BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ TRÍ THÀNH
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ
MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ TRÍ THÀNH
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ
MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 60380102
tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhiều cá nhân.
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi
lời cảm ơn đặc biệt tới Tiến sĩ Phạm Quý Tỵ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tư
pháp – người đã theo dõi và hướng dẫn sát sao, giúp tác giả có những định
hướng và kỹ năng nghiên cứu đúng đắn trong quá trình triển khai đề tài.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới ông Đặng Bình Giang - Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang; ông Đặng Quốc Phú - Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên - thủ trưởng đơn vị tác giả đang công tác
đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện về mọi mặt để tác giả hoàn thành chương trình
cao học một cách thuận lợi nhất.
Tác giả xin gửi lời tri ân tới các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình
đào tạo Thạc sĩ định hướng nghiên cứu Khóa 23 Trường Đại học Luật Hà Nội
đã trang bị cho tác giả những kiến thức nền tảng trong suốt hai năm đào tạo.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia
đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành Luận văn này.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
8
CHƯƠNG 2
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT
2.1. Vị trí, vai trò của Cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa theo Hiến pháp năm 1946 – tiền thân
của Viện kiểm sát nhân dân ngày nay.
2.1.1. Cơ quan công tố trong Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
năm 1945 đến năm 1958
2.1.1.1. Cơ quan Công tố của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
năm 1945 đến năm 1950
25
31
39
39
39
39
2.1.1.2. Cơ quan công tố của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
năm 1950 đến năm 1954
2.1.1.3. Cơ quan Công tố của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
sau khi hòa bình lập lại (giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1958)
2.1.2. Viện Công tố trong Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ
năm 1958 đến năm 1959
2.2. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namtheo Hiến pháp năm
54
57
67
68
68
69
76
3.2.
79
79
82
87
88
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, thiết chế Viện công tố, sau này là Viện kiểm sát nhân dân
ra đời và phát triển cùng với quá trình thành lập và phát triển của nhà nước
cách mạng. Kể từ khi thành lập đến nay, Viện kiểm sát nhân dân luôn được
khẳng định là cơ quan nhà nước độc lập trong bộ máy nhà nước. Trong thời
kỳ đầu của Chính quyền dân chủ nhân dân, theo Hiến pháp năm 1946, Viện
công tố vẫn tồn tại trong hệ thống tòa án; đến năm 1958 hệ thống cơ quan
Công tố được thành lập trực thuộc Chính phủ nên chưa hình thành hệ thống
dân đảm bảo phù hợp với chủ trương của Đảng đã được nêu trong Cương
lĩnh, các văn kiện khác của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII và các
Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong tình hình mới, bảo đảm
ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục khẳng định vai trò, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp. Hiến pháp làm rõ hơn nguyên tắc hoạt động của
Kiểm sát viên khi thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; sửa
đổi quy định về hệ thống tổ chức Viện kiểm sát cho phù hợp với chủ trương
cải cách tư pháp. Do đó, việc nghiên cứu tổng thể và có hệ thống về chế định
Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp 2013 hiện nay có ý nghĩa cả về
phương diện lý luận và phương diện thực tiễn, qua đó có cái nhìn toàn diện về
vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân
trong hệ thống các cơ quan Nhà nước. Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài: “Vị
trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp Nhà
nước, cấp Bộ, Luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư
pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân như Đề tài khoa học
"Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ
chức và hoạt động của Viện Công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư
pháp" năm 2006, "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các
thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà
3
nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến vị trí, vai trò, chức
năng, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát cũng như các những quan
điểm trong việc sửa đổi chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp
đã được nêu trong các bài viết, hội thảo khoa học để làm sâu sắc thêm các
luận điểm.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp
phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh, đối chiếu,
logic, bình luận...
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ
khoa học về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn… của Viện kiểm
6
sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
- Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Viện kiểm sát nhân
dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam và mô hình Viện kiểm sát nói chung
trên thế giới để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng trong
việc đổi mới Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp, đáp ứng yêu cầu của
cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
- Trên cơ sở tổng hợp số liệu qua nhiều nguồn xác thực, luận văn đánh
giá đúng thực trạng về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo quy định
của các bản Hiến pháp qua các thời kỳ.
- Phân tích các quan điểm, đề xuất hoàn thiện những điểm mới của
Hiến pháp 2013 về Viện kiểm sát nhân dân.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trong quá trình Hiến pháp năm 2013 đang
được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Kết quả nghiên cứu của luận văn
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1.
Khái quát sự hình thành và phát triển của Viện kiểm sát trong bộ
máy nhà nước
Nhà nước ra đời trên cơ sở tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy và
sau ba lần phân công lao động xã hội, là bộ máy chuyên chính của một giai
cấp. Nói cách khác, nhà nước ra đời khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia
giai cấp và đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được. Trong lịch sử nhà
nước và pháp luật, quyền lực nhà nước được tổ chức dưới nhiều hình thức
khác nhau, nó phụ thuộc vào loại hình chính thể nhà nước và điều kiện của
từng quốc gia. Có nhiều loại hình chính thể, nhưng tựu chung có ba loại hình
chính thể: Chính thể tập quyền, chính thể phân quyền và chính thể hỗn hợp.
Loại hình chính thể tập quyền chủ yếu tồn tại và gắn với một nền chính
trị chưa phát triển (chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến). Trong
chính thể tập quyền, quyền lực nhà nước tập trung trong tay Vua. Vua vừa là
nhà lập pháp, hành pháp và tư pháp, hay nói cách khác Vua là vị quan tòa cao
nhất. Tuy nhiên, để thực hiện quyền lực của mình, Vua vẫn phải tổ chức bộ
máy từ trung ương đến địa phương. Đối với hoạt động tư pháp, dù ở loại hình
chính thể nào cũng bao gồm các hoạt động giám sát, điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án. Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhiều yếu tố mà tổ chức và hoạt
động tư pháp có một số vấn đề khác nhau. Như vậy, cùng với sự xuất hiện của
Nhà nước, chức năng giám sát (Kiểm sát việc tuân theo pháp luật) và chức
năng buộc tội (Công tố) của Viện kiểm sát ngày nay cũng đã xuất hiện từ rất
sớm chỉ có điều tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau (có thể do một hay
nhiều chủ thể khác thực hiện), song Viện kiểm sát chính thức thực hiện chức
Cũng như phương Tây, các nhà nước phương Đông cổ đại như: Ai Cập,
các nhà nước ở Lưỡng Hà, nhà nước Ấn Độ, nhà nước Trung Quốc… chức
năng giám sát và chức năng công tố xuất hiện rất sớm. Trong nhà nước Ai
Cập, người đứng đầu nhà nước là nhà vua (Pharaoh). Vua có quyền bổ nhiệm,
bãi nhiệm, trừng phạt, quyết định mọi công việc của đất nước và là người xét
xử cao nhất. Cơ quan chuyên môn xét xử gồm 06 viện, đứng đầu là một Viên
1
Nông Xuân Trường (2005), “Vài nét về hệ thống tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố Anh – Mỹ”,
Thông tin khoa học pháp lý – một số chuyên đề về Cơ quan công tố một số nước, (3+4), tr. 88
10
Chưởng lý 2. Trong nhà nước Lưỡng Hà, Vua là người đứng đầu nhà nước,
nắm cả thần quyền và thế quyền, dưới vua là các đại thần giúp việc, có cơ
quan tư pháp chuyên trách, có hội đồng thẩm phán, có tòa án tối cao do Vua
điều khiển. Giống nhà nước Ai Cập và Lưỡng Hà, nhà nước Ấn Độ cổ đại là
nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền nên Vua là người đứng đầu và có
quyền uy rất lớn đồng thời dưới vua là một bộ máy quan lại từ trung ương đến
địa phương. Có thể nói, bộ máy nhà nước Ấn Độ cổ đại khá hoàn thiện và tiến
bộ. Đối với nhà nước cổ đại Trung Quốc, thời kỳ này là điển hình cho hình
thức nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông. Nhìn chung, nhà nước
phương Đông cổ đại được tổ chức theo hình thức quân chủ chuyên chế, vua là
người đứng đầu nhà nước, có quyền lực cao nhất về mọi mặt từ thần quyền,
thế quyền đến mọi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều tập trung trong
tay nhà Vua.
Trong chế độ phong kiến, để đảm bảo cho sự tập quyền và đảm bảo cho
sự bền vững quyền lực của mình trong hoạt động tư pháp, ngoài việc thực
hiện hoạt động điều tra, hoạt động xét xử, Vua đã tiếp tục xây dựng những
tên thành Đô Sát viện có chức năng kiểm soát quan lại và xét xử án kiện4.
Nhà Minh không tập trung quyền hành vào một chức quan mà tản ra nhiều cơ
quan như Lục bộ, Tam ti. Tam ti gồm Thừa Tuyên bố Chính sứ ti nắm quyền
quản lý hành chính, Đề Hình án Sát sứ ti nắm quyền tư pháp và Đô Chỉ huy
sứ ti nắm quyền chỉ huy quân sự. Tam ti do triều đình trực tiếp chỉ huy và
thường xuyên chịu sự giám sát của Đô Sát viện.
Ở Việt Nam, hệ thống kiểm tra và giám sát cũng được tổ chức từ rất
sớm. Ngay từ thời nhà Trần (1226 – 1400) đã lập chức quan Ngự sử đài để
thực hiện việc kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện những sai phạm để tâu lên
vua. Nhà Lê (1428 – 1527), Lê Thánh Tông đổi sáu bộ thành sáu viện và đi
liền với nó là sáu khoa chuyên trách kiểm tra, giám sát các Viện, đồng thời
còn có chức quan Ngự sử đài giống như đời nhà Trần. Đến nhà Nguyễn (1802
– 1858), năm 1804, Vua Gia Long thành lập Đô sát viện có chức năng như
Ngự sử đài trước đây, song về cơ cấu tổ chức thì Đô sát viện như là một bộ do
chức quan Đô ngự sử đứng đầu. Theo TS. Khuất Văn Nga: “Cách tổ chức Đô
sát viện năm 1804 cho phép nghĩ đến một hình thức cơ quan công tố nhà
nước chuyên trách lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta, làm cả chức năng giám
sát việc thực hiện quyền lực nhà nước.”5
3
Trần Văn Trung (2006), “Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân
nước CHND Trung Hoa”, Thông tin khoa học kiểm sát, (4+5), tr.3
4
Nguyễn Minh Tuấn (2007), Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới”, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.
152-155
5
Khuất Văn Nga (1993), Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, tr. 39
ai khác đó là Montesquieu. Theo đó, ông thừa nhận mỗi chính quyền đều có
ba loại quyền lực, song quyền thứ ba không phải là quyền liên bang mà là
quyền tư pháp. Điểm nổi bật và khác biệt của ông so với Locke và các nhà tư
13
tưởng khác là ông xây dựng quan hệ giữa ba nhánh quyền lực theo cơ chế
“kiềm chế và đối trọng” hay “quyền lực ngăn cản quyền lực”. Đồng thời ông
còn lý giải và đề cập khá đầy đủ, toàn diện, dứt khoát về chủ thể nắm giữ và
mối quan hệ giữa các quyền. Tiếp theo Montesquieu cũng có một số nhà tư
tưởng lớn cũng đề cập đến sự phân quyền như Rousseau, Kant. Phải thừa
nhận rằng, chưa có nhà tư tưởng nào trình bày, lý giải một cách đầy đủ, toàn
diện, cụ thể như Montesquieu. Do vậy, tư tưởng của ông trở thành hạt nhân
của học thuyết “Tam quyền phân lập”. Xuyên suốt các tư tưởng về phân
quyền đã hình thành nên học thuyết “Tam quyền phân lập”, đã cho thấy cốt
lõi của chính thể phân quyền đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp do
các cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhiệm tạo nên cơ chế kiềm chế đối
trọng và giám sát lẫn nhau. Như vậy, nếu trong loại hình chính thể tập quyền
thì hoạt động tư pháp nói chung và các hoạt động như chức năng của Viện
kiểm sát ngày nay (hoạt động giám sát và công tố) tập trung vào tay một
người thì đến loại hình chính thể phân quyền đã hình thành nên cơ chế kiềm
chế và đối trọng nên sự kiểm tra, giám sát được thực hiện bằng chính cơ chế
phân quyền đó và giữa các bộ phận quyền lực với nhau. Việc phân quyền
ngoài mục đích không để quyền lực tập trung vào một cơ quan hay một cá
nhân nào mà phân quyền còn tạo nên sự kiểm soát, chế ước lẫn nhau nhằm
tạo nên sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực đồng thời “chuyên môn hóa”
các quyền. Chính vì vậy, trong loại hình chính thể phân quyền, không có một
cơ quan nào chuyên trách đứng ra để thực hiện chức năng giám sát như chức
năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát trong loại hình chính thể hỗn hợp. Do
chủ nghĩa xã hội. Loại chính thể này là bước phát triển tiếp theo của nhân
loại, do vậy những quốc gia tổ chức bộ máy theo loại hình chính thể này tìm
cách chắt lọc những hạt nhân tích cực, những yếu tố hợp lý đồng thời loại bỏ
những yếu tố tiêu cực của chính thể tập quyền và chính thể phân quyền để xây
dựng chính thể hỗn hợp. Khác với loại hình chính thể phân quyền, tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước trong thể chế hỗn hợp dựa trên cơ sở học
thuyết Mác – Lênin, được trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “Bàn về chế độ
trực thuộc song trùng và pháp chế”. Vấn đề Lênin nêu ra không chỉ áp dụng
cho riêng nước Nga mà đây là vấn đề nêu ra áp dụng cho tất cả các nước mà
tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở học thuyết Mác – Lênin, trong đó có cả
nước ta. Với nguyên tắc quyền lực nhà nước tập trung thống nhất, không phân
chia nhưng có sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan. Ở đây, quyền lực
6
Douglas K. Stevenson (2000), Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 76-77
15
nhà nước tập trung thống nhất nơi nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của
quyền lực nhà nước. Tính thống nhất bao gồm cả sự phân công và sự phân
công đó đương nhiên nằm trong một thể thống nhất của quyền lực thống nhất
(Quốc hội cử ra Chính phủ, cử ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Như vậy, dù là quyền lập pháp, hành
pháp hay tư pháp cũng đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền nên có chung
mục tiêu vì nhân dân. Tuy nhiên, để tổ chức thực hiện quyền lực của mình,
nhân dân giao quyền lực cho cơ quan quyền lực cao nhất do mình bầu ra đó là
Quốc hội. Quốc hội không thể thực hiện được tất cả quyền lực mà thông
thường thực hiện một số quyền như: Lập ra các cơ quan nhà nước, giám sát
tối cao, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Đối với
quyền lực và nguyên tắc đảng lãnh đạo.
Qua xem xét, phân tích ba loại hình chính thể nêu trên, có thể phác họa
nên con đường hình thành và phát triển của Viện kiểm sát. Trong loại hình
chính thể tập quyền (Nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến) hệ
thống tổ chức kiểm tra, giám sát (gọi chung là Ngự sử đài) có tên gọi, cách
thức tổ chức, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn về cơ bản
giống nhau; tùy thuộc từng thời kỳ, từng quốc gia, từng triều đại mà có những
nét đặc trưng riêng. Trong thời kỳ nhà nước chiếm hữu nô lệ chỉ có một chức
quan thực hiện việc giám sát gọi là “Tai mắt của Vua”. Ở thời kỳ phong kiến,
Ngự sử đài làm “Cánh tay nối dài của Vua” chịu trách nhiệm kiểm tra, giám
sát quan lại từ trung ương đến địa phương; nhận đơn kiện và xét xử những
đơn kiện; kiểm tra định kỳ việc giải quyết các vụ án đã giải quyết, phúc duyệt
các án tử hình; làm giám thị trường thi; đặc biệt can ngăn Vua và thực hiện
nhiệm vụ khác do vua phân công. Ngự sử đài luôn có vị trí, vai trò độc lập,
không chịu sự kiểm soát của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước mà chỉ
hoạt động trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Vua. Cơ qaun này đã thể hiện tính
sáng tạo và có ý nghĩa sâu sắc trong tổ chức, vận hành bộ máy nhà nước. Ngự
sử đài là một thiết chế kiểm tra, giám sát nhằm bảo vệ lợi ích của Vua nhưng
thực chất chỉ do một người nắm giữ nên cũng còn nhiều hạn chế. Như vậy,
qua xem xét vị trí, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, có thể xem đây là
một hình thức phôi thai của cơ quan Viện kiểm sát ngày nay.
Đối với loại hình chính thể phân quyền hầu hết được áp dụng ở nước tư
bản cho nên vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Viện kiểm
sát cơ bản giống nhau. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội cũng
như truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau dẫn tới có đôi chút
khác biệt chủ yếu ở mức độ, hình thái can thiệp để giám sát lẫn nhau. Nhà
nước tư bản tổ chức bộ máy trên nguyên tắc phân quyền, áp dụng triệt để cơ
17
Lê Hữu Thể (2000), Về vị trí và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta, Tạp chí
nhà nước và pháp luật, (7), tr. 10
9
Nguyễn Thái Phúc (2007), Viện kiểm sát hay Viện công tố, Kỷ yếu đền tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu
những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện công tố ở Việt
Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện khoa học kiểm sát, Hà Nội, tr. 75
18
điểm cố hữu trong chính thể phân quyền và tập quyền. Điểm khác cơ bản giữa
loại hình chính thể tập quyền và chính thể hỗn hợp là trong chính thể hỗn hợp
quyền lực tập trung, thống nhất nhưng không phải do một cá nhân nắm giữ
mà do một tập thể đảm nhiệm. Quyền lực mà tập thể nắm giữ và có được do
nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân nên tập thể này có quyền
lực cao nhất trong bộ máy nhà nước, đó chính là Quốc hội. Quốc hội là cơ
quan duy nhất do nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra đồng thời có quyền giám
sát việc sử dụng quyền lực nhà nước của tất cả các cơ quan nhà nước khác và
trên phạm vi toàn quốc. Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan mà Quốc hội giao quyền. Cơ quan đó
chính là Viện kiểm sát. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát
việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Như vậy, dù ở loại hình
chính thể nào, quốc gia nào trên thế giới việc ngăn chặn vi phạm pháp luật,
chống lại sự lạm quyền của các cơ quan công quyền, căn bệnh bản vị, cục bộ
địa phương… nhằm giữ gìn, duy trì và bảo vệ pháp chế là một yêu cầu cấp
thiết và khách quan. Và sẽ không quá nếu cho rằng nhu cầu bảo vệ pháp chế
thống nhất trở thành nguyên nhân ra đời của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, mỗi
quốc gia có những cơ chế giám sát khác nhau, không có sự sao chụp mà phải
dựa trên điều kiện cụ thể về mọi mặt của quốc gia đó để hình thành nên cơ
giá trị chung có tính phổ biến đó, những điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội;
truyền thống pháp luật, đặc biệt là yêu cầu của cuộc cách mạng ở nước ta đã
góp phần tạo nên tính đặc thù của mô hình Viện kiểm sát. Kể từ khi thành lập
cho đến nay, Viện kiểm sát nước ta luôn thể hiện trực tiếp bản chất của nhà
nước, là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước;
luôn khẳng định vị trí độc lập và khẳng định vai trò to lớn trong bộ máy nhà
nước:
Thứ nhất, Viện kiểm sát là bộ phận cấu thành trong bộ máy nhà nước,
là cơ quan nhà nước được sắp xếp độc lập, thiết lập riêng biệt, tự trở thành hệ
thống chứ không phải là cơ cấu phụ thuộc hoặc dưới quyền của cơ quan hành
chính hay cơ quan xét xử. Quan hệ của Viện kiểm sát với các cơ quan nhà
nước khác (ngoài cơ quan quyền lực) là quan hệ ngang hàng về Hiến pháp và
pháp luật;
Thứ hai, Viện kiểm sát có quan hệ vị trí trên dưới với các cơ quan
quyền lực, tức là cơ quan quyền lực lập ra và giám sát Viện kiểm sát, cũng có
thể nói, địa vị có tính hợp pháp của Viện kiểm sát là do cơ quan quyền lực
Quốc, NXB. Bắc Kinh, Trung Quốc, tr. 30-33