NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TIỂU THUYẾT TỪ 1986 – 2000 Chuyên ngành: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
Mã số: 5.04.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2007 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Quang Long
Phản biện 3: TS Nguyễn Khắc Hóa
Phản biện độc lập:
1- GS. TS Nguyễn Khắc Phi
2- PGS.TS Phạm Quang Long
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Nhà nước họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tp. HCM vào hồi …. giờø ngày .… tháng …. năm 2011.
Có thể tìm hiểu luận án tại các thư viện:
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM.
Thư viện Khoa học xã hội TP. HCM.
Thư viện Trường Đại học KHXH&NV Tp. HCM
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Trần Văn Minh (1999), Chất văn hóa trong tùy bút Nguyễn Tuân, Luận
văn Thạc sĩ , ĐH KHXH&NV TP. HCM.
2. Trần Văn Minh (2007), Khảo sát một số tiêu chí phân biệt tùy bút với
các thể loại văn xuôi nghệ thuật khác, Tạp chí Khoa học, số 8, ĐHCT.
3. Trần Văn Minh (2008), Dạy và học văn học văn học Việt Nam hiện đại
từ góc nhìn nguyên hợp: Văn-Sử-Triết bất phân), Kỷ yếu Hội nghị
Khoa học, Đại học Cửu Long.
4. Trần Văn Minh (2008), Thể loại tùy bút trong nền văn học Việt Nam
hiện đại, Tạp chí Khoa học Xã hội, Viện KHXH Việt Nam, số 122.
5. Trần Văn Minh (2009), Phân loại tùy bút, Tạp chí Khoa học Xã hội,
Viện KHXH Việt Nam, số 128.
6. Trần Văn Minh (2009), Dạy tác phẩm tùy bút trong trường THPT, nhìn
từ đặc trưng thể loại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số tháng 6.
rạch ròi đều trở nên bất cập hoặc không thỏa đáng. Hậu quả là, mặc dù
được nhìn nhận như một thể loại văn học, nhưng quan điểm phân loại và
cách hiểu về tùy bút, trên thực tế, hầu như chưa có sự nhất trí cần thiết.
Do chưa có được sự đồng thuận từ cơ sở lý luận nên việc tiếp cận và bình
giá những tác phẩm tùy bút cũng gặp không ít khó khăn, phức tạp.
Rõ ràng cần phải khảo sát tường tận hơn về tùy bút, trước hết ở
phương diện khái niệm, thể loại; rồi trên cơ sở đó mà vạch ra một đường
biên - tất nhiên cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối - giữa tùy bút với các
thể loại văn xuôi nghệ thuật khác. Để tùy bút có cơ sở tồn tại bình đẳng
với những thể loại khác trong đời sống văn học, để không chỉ phân định
thỏa đáng những giá trị vốn có, mà quan trọng hơn là định hướng phù
hợp cho sự vận động phát triển ở tương lai, thiết nghĩ đã đến lúc cần có
sự nghiên cứu đầy đủ về nguồn gốc thể loại, quá trình phát triển với
những quy luật và thành tựu nổi bật, về đặc điểm nội dung và nghệ thuật
cơ bản của nó.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thể loại tùy bút trong văn học
Việt Nam hiện đại. Phạm vi nghiên cứu bao gồm những vấn đề lý thuyết 2
về loại thể và lịch sử văn học. Luận án tập trung giải quyết hai nội dung
cơ bản: những vấn đề lý luận xung quanh thể loại tùy bút (khái niệm, loại
hình, đặc trưng nghệ thuật, phân loại), quá trình hình thành, phát triển và
những đặc điểm của nó trong văn học Việt Nam từ 1930 đến 1975. Phạm
vi tư liệu nghiên cứu của Luận án bao gồm những tác gia, tác phẩm tùy
bút tiêu biểu trong văn học Việt Nam từ 1930 đến 1975. Chúng tôi chọn
khoảng thời gian này để khảo sát thành tựu và đặc điểm của tùy bút vì
những lý do sau đây:
- Ở Việt Nam, mặc dù các tác phẩm ký mang yếu tố tùy bút xuất
những vấn đề lý thuyết về loại thể và lịch sử văn học xung quanh thể loại
tùy bút, phần Lịch sử vấn đề của Luận án được trình bày theo hai mảng
cụ thể như sau:
4.1. Về thể loại tùy bút
Trong một khoảng thời gian khá dài, tùy bút chưa có được sự
nghiên cứu thật triệt để. Hầu hết các công trình lý luận - phê bình, các
công trình văn học sử đều dành sự quan tâm nhiều hơn đến đặc điểm và
thành tựu của thể loại ký - một mảng văn xuôi quan trọng ở mọi thời kỳ
phát triển của văn học viết. Tùy bút thường chỉ được nhắc qua như một
tiểu loại giàu chất trữ tình, và tất nhiên, phải chịu sự chi phối từ những
đặc điểm loại hình của ký.
