Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Lê Lựu là một trong những cây bút có đóng góp quan trọng đối với văn học Việt
Nam thời kỳ đổi mới. Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực cùng với sự trở lại của cảm
hứng bi kịch trong “Thời xa vắng” và nhiều tác phẩm khác của ông đã góp phần đổi mới
tư duy tiểu thuyết nước ta. Sự thành công của “Thời xa vắng” và những cuốn tiểu thuyết
được dư luận chú ý như “Đại tá không biết đùa”, “Chuyện làng Cuội”, “Sóng ở đáy
sông”, “Hai nhà”… không những khẳng định được phong cách văn của Lê Lựu mà còn
ghi dấu ấn đậm nét tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại.
Kể từ sau năm 1975, văn học Việt Nam đứng trước nhu cầu mở rộng hơn nữa trong
việc phản ánh mọi mặt cuộc sống đa dạng và phức tạp. Khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn nhạt dần và được thay thế bởi cảm hứng đời tư, thế sự. Các vấn đề về
cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, về cái tôi… đã trở thành chủ đề nổi bật khiến
cho văn học càng đổi mới mạnh mẽ. Người ta hình dung lại con người, thay đổi cách
miêu tả, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu mới… Trước thực tế đầy biến động của lịch sử,
tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu ra đời như một bức tranh sinh động, khắc hoạ
chân thực những tháng ngày đất nước trong một thời đã qua. Tìm hiểu tác phẩm trên, ta
sẽ hiểu thêm về thể loại tiểu thuyết của một thời kỳ văn học sôi động. Đồng thời qua đó
hiểu được những đóng góp của nhà văn cho nền tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lê Lựu với những sáng tác của mình đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi
mới văn học. Những sáng tác của ông thu hút sự chú ý của nhiều đọc giả và các nhà lí
luận, phê bình. Đã có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí nghiên cứu về Lê Lựu, các
sáng tác của ông nói chung và tiểu thuyết “Thời xa vắng” nói riêng. Tiêu biểu có một số
bài viết như: “Lê Lựu” – trích Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa,“Tiểu thuyết
Lê Lựu thời kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Hải Ninh, “Thời xa vắng” của Lê Lựu và tiến
trình đổi mới văn xuôi Việt Nam của tác giả Thái Thị Mỹ Bình…
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
trồng thêm củ dao, củ đốt để chống đói tháng ba. Câu ngạn ngữ xưa “Oai oái như phủ
Khoái xin tương” đủ để chúng ta hình dung về cái nghèo của cả vùng quê ấy. Hơn nữa
làng quê của Lê Lựu nằm bên đê sông Hồng trước đây chưa được trị thủy, vào mùa mưa
thường bị ngập lụt lớn.
Lê Lựu sinh ra từ một làng quê của cái nghèo đói, làng quê của ông khá điển hình
cho những làng quê ở tỉnh Hưng Yên. Có lẽ vì thế mà hình ảnh đói nghèo của quê hương
thường xuyên xuất hiện trong tác phẩm của ông.
Lê Lựu sinh ra trong một gia đình nhà Nho và cha ông thuộc thế hệ thứ năm của
dòng họ khoa cử nên Lê Lựu được học trường huyện tại thị trấn Khoái Châu. Là con
trong một gia đình có tám anh em, năm người đã chết trong nạn đói 1945, Lê Lựu đã trải
qua thời niên thiếu đầy gian nan và khổ cực. Năm mười tuổi ông đã phải lấy vợ. Từ năm
lớp một cho đến năm lớp bảy ông phải dậy nấu cháo rồi mới đi học, khi đi học ông phải
đi bộ suốt mười cây số đến trường học của huyện. Là một con người thông minh, học
giỏi, từ nhỏ ông đã ý thức vai trò của việc học, nhưng cái nghèo, cái đói vẫn cứ đeo bám
gia đình ông, vậy nên ông không thể tiếp tục việc học của mình.
Năm 1959, từ phủ Khoái Châu, Lê Lựu lên đường nhập ngũ. Ở trong quân ngũ, Lê
Lựu vẫn tiếp tục học bổ túc và tốt nghiệp Trung học phổ thông. Trong thời gian này, Lê
Lựu bắt đầu viết văn. Từ tinh thần đam mê học tập của mình cộng với môi trường rèn
luyện có tính kỷ luật cao mà con đường thành công của ông đã bắt đầu từ đây. Năm 21
tuổi, ông viết tác phẩm đầu tay là “Tết làng Mụa” (năm 1964), và được đăng trên tạp chí
Văn nghệ Quân đội năm 1964.
Nền văn học chống Mỹ đã sản sinh ra một thế hệ nhà văn - chiến sĩ, hay nói một
cách hình tượng là một thế hệ “nhà văn mặc áo lính”. Đó là “đặc sản” của những nền văn
học phát triển trong cách mạng và chiến tranh. Lê Lựu là một gương mặt, một chân dung
sáng rỡ trong thế hệ nhà văn này. Ông nhập ngũ sớm, từng làm phóng viên Báo Quân khu
Ba, sau đó là phóng viên mặt trận 559, từng lăn lộn ở chiến trường máu lửa với tư cách
một người lính văn hóa… Có thể nói dân tộc, nhân dân và thời đại đã “kê chỗ đứng” cho
người cầm bút như Lê Lựu và đồng nghiệp cùng trang lứa với ông. Lịch sử văn học hiện
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu
Lê Lựu là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam thời kỳ
đổi mới. Ông đã đóng góp vào nền văn học nước nhà hàng chục tác phẩm có giá trị, gồm
cả truyện ngắn và tiểu thuyết … Là một nhà văn quân đội đã “thử bút” trên nhiều thể
loại như: báo chí, phóng sự, bút kí, tiểu thuyết, truyện ngắn … Nhưng cá tính sáng tạo
của Lê Lựu chủ yếu in đậm trong thể loại tiểu thuyết. Không khí đổi mới tư duy trong
sáng tạo nghệ thuật đã hướng ngòi bút Lê Lựu đi sâu vào cảm hứng thế sự đời tư, thấm
đẫm nhân tình, thế thái và thân phận cá nhân thông qua tình yêu, hôn nhân, mối quan hệ
của con người với con người, giữa con người với hoàn cảnh xã hội trong những thăng
trầm của lịch sử, những chuyển biến của thời đại.
Sáng tác của Lê Lựu có nhiều đóng góp mới cho tiến trình đổi mới văn học. Nhà
văn đã xác lập cho mình một chỗ đứng vững chắc trên văn đàn bằng các tác phẩm như:
+ “Mở rừng” (1976)
+ “Thời xa vắng” (1986)
+ “Chuyện làng Cuội” (1991)
+ “Sóng ở đáy sông” (1994)
+ “Người cầm sung” (1970)
+ “Truyện ngắn Lê Lựu” (2003).
Lê Lựu là một trong số hiếm hoi những nhà văn thế hệ chống Mỹ vinh dự được
nhận giải thưởng Nhà nước về Văn Học Nghệ Thuật (2001) với cụm tác phẩm:
+ “Người cầm sung” (1970) – giải nhì báo Văn nghệ;
+ “Mở rừng” (1976);
+ “Thời xa vắng” (1986) - giải A Hội Nhà văn Việt Nam;
Với một tài năng văn chương của mình kết hợp với ngòi bút linh hoạt cũng đã có
khả năng “thâm canh” tác phẩm của mình.“Thời xa vắng”, “Sóng ở đáy sông” đã được
chuyển thể thành kịch bản phim mà tiêu biểu là tiểu thuyết “Thời xa vắng” đã được đạo
diễn Hồ Quang Minh của hãng phim Giải phóng dựng thành phim truyện nhựa và ra mắt
công chúng năm 2004.
thời kì trước đổi mới bằng thái độ phê phán và cảm thông sâu sắc. Ông nhìn thấy những
bất hợp lý trong cơ chế xã hội bao cấp khiến người dân cơ cực. Cái cơ chế xã hội mà ý
thức cá nhân bao giờ cũng đặt sau tinh thần tập thể, những con người chỉ tôn sùng ý chí,
dùng ý chí chủ quan áp đặt người khác, không ai được phép vượt khỏi “cái khuôn đúc
sẵn”.
1.2.3.Nhà văn ý thức được trách nhiệm nghề nghiệp
Văn của ông không phải là kiểu văn dễ dãi, quen thuộc, đọc qua một lần có thể hiểu
hết các tầng nghĩa. Mỗi lần tiếp xúc là một lần tìm thấy thêm một vấn đề nào đó - những
vấn đề mà nhà văn giấu kín trong lời văn của mình.
Nói như Trần Đăng Khoa “Lê Lựu biết cuốn hút người đời bằng một thứ văn không
nhạt. Ngay cả những truyện xoàng người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đấy, có khi là
một chi tiết, một đoạn tả cảnh hay một nét phát họa tính cách nhân vật”. Hay như Đinh
Quang Tốn cho rằng “anh chàng nhà quê” có một sức hút vô hình bằng một lời văn mang
phong cách riêng : “văn anh không rành rẽ, không mạch lạc nhưng có chất gì đó ở bên
trong”.
Suốt cuộc đời sáng tác, Lê Lựu luôn viết về những điều mình chiêm nghiệm, những
điều mắt thấy tai nghe, để từ đó, bằng lối văn tự nhiên, trong sáng của mình ông để lại
cho đời những tiểu thuyết đáng để người đọc suy ngẫm.
1.2.4. Nhà văn của lối hành văn tự nhiên và chất giọng giễu nhại
Các tiểu thuyết của ông đều hay sử dụng lớp ngôn ngữ tự nhiên, rất gần gũi với lời
nói thường ngày. Nhiều khi đọc cả đoạn, cả trang cứ thùng thình mà người đọc vẫn thích,
“không ai chê vì người ta biết đấy là văn tự nhiên của anh chứ không phải anh làm văn
mà chê anh về văn phạm”.
Bằng chất giong giễu nhại, nó đơn giản chỉ là thuật lại những chuyện “thật như đùa”
mà đã có thể tạo ra hình tượng đầy ám ảnh. Nhờ thế mà lời văn ông khi như bông đùa,
lúc lại xót xa, chì chiết như giễu nhại, đem lại cho người đọc tiếng cười chua xót.
1.3 Những nét đổi mới trong sáng tác của Lê Lựu
1.3.1. Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực
đánh giá hiện thực của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới.
Nguyên Ngọc trong bài thuyết trình về văn học Việt Nam nhắc đến trào lưu Đổi
mới với biểu hiện trước hết là "phơi bày cái tiêu cực, mô tả và tố cáo nó", nhiều nhà
văn đã tham gia tích cực vào trào lưu này, trong đó có Lê Lựu. Vậy phải chăng con
đường mà Lê Lựu và các nhà văn đổi mới đang đi chỉ là dẫm lên lối cũ của các nhà
văn hiện thực chủ nghĩa? Thực ra, nếu đặt toàn bộ các tác phẩm văn học có nội dung
"phơi bày" đó và tác phẩm của các nhà văn hiện thực 1930-1945 dưới một cái nhìn bao
quát sẽ thấy được tiến trình vận động với những nỗ lực đổi mới không chỉ ở bề mặt mà
cả ở chiều sâu. Không chỉ là sự mở rộng phạm vi hiện thực được phản ánh, không chỉ
là sự tiếp nhận kỹ thuật hiện đại mà còn là tư duy mới mẻ về đời sống.
Tiểu thuyết Lê Lựu mở ra một hiện thực sống động nhưng hết sức phức tạp. Qua
số phận của nhân vật, nhà văn tái hiện một cách chân thật nhất gương mặt lịch sử và
đời sống xã hội. Ông giúp cho chúng ta nhìn sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống
nông thôn trước những thay đổi lớn như cách mạng, chiến tranh, cải cách ruộng đất,
hợp tác hóa... Tiểu thuyết Lê Lựu toát lên được không khí thời đại, đó là khí thế bừng
bừng của công cuộc cải tạo xã hội, là tinh thần cách mạng nhiệt tình của nhiều tầng
lớp, nhiều thế hệ. Nhưng bên cạnh những thành quả đạt được, những khẩu hiệu, thành
tích còn có cả sự ấu trĩ, có cả cay đắng và thất bại, cả những bất hạnh và ngang trái mà
trước đó người ta chưa nói hết ra, chưa thể đi đến tận cùng.
Tiểu thuyết gắn bó với đề tài nông thôn từ “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước
đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, “Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng, cho đến “Mảnh
đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Bến không chồng” của Dương
Hướng,... đã đi những chặng đường dài. Lê Lựu cũng góp cho văn đàn nhiều bức tranh
nông thôn sinh động. Nhà văn thấy ở đó là cái hồn nhiên chất phác của người dân quê
khác biệt rõ rệt với lối sống thị thành. Ông viết về nông thôn với tình cảm tha thiết của
người đã sinh ra và lớn lên nơi đây có cả niềm khắc khoải về cuộc sống và số phận
những người quê đã “nhuốm bụi” phố phường. Và ông không thể không thừa nhận
rằng tư duy làng xã, tâm lý tiểu nông đã cản trở đáng kể đời sống của họ, nhất là khi
diện.
Tiểu thuyết Lê Lựu ở chặng đường tiếp theo, với khởi đầu là “Thời xa vắng”, lấy
cảm hứng bi kịch cá nhân làm đối tượng đã đem lại cho người đọc hứng thú suy nghĩ,
chiêm nghiệm về cuộc sống. Thực ra vấn đề bi kịch cá nhân đã từng là nguồn cảm
hứng lớn của văn học nhân loại, nhưng suốt một thời gian dài, hầu như nó chỉ thấp
thoáng xuất hiện trong văn học của ta. Bởi vậy, không thể phủ nhận vai trò đi đầu của
Lê Lựu đối với sự trở lại của cảm hứng bi kịch nhân văn trong giai đoạn văn học mới.
Nếu như ở tiểu thuyết Ma Văn Kháng bi kịch thường xảy ra từ những mối quan
hệ xã hội như giữa các thế hệ trong gia đình (Mùa lá rụng trong vườn), đối với đồng
nghiệp trong quan hệ công việc (Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú,
Ngược dòng nước lũ), thì với tiểu thuyết Lê Lựu, phạm vi hiện thực nhỏ hẹp hơn, bi
kịch thường ở ngay trong bản thân mỗi cá nhân. Trong “Đại tá không biết đùa” ta có
thể thấy được bi kịch của sự lầm lạc qua hình tượng đại tá Hoàng Thuỷ. Ông đã sai
lầm từ quan niệm đến phương pháp giáo dục con cái (muốn con phải sống theo cách
của mình, nghĩ giống như mình) nhưng con trai ông dù làm theo ý ông mà vẫn đeo
đuổi những ý định riêng. Ông đã tự đánh mất đứa con trai duy nhất, cái chết của con
ông là lời kết án chính ông. Ở “Hai nhà”, bi kịch của nhân vật Tâm tuy có chỗ giống
Sài là đánh mất bản thân, song ở một góc độ khác, là bi kịch bị phản bội. Tâm càng
chăm sóc, nín nhịn vợ thì cô ta càng lăng loan. Anh càng tin tưởng, thân thiết với
người hàng xóm thì càng tạo cơ hội cho ông ta ngoại tình với vợ anh, kết cục hai đứa
con mà anh dốc lòng chăm bẵm đều không phải con đẻ của Tâm. Cay đắng hơn, đứa
con của một người bạn thân đã chết oan trong trò gian dâm của vợ anh. Câu chuyện
“Chuyện làng Cuội” bắt đầu từ cái chết thảm thương của bà cụ Đất, người phụ nữ cả
cuộc đời là chuỗi bi kịch, bi kịch bởi quá giàu yêu thương. Hiền lành như đất, câm
lặng hy sinh, chịu đủ mọi điều tiếng nhục nhã cho đến tận sau khi chết.
Có thể thấy trong hầu hết các tiểu thuyết của mình, Lê Lựu đều quan tâm tới
những số phận bi kịch không chỉ do nguyên nhân khách quan mà bắt nguồn từ chính
tính cách nhân vật. Với sự đồng cảm sâu sắc, Lê Lựu đã nhìn thẳng vào những đau
thể giải quyết. Cùng với hàng loạt các tác phẩm có cảm hứng bi kịch cùng thời (Mùa
lá rụng trong vườn, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Đám cưới không có giấy
giá thú, Những thiên đường mù,...) những bi kịch trong tiểu thuyết Lê Lựu đặt ra nhiều
vấn đề có ý nghĩa sâu sắc về số phận con người, giúp con người nhận thức về cuộc
sống của mình rõ hơn.
1.3.3.Những hiệu ứng nghệ thuật
Xoáy sâu vào bi kịch tự thân của con người, nhà văn tập trung khai thác những
mâu thuẫn, những xung đột gây hiệu ứng tâm lý mạnh mẽ ở người đọc. Có thể coi đây
là một thành công của nghệ thuật tiểu thuyết Lê Lựu.
Lê Lựu không chỉ có nhiều cách tân trong lối viết, nỗ lực của ông chủ yếu thể
hiện ở việc khai thác cốt truyện. Tiểu thuyết Lê Lựu hấp dẫn người đọc ở sự dồn đẩy
tình huống truyện, khi kéo căng khi lại nhẩn nha kích thích xúc cảm yêu ghét của độc
giả. Tiểu thuyết “Sóng ở đáy sông” tập trung khai thác sự tương phản giữa ý chí lạnh
lùng, thái độ bất biến của người cha trước những biến động của thời đại và thế giới
tâm hồn của những đứa con. Vợ chết, ông tuyên bố cắt khẩu phần lương thực mà khi
còn sống người vợ đã đong thêm cho các con, đứa nào học đúp thì tự nuôi lấy thân.
Khi "ngã ngửa" ra là Núi đã bỏ học để kiếm sống nơi bến tàu, có liên quan đến những
kẻ gian, ông lập tức từ mặt để hắn không thể làm ô danh ông. Từ đó, ông vô cảm trước
bất kỳ một sự kiện nào của cuộc đời hắn, thậm chí còn viết đơn xin toà án nâng mức
án của hắn thành tù chung thân. Tính cách người bố đã tác động sâu sắc đến tình cảm
và thái độ người đọc, giúp họ tìm thấy căn nguyên tội lỗi bằng sự phán xét tỉnh táo.
Hiệu ứng tâm lý trong “Hai nhà” là cách mở dần từng ô cửa để thấy được thực chất
“ngôi nhà” bên trong, mỗi cánh cửa hé mở là mỗi lần thôi thúc sự dò tìm của người
đọc. Lần thứ nhất mượn lời người chú rể của Linh Anh để tiết lộ quá khứ của cô gái
thành thị lọc lõi, hư hỏng. Lần thứ hai nhấm nháp từng trang nhật ký của cô ta để vén
thêm bức màn bí mật về những hoan lạc của thời con gái buông thả, những cảm giác
bức bối khi phải sống với người chồng không như mong ước, những thèm khát dẫn tới
cuộc tình vụng trộm và trận đánh ghen bẽ bang. Lần thứ ba bức thư tuyệt mệnh của
làm cho mạch văn uyển chuyển và cuốn hút. Đôi khi nhà văn "nhờ" những nhân vật có
uy tín như chính uỷ Đỗ Mạnh (Thời xa vắng), Trung tướng tư lệnh (Đại tá không biết
đùa) phát biểu suy ngẫm, tổng kết một cách khá nhuần nhị. Sự giàu có về vốn sống
giúp cho Lê Lựu có những kiến giải sâu sắc trong tác phẩm của mình về lẽ sống, cách
ứng xử ở đời, về nhân tình thế thái... Khuynh hướng triết luận đem lại thành công cho
nhiều cây bút văn xuôi Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, và có thể nói nó cũng đã gia
tăng tính tư tưởng cho tiểu thuyết Lê Lựu.
Ở tiểu thuyết Lê Lựu, tố chất dân gian đưa các tác phẩm của ông trở về đúng
nghĩa là tiểu thuyết, phá vỡ khoảng cách sử thi mà suốt một thời gian dài trước đó tồn
tại trong văn học của ta. Tiểu thuyết Lê Lựu đầy ắp ngôn ngữ đời sống, có cả cãi vã,
chì chiết, có cả ngoa ngoắt, đáo để, có cả tình tứ, bồng bột, có cả thâm trầm, sâu sắc....
Chúng ta nhìn thấy cái "duyên" của Lê Lựu khi đưa được nét cười của dân gian hóm
hỉnh vào tác phẩm: từ cách đặt tên nhân vật (Sài, Lưu Minh Hiếu - Lưu Manh Hiêu,
Tâm và Địa,...) cho đến cảm quan phồn thực về cuộc sống. Nếu như có thể nêu dẫn
chứng cho nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng bằng cảnh đám ma cụ cố Hồng
(Số đỏ) thì cũng có thể lấy cảnh đám ma ông đồ Khang (Thời xa vắng) hoặc bà cụ Đất
(Chuyện làng Cuội) để thấy được cái hài hước “sắc lẻm” của Lê Lựu.
Không cố cách tân trong lối viết nhưng không phải Lê Lựu không có ý thức tìm
tòi, thay đổi ở từng tác phẩm. Điều đó giúp cho tiểu thuyết của ông tránh được sự đơn
điệu. “Thời xa vắng” là “lịch sử một số phận" với những đoạn đường đời cụ thể dưới
cái nhìn chiêm nghiệm, từng trải. “Sóng ở đáy sông” lại có vẻ như hồ sơ của một
phạm nhân được lần giở từng sự kiện qua sự phân tích chặt chẽ những nguyên nhân
sâu xa và trực tiếp dẫn tới hành vi phạm tội. Ở “Chuyện làng Cuội”, sự đan xen quá
khứ và hiện tại làm cho mạch truyện thêm linh hoạt, người đọc tuy khó nắm bắt truyện
hơn nhưng cũng chủ động hơn trong tiếp nhận tác phẩm. Nếu như ở “Hai nhà”, Lê
Lựu thay đổi điểm nhìn trần thuật bằng việc đưa những trang nhật ký vào tác phẩm để
người đọc có thể hiểu rõ hơn tâm trạng, cảm xúc, động cơ... của nhân vật thì trong
“Đại tá không biết đùa”, nhà văn chuyển hẳn đối thoại vào đoạn trần thuật, kể chuyện
hướng tìm tòi đổi mới của Lê Lựu ở thể loại tiểu thuyết.
2.1 Tóm tắt tác phẩm
Chuyện bắt đầu từ lời than vãn và tự vấn lương tâm của bố Sài - ông đồ Khang về
việc Sài đuổi vợ nó đi. Sài lấy vợ từ năm 10 tuổi, vợ nó là Tuyết, lớn hơn nó ba tuổi.
Không hiểu lí do vì sao nhưng Sài rất ghét Tuyết, luôn tìm cách né tránh Tuyết. Trong
một lần Tuyết giã ngô trẹo vào tay Sài, Sài tức giận đánh và đuổi vợ đi. Bố Sài nổi giận
gọi tất cả con dâu, con giai trong đó có anh Tính là cán bộ của Phòng thuế nông nghiệp
huyện đi tìm Sài. Biết được sự tình, Sài chạy trốn bố nhưng cuối cùng vẫn bị tìm thấy
trong cơn đói và mệt đến lả người đi.
Nạn đói xảy ra ra khiến tất cả mọi người không còn tâm trí nào để ý đến chuyện vợ
con của Sài nữa. Làng của Sài mới được giải phóng mấy tháng nhưng tàn tích của chiến
tranh thì vẫn còn ảnh hưởng tới đời sống của người dân nơi đây. Người trong làng chỉ
quen đi làm thuê chứ không thiết tha gì với đất đai ở nhà. Với những chật vật lo toan cho
cuộc sống đó, họ cứ sống kham khổ bữa đói bữa no cho qua ngày. Rồi một đêm nọ, xã Hạ
Vị hội họp ở đình và thông báo về việc chống đói và cứu đói cho người dân bằng cách
cấm mọi người đi làm thuê thay vào đó là việc tự làm cho chính mình bằng đất của mình
và cấp cho mỗi gia đình tạ thóc cứu tế. Thế là cả làng nghe theo không phản đối. Sài
được bầu làm liên đội trưởng của ba xóm thuộc thôn Hạ Vị.
Sài không còn chê vợ nữa khôngchỉ vì gia đình mà còn là vì vai trò gương mẫu của
một liên đội trưởng. Sài vẫn giữ đúng mực đạo làm con đối với cha mẹ vợ. Ai nhìn vào
cũng thỏa mãn về vợ chồng Sài chỉ riêng có Tuyết là biết thân biết phận mình. Đã bước
sang tuổi 17, cái tuổi dậy thì căng tràn sức sống và chờ mong được chồng yêu thương
nhưng mãi vẫn không được chồng gần gũi và để ý đến. Sài luôn tìm cách để lảng tránh
Tuyết. Mười bốn tuổi đầu đã phải sống hai cuộc đời thật - giả, Sài phải sống thành hai
con người một nửa là sống cho bản thân mình nửa kia là sống cho những người xung
quanh, trừ Tuyết. Và cứ như thế suốt bốn năm.
Sau khi Sài bước sang tuổi 18 tuy tốt nghiệp lớp 7 trường huyện và đỗ vào lớp 8 của
tỉnh nhưng anh lại bỏ về làm trưởng ban phụ trách thiếu niên xã. Năm ấy vỡ đê bồi làng
đạm trước mọi chuyện. Sài được tuyển đi B. Hiểu - người bạn đặc biệt của Sài là người
đã thông báo tin này cho Sài. Gần một năm sau khi Tuyết sinh được đứa con trai, như vồ
được hạnh phúc của nhà mình thì Sài lại càng đau buồn thêm.
Sài vào chiến trường, trải qua nhiều gian khổ, mất mát và lập được nhiều chiến
công. Sau17 năm vào bộ đội Sài không thể ngờ rằng cuộc sống cực nhọc của người lính
đối với anh lại thiêng liêng đến thế. Trở về nguyên vẹn, Sài nhận được quyết định chuyển
về trường đại học quân sự và anh có một cái nghề nuôi sống bản thân mình. Chính ủy Đỗ
Mạnh đã tìm cách giải phóng cho Sài và cả vợ Sài. Hai người được ly hôn đúng như
mong muốn của Sài. Hương vẫn lén chồng con, cơ quan đi gặp người tình cũ nhưng trong
Hương bao giờ cũng phân định ranh giới rõ ràng giữa gia đình và tình yêu. Hương lo lắng
cho Sài với một tình cảm thiêng liêng vượt lên cả tình yêu. Sài rất muốn quay lại với
Hương nhưng không thể, Hương đã có gia đình. Hương cảm thấy áy náy và ngỏ ý muốn
giới thiệu cho Sài một người vợ.
Anh gặp và yêu Châu, một cô gái Hà Nội xinh đẹp, khôn ngoan. Bất chấp sự gièm
pha can ngăn của Hương và những người thân, Sài vẫn quyết chí yêu Châu muốn lấy
Châu. Châu nói rằng cô có con với anh, hai người lấy nhau. Cuộc sống của Sài với Châu
chẳng mấy tốt đẹp, luôn cãi vã vì những chuyện vặt vãnh thường ngày. Anh được báo tin
đi ôn thi để nghiên cứu sinh nhưng vì muốn chăm sóc người vợ đang có chửa thì anh lại
không đi nữa quyết định để đợt sau. Anh cũng đã quyết định xin chuyển ngành làm công
tác thi đua, công đoàn ở một bộ để dành thời gian chăm sóc cho vợ.
Châu sinh được một đứa con trai đặt tên là bé Thùy, gia đình ngày càng xích mích,
xung đột. Châu và Sài ngày càng không tìm thấy tiếng nói chung, không hiểu nhau khiến
tình cảm cũng nhạt nhẽo. Mọi người nhìn vào đều cảm thấy bất lực trước tình cảnh ấy.
Đến những người thân của Sài cũng chán ngán, hờ hững, mặc kệ như chú Hà, anh Tính,
anh Hiểu…chỉ có thiếu tướng Đỗ Mạnh là bảo với mọi người nên thông cảm cho Sài
đừng ai xa cách hắt hủi Sài vì dù sao Sài cũng là đứa biết nghĩ. Hương vẫn dành tình cảm
cho Sài và lo toan cho Sài một cách thầm lặng. Châu sinh thêm một đứa con nữa. Sài vẫn
hết mực yêu thương vợ con, dồn hết tình cảm cho cái gia đình nhỏ bé của mình thế nhưng
thị vào hệ thống những đề tài quen thuộc của văn học thời đại như đề tài nông thôn, đề
tài xây dựng, đề tài chiến tranh và người lính đã góp phần tạo nên bộ mặt vừa quen
vừa lạ đó của “Thời xa vắng”. Mặt khác, quan sát sự thể hiện các đề tài kể trên trong
tác phẩm, ta cũng nhận thấy tác giả đã xác định vị trí độc lập cho đề tài xây dựng, đã
tách nó khỏi ý nghĩa chức năng soi sáng cho đề tài chiến đấu như thường thấy trong
các tác phẩm văn xuôi giai đoạn trước. Đây là nét đổi mới ở phương diện đề tài của tác
phẩm này.
Vấn đề trung tâm đặt ra trong tác phẩm là số phận con người, cụ thể hơn là hạnh
phúc của con người. Nếu trong văn xuôi trước đây, hạnh phúc của con người được hòa
vào hạnh phúc chung của dân tộc, hạnh phúc là được cống hiến cho sự nghiệp chung
của đất nước, thì giờ đây trong tác phẩm của mình, Lê Lựu lại chú ý đến hạnh phúc
riêng tư, hạnh phúc cá nhân. Trong quan niệm của Lê Lựu, hạnh phúc của con người
trước hết là được ấm no, thứ đến là được yêu thương và cao hơn hết, hạnh phúc là khi
tư tưởng cá nhân được khẳng định, là khi con người xác định được vị trí của mình
trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội.
Câu chuyện về một thời mà Lê Lựu gọi là “thời xa vắng” là một câu chuyện
buồn mà suốt một thời gian dài người ta cố tình không nhắc tới. Trong cái thời ấy,
người ta sống hào hùng, hồn nhiên; người ta thương yêu, đùm bọc và lo lắng cho nhau
nhưng lại giản đơn, ấu trĩ không biết người được yêu thương, quan tâm ấy có thực sự
hạnh phúc hay không. Đó là cái thời mà sự yêu ghét của con người bị định đoạt một
cách thô bạo, khiến người ta muốn tồn tại phải tự gọt đẽo mình, phải “sống hộ ý định
người khác”.
Tất cả những sai lầm một thời đó in rõ trong số phận và tính cách của nhân vật
chính Giang Minh Sài. Suốt nửa cuộc đời, Sài loay hoay giữa muôn vàn đau khổ do
sức ép từ nhiều phía. Thưở nhỏ, Sài phải dằn lòng sống theo ý muốn của gia đình,
dòng họ. Đến tuổi trưởng thành, Sài lại phải cố gồng mình lên để chịu đựng, phải “tự
giết chết đi những xao xuyến thèm khát một hạnh phúc thực sự”. Khi vào quân ngũ,
Sài lại phải theo ý các thủ trưởng “yêu cái người khác yêu, ghét bỏ cái người khác
ngũ cũng không cho phép Sài sống với tình yêu đích thực của mình, thâm chí không
thể sống với suy nghĩ riêng tư của mình.
Mặt khác, Sài không thể sống theo ý mình bởi dư luận. Chính cái sức mạnh của
dư luận đã đè nặng lên gia đình Sài, rồi tất cả đổ ụp lên đầu Sài. Và cũng như bao
người khác ở làng Hạ Vị, Sài phải “dựa vào dư luận mà sống”, Sài không đủ can đảm
“dẫm lên dư luận mà đi theo ý của mình”.
Bi kịch của Sài là do những nguyên nhân khách quan mang lại, bi kịch đó còn
được tạo nên từ nguyên nhân chủ quan: Sài là người nhu nhược, thiếu dũng cảm.
Trong đoạn đời đầu, vì nhu nhược, hèn nhát, Sài đã không dám chống lại sự áp đặt của
gia đình, không dám vượt qua dư luận, không dám phá bỏ những ràng buộc để sống
với con người thật của mình, không dám đấu tranh để bảo vệ tình yêu và hạnh phúc
thực sự của mình. Trong đoạn đời sau, cũng vì nhu nhược, Sài đã để vợ lấn lướt, xem
thường. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ trong cuộc hôn nhân thứ hai
của anh.
Với sự độc đáo của chủ đề, với những trang viết đầy ắp chất liệu thực, không tô
hồng nhưng cũng không nhìn hiện thực bằng con mắt màu xám, mà khách quan sâu
sắc, và một giọng văn thùng thình có kết dính, tạo hấp dẫn riêng, "Thời xa vắng" đã
đưa Lê Lựu lên trên những nhà văn cùng lứa viết về đề tài chống Mỹ và bước đầu
chuyển sang xây dựng thời bình.
2.2.3 Cảm hứng nghệ thuật
Cách lý giải chủ đề của Lê Lựu thể hiện cái nhìn biện chứng đối với quá khứ, thể
hiện cái nhìn đầy đủ, toàn diện về con người. Và do đó, những lý giải đó có sức thuyết
phục cao. Chính sự phức tạp trong việc lý giải và định giá thế giới như trên đã đưa đến
một cấu trúc cảm hứng phức tạp trong “Thời xa vắng”.
Cảm hứng bi - hài là cảm hứng cơ bản của tác phẩm đã tỏ rõ tính chân thực lịch
sử của nó. Cảm hứng này đem đến cho người đọc một cái nhìn sâu sắc và biện chứng
hơn về cuộc đời và con người. Câu chuyện về một thời đã qua trong “Thời xa
vắng” chứa chất biết bao nỗi buồn, bao bi kịch, và cũng chứa đựng biết bao chuyện