy nhiên tại Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”, trên cơ sở quan
điểm chỉ đạo ngày 25/12/2001 Quốc hội thông qua Nghị quyết số 51 sửa đổi, bổ

lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (năm 1945), nay tiếp tục được khẳng định, kế
thừa, bổ sung, chỉnh lý sau khi đã được kiểm nghiệm, sàng lọc qua thực tiễn sống
động của đời sống xã hội9.
Trong tình hình hiện nay, công cuộc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh cải cách tư pháp đã và đang đặt ra
nhiều yêu cầu mới với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Đặc biệt
sau khi Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức của Viện kiểm sát đã được triền khai tổng kết và nhiều vấn đề đã được
Đảng kết luận, trong báo cáo kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW Bộ
chính trị khẳng định: “một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng xét xử các
vụ án dân sự thời gian qua còn thấp là chưa có cơ chế kiểm sát, giám sát hiệu quả
việc giải quyết các vụ việc này”. Đây là một vấn đề cần phải xem xét, và do đó, đến
năm 2011 Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung tiếp tục có những quy định
mới về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự 10. Bên cạnh
đó, Quốc hội cũng ban hành các đạo luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động tư pháp
như: Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự, Luật tố tụng hành chính…
Trong các đạo luật này đều tiếp tục khẳng định vai trò của Viện kiển sát nhân dân,
đồng thời cũng đặt trách nhiệm cao hơn cho VKSND trong việc kiểm sát các hoạt
động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tham gia đầy đủ, kiểm sát chặt
chẽ việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự của Tòa án và kiểm sát
chặt chẽ hoạt động thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

9 Nguyễn Ngọc Khánh: “Vị trí vai trò của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp”, tạp chí
kiểm sát số 01/2008, trang 23.
10 Đã được nêu và phân tích tại phần 1.2.1


21


hợp pháp luật quy định, Viện công tố có thể tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công
cộng khi có những hành vi xâm phạm trật tự công cộng. Viện công tố phải dự phiên
tòa dân sự trong những trường hợp Viện công tố tham gia tố tụng với tư cách là bên


22

đương sự chính, hoặc đại diện cho người khác hoặc trường hợp pháp luật quy định
Viện công tố phải có mặt tại phiên tòa. Các trường hợp khác, Viện công tố có thể
chuyển ý kiến của mình cho Tòa án bằng kết luận viết, Viện công tố khi tiến hành tố
tụng sẽ phát biểu cuối cùng. Viện công tố phải được thông báo về những việc dân sự
Tòa án thụ lý và giải quyết; nếu có tranh tụng, đại diện Viện công tố phải được tham
dự phiên tòa11.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp,
Viện công tố có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự với hai tư cách:
Thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố có
thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự, đưa yêu cầu giải quyết việc dân sự ra
trước Toà án (như đưa ra yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay là đã chết, đưa ra
yêu cầu Toà án chỉ định người quản lý di sản thừa kế…), hoặc tham gia tố tụng với
tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện; Thứ hai, với vai trò đại diện và
bảo vệ luật pháp, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc
thẩm), theo quy định tại Điều 618-1 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp quy định: Viện
trưởng Viện công tố bên cạnh Toà Phá án có quyền kháng nghị phá án (giám đốc
thẩm) trước Toà phá án vì lợi ích của luật và yêu cầu Viện công tố bên cạnh Toà án
đã ra bản án tống đạt kháng nghị cho các bên12.
1.4.2 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Liên Bang Nga trong tố tụng dân sự
Về vị trí trong bộ máy nhà nước: Viện kiểm sát Liên bang Nga có vị trí độc lập
với cơ quan hành pháp và tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung thống nhất, trên cơ sở các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng các Kiểm sát
viên cấp trên và tất cả đều phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga. Để đảm

Việc tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự nhằm bảo vệ lợi ích Nhà
nước, lợi ích công cộng. Mục đích hoạt động của Viện kiểm sát Liên bang Nga là
bảo đảm tính tối cao của pháp luật, sự thống nhất và củng cố pháp chế, bảo vệ
quyền tự do và các quyền khác của con người và của công dân, cũng như lợi ích của
xã hội và nhà nước được pháp luật bảo vệ13.
1.4.3 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc trong tố tụng
dân sự
Về vị trí trong bộ máy nhà nước: Theo quy định tại Điều 1 và Điều 3 Hiến
pháp Trung Quốc hiện hành, cơ quan Kiểm sát Trung Quốc được Hiến pháp quy
định có vị trí độc lập trong hệ thống cơ cấu nhà nước, chịu trách nhiệm và sự giám
sát trước Đại hội đại biểu nhân dân các cấp, điều này giúp cho việc thi hành quyền
kiểm sát độc lập theo pháp luật được thuận lợi, không chịu sự can thiệp của bất kỳ
cơ quan hành chính, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân nào. Trung Quốc là một
quốc gia đông dân và diện tích rộng vì vậy hệ thống Viện kiểm sát được tổ chức
theo 4 cấp và có nhiều Viện kiểm sát chuyên ngành gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (có địa vị ngang với Chính phủ) do Viện trưởng đứng đầu, có nhiệm vụ lãnh
13 Nguyễn Xuân Hà: “Giới thiệu về Viện kiểm sát và Viện công tố một số nước trên thế giơi”, tạp chí kiểm
sát số 14 (tháng 7/2007), trang 10.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status