4.1.1. Có thể nhận ra hai kiểu quan niệm vừa tương đồng vừa có chỗ
chưa nhất trí với nhau xung quanh vấn đề loại hình của tùy bút: a- Tùy
bút là một tiểu loại văn xuôi giàu chất trữ tình, thuộc thể loại ký; b- Tùy
bút là một thể loại văn xuôi phái sinh từ ký, thuộc loại trữ tình.
Xếp tùy bút vào hệ thống tiểu loại của ký, các nhà nghiên cứu muốn
khẳng định vai trò của tự sự như là yếu tố thứ nhất, có ý nghĩa làm nền
trong những tác phẩm thuộc thể loại này. Đó là quan niệm của: Trần Đình
Sử (trong Từ điển thuật ngữ văn học - 1992), Nguyễn Văn Hạnh (trong
Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ - 1998), Hồng Ngọc Hiến (trong
Văn học…gần & xa - 2003), Lê Dục Tú (trong Văn học Việt Nam thế kỷ
XX - Phan Cự Đệ chủ biên - 2004). Quan niệm này khá phổ biến và
không ít nhà nghiên cứu đã mặc nhiên thừa nhận tùy bút là một dạng, một
tiểu loại giàu chất trữ tình của thể loại ký. Nhưng trong tùy bút việc kể
chuyện, thuật sự đâu phải là mối quan tâm hàng đầu của người nghệ sĩ;
do đó, làm sao có thể căn cứ vào một yếu tố không mang tính bản chất để
phân định thể loại? Trữ tình mới là mục đích chính yếu, là cứu cánh nghệ
thuật trong tùy bút.
Khác hẳn với quan niệm nêu trên, một số nhà nghiên cứu xếp dứt
khốt tùy bút vào loại trữ tình. Đó là quan niệm của: Nguyễn Xuân Nam
2007), Trần Thanh Hà (trong Tam diện tùy bút - 2007), Nguyễn La
(trong Cái tôi trong tùy bút - 2008),… Ngồi đặc điểm về chủ thể sáng
tạo, những bình diện nội dung và nghệ thuật khác của tùy bút (đề tài, cảm
hứng, nhân vật, kết cấu, dung lượng, giọng điệu, ngôn ngữ) hầu như ít
được các nhà nghiên cứu đề cập tới.
* Thực tế nghiên cứu cho thấy, sẽ trở nên cứng nhắc và khiên cưỡng nếu
cố tình quy tùy bút vào một trong hai loại: tự sự hoặc trữ tình. Tự sự
không chỉ là phương tiện và trữ tình chưa hẳn là mục đích duy nhất của
các sáng tác tùy bút. Cái tôi của nhà văn xuất hiện trong tùy bút không chỉ
để giãi bày cảm xúc mà còn để kể chuyện, tâm tình, đối thoại, suy
tư,…Vậy thì tùy bút thuộc loại hình văn học nào, đâu là những đặc trưng
thể loại và để phân loại tùy bút phải căn cứ vào những tiêu chí nào? Thiết
nghĩ, đó là những vấn đề thực sự mang ý nghĩa khoa học, cần được quan
tâm nghiên cứu triệt để hơn.
4.2. Về tùy bút Việt Nam từ 1930 đến 1975 5
Do chưa có những công trình nghiên cứu quy mô, hệ thống, nên
các ý kiến, nhận định về tiến trình của tùy bút ở Việt Nam thường xuất
hiện lẻ tẻ, rải rác trong các bài báo, tạp chí và những công trình nghiên
cứu văn học sử nói chung. Mặt khác, một khi quan niệm cho rằng tùy bút
là một tiểu loại của ký đã và đang được nhiều người thừa nhận thì tìm ra
những ý kiến, nhận định riêng về nó là điều không dễ dàng. Vì thế, những
phát biểu, đánh giá về ký nói chung đôi khi cũng góp phần tăng cường
tính hệ thống cho việc nghiên cứu quá trình phát triển của tùy bút.
4.2.1. Tùy bút là một thể loại văn xuôi phái sinh từ ký. Thể loại ký phát
triển rất mạnh trong văn học trung đại Việt Nam. Cho nên, những tác
phẩm ký mang hơi hướng, dáng dấp tùy bút đã thấy xuất hiện từ trước thế
kỷ XX. Nhưng tùy bút, với cách hiểu là một thể loại văn xuôi hẳn hoi như
kỷ XX. Trong Văn học – thế giới mở, khi khảo sát quá trình tương tác
giữa các thể loại văn học từ 1932 đến 1945, Nguyễn Thành Thi cũng
khẳng định vị trí xứng đáng của tùy bút trong hệ thống thể loại văn xuôi
thời kỳ hiện đại.
Các tác gia, tác phẩm tùy bút tiêu biểu ở thời kỳ này như Nguyễn
Tuân với Chiếc lư đồng mắt cua, Tùy bút I, Tùy bút II, Tóc chị Hồi;
Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường, Xuân Diệu với Phấn
thông vàng, Trường ca, Chế Lan Viên với Vàng sao, Đinh Gia Trinh với
Hồi vọng của lý trí,…cũng đã có được sự quan tâm đáng kể từ các nhà
nghiên cứu.
4.2.3. Từ 1945 đến 1975, trong bối cảnh chiến tranh vệ quốc khốc liệt, là
một thể loại linh hoạt, đa năng, tùy bút nhanh chóng thích nghi với yêu
cầu mới của hồn cảnh lịch sử. Cái tôi trữ tình trong tùy bút đã mang dáng
dấp sử thi và mạch cảm xúc trở nên đậm đà màu sắc lãng mạn. Ở bài viết
Diện mạo văn học Việt Nam 1954 – 1975 (1999), Lã Nguyên xác định rõ
vị trí của tùy bút trong sự phong phú, đa dạng về thể loại của nền văn học
Cách mạng. Trong Văn học Việt Nam hiện đại, vấn đề - tác giả (2005),
Mã Giang Lân cũng khẳng định: trong văn học 1945 -1975, ba thể loại
chính có nhiều thành tựu hơn cả là ký, truyện ngắn và tiểu thuyết. Trong
các công trình nghiên cứu văn học sử và các tập tiểu luận phê bình, các
tác giả, tác phẩm tùy bút tiêu biểu ở giai đoạn này cũng thường được đề
cập như những đóng góp đầy ý nghĩa cho nền văn học dân tộc.
* Nhìn chung, đóng góp của thể loại tùy bút để làm nên sự phong phú và
đa dạng cho diện mạo văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong khoảng
thời gian từ 1930 đến 1975, đã được thừa nhận. Tuy nhiên, từ thực tế
nghiên cứu có thể nhận ra không ít điểm chưa thỏa đáng, cần khảo sát
tường tận hơn. Thứ nhất, mặc dù không thể phủ nhận mối liên hệ phái
sinh với thể loại ký, nhưng rất cần phải tách ra, xem xét tùy bút như một
thể loại độc lập. Chỉ khi nào những thành tựu của tùy bút được xếp theo
một hệ thống riêng thì lúc đó mới có đủ cơ sở để rút ra những nhận định
Luận án gồm tổng cộng 232 trang, trong đó có 197 trang chính văn.
Dung lượng cụ thể của các phần như sau:
* MỞ ĐẦU (23 trang)
* CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý thuyết về thể loại tùy bút (29 trang)
* CHƯƠNG 2: Quá trình phát triển của tùy bút Việt Nam
từ 1930 đến 1975 (77 trang)
* CHƯƠNG 3: Đặc điểm của tùy bút Việt Nam
từ 1930 đến 1975 (65 trang)
* KẾT LUẬN (4 trang); PHỤ LỤC (14 trang) 8
* TÀI LIỆU THAM KHẢO (234 tài liệu); PHỤ CHÚ (1 trang)
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THỂ LOẠI TÙY BÚT
1.1. Về khái niệm “tùy bút”
1.1.1. Có vẻ như cách hiểu đơn giản: tùy bút là những trang văn xuôi ở
đó nhà văn tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy - lâu nay dễ được nhiều người
thừa nhận nhất. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đây là cách hiểu chưa
thỏa đáng, tiềm ẩn không ít mâu thuẫn. Nếu coi tùy bút là một cách viết
hoặc một kiểu bút pháp thì chỉ mới dừng lại ở mức độ bên ngồi, chưa đi
sâu vào bản chất của đối tượng. Tùy bút còn là một thể loại văn học mang
những nét đặc trưng về nội dung và nghệ thuật biểu hiện, đủ sức tồn tại
ngang hàng với những thể loại văn xuôi nghệ thuật khác.
1.1.2. Từ góc nhìn từ nguyên học có thể tìm thấy những giả thiết đáng tin
cậy, góp phần vào việc xác định khái niệm và phân định loại hình của tùy
bút. Vào buổi sơ khai của việc phân loại, một số nhà lý luận Trung Quốc
(Lưu Hiệp, Nhan Diên Chi) chia văn chương thành 2 loại: loại có vần là
Văn và loại không vần là Bút. Từ nguồn gốc phương Đông, tùy bút đã
được xác định là một thể loại văn xuôi thực sự tự do, phóng túng, không
1.3. Đặc điểm của thể loại tùy bút
Trong Luận án, chúng tôi đã tập trung khảo sát đặc điểm của thể
loại tùy bút trên các bình diện cụ thể sau đây:
1.3.1. Đề tài
Đề tài của tùy bút rất đa dạng. Với ưu thế riêng của một thể loại
nằm ở vị trí trung gian, tùy bút có thể can dự vào mọi phương diện, mọi
lĩnh vực đời sống. Từ những vấn đề về lịch sử, văn hóa, phong tục cho tới
những nội dung mang tính chất thế sự, đời tư; từ ngoại cảnh đến tâm
cảnh, từ ý thức đến vô thức, tất cả đều là đối tượng để cảm nhận và suy tư
trong tùy bút. Tùy bút thường tái hiện nội tâm con người trong sự đan xen
nhiều cung bậc cảm xúc phong phú, phức tạp hoặc thuật lại những nỗi ám
ảnh, day dứt tinh thần triền miên. Cảm quan nghệ thuật của người viết tùy
bút còn tỏ ra hết sức tinh nhạy trước vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và
những giá trị văn hóa truyền thống.
1.3.2. Cảm hứng, tình điệu thẩm mỹ
Là một thể loại trung gian, thừa hưởng được ưu thế của cả hai loại
hình - tự sự và trữ tình, tùy bút hầu như dung hợp được tất cả các loại
cảm hứng, tình điệu thẩm mỹ khác nhau. Lãng mạn luôn là cảm hứng chủ
đạo trong tùy bút. Góc nhìn trần thuật của người viết tùy bút bao giờ cũng
xuất phát từ những chuẩn mực về cái Đẹp. Khuynh hướng lý tưởng hóa
ấy góp phần quan trọng đảm bảo cho sự ưu trội của cảm hứng lãng mạn
trong tùy bút. Cảm hứng bi cũng xuất hiện khá thường xuyên, nhất là ở
mảng sáng tác về đề tài thế sự, đời tư. Những sáng tác tùy bút ra đời trong 10
hồn cảnh chiến tranh thường lấy cảm hứng anh hùng làm cảm hứng chủ
đạo. Ngồi ra, các dạng cảm hứng như châm biếm, trữ tình, hài hước, ở
mức độ khác nhau, cũng đều xuất hiện trong tác phẩm tùy bút, góp phần
tạo nên sự phong phú, đa dạng của cảm hứng và tình điệu thẩm mỹ.
11
tình. Ngồi ra, dung lượng cũng là một căn cứ về hình thức có ý nghĩa góp
phần phân định các dạng của thể loại tùy bút.
1.4.1. Nếu khảo sát từ phương diện tự sự, có thể phân loại tùy bút dựa
trên sự khác biệt về đề tài. Căn cứ vào tiêu chí này, nhóm tùy bút tự sự
gồm các dạng cụ thể như: tùy bút văn hóa, tùy bút phong cảnh thiên
nhiên, tùy bút chiến tranh, tùy bút lịch sử, tùy bút chính trị, Các dạng
tùy bút này, cùng với đặc điểm về đề tài, còn mang những nét riêng về
không gian, thời gian nghệ thuật, về giọng điệu trần thuật, về mối quan hệ
giữa tả và kể. Chúng tôi chọn sự khác nhau về đề tài làm căn cứ phân loại
cho nhóm tùy bút tự sự vì đây là tiêu chí nổi trội, có khả năng bao quát
đối tượng trong tính đa dạng và phong phú của nó.
1.4.2. Nếu tiếp cận tùy bút từ phương diện trữ tình thì có thể lấy cảm
hứng làm tiêu chí cơ bản để phân loại. Dựa trên tiêu chí cảm hứng sáng
tác, có thể phân nhóm tùy bút trữ tình thành các dạng như sau: tùy bút
lãng mạn, tùy bút anh hùng, tùy bút thế sự, tùy bút bi kịch, tùy bút châm
biếm,… Tất nhiên, cảm hứng sáng tác không phải là căn cứ duy nhất để
phân loại nhóm tùy bút trữ tình; còn phải tính đến các yếu tố khác như
nhân vật trữ tình, ngôi trữ tình, phương thức trữ tình. Tuy nhiên, sự khác
biệt trong cảm hứng sáng tác giữa các dạng thuộc nhóm tùy bút trữ tình là
rõ nét hơn cả, vì vậy lấy cảm hứng làm tiêu chí phân định là thỏa đáng.
1.4.3. Sự khác biệt về dung lượng là một tiêu chí hình thức dựa vào đó
có thể phân loại tùy bút thành các kiểu: đoản thiên tùy bút, trung thiên tùy
bút, trường thiên tùy bút. Tạp bút, tạp văn là một dạng biến thể, mang
đầy đủ đặc điểm của đoản thiên tùy bút, vừa đủ để diễn tả gọn ghẽ một
tình huống và bộc lộ một cách đơn tuyến mạch suy tư, xúc cảm của chủ
thể trữ tình.
1.5. Phân biệt tùy bút với bút ký và thơ văn xuôi
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÙY BÚT VIỆT NAM
TỪ 1930 ĐẾN 1975
2.1. Sự hình thành thể loại tùy bút trong văn học Việt Nam
trước 1930
2.1.1. Sự hình thành thể loại tùy bút trong văn học trung đại
Có thể khẳng định ngay rằng trên phương diện lý thuyết, chưa có
sự tồn tại của thể loại tùy bút với đầy đủ những nét đặc trưng nghệ thuật
như ngày nay, trong văn xuôi Việt Nam thời trung đại. Bởi hồn cảnh lịch
sử và cơ sở tâm lý xã hội lúc bấy giờ ưu tiên hơn cho loại văn chương phi
ngã. Cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ phát huy nhiều hơn ở bình diện
nghệ thuật thể hiện, còn nội dung tư tưởng, cảm xúc thì phần lớn phải
phục tùng những quy phạm của lễ giáo phong kiến. Văn chương đáng thờ
trước hết là phương tiện để tải đạo, nghĩa là nhằm phụng sự cho việc duy
trì những chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch. Mặc dù đã thấy xuất hiện
những tác phẩm mang đặc điểm của tùy bút càng lúc càng rõ nét, nhất là ở
giai đoạn cuối, khi nhu cầu khẳng định ý thức cá nhân được làn gió Tây 13
học thổi bùng lên, nhưng trong suốt mười thế kỷ văn chương trung đại
Việt Nam, tùy bút vẫn còn ẩn mình trong ký chứ chưa tồn tại như một thể
loại riêng biệt. Dù sao, những biểu hiện đó cũng là tiền đề cần thiết cho sự
hình thành và phát triển của thể loại này ở thời kỳ hiện đại.
2.1.2. Sự hình thành thể loại tùy bút trong văn học từ 1900 đến 1930
Tính đến năm 1930, tùy bút vẫn chưa xuất hiện trong nền văn học
Việt Nam với tư cách một thể loại riêng biệt. Ở chặng đầu của quá trình
hiện đại hóa, hầu hết các thể loại đều có sự cách tân mạnh mẽ cả về nội
dung tư tưởng và hình thức thể hiện. Nhu cầu về một thể loại văn xuôi
thực sự tự do, vừa có thể diễn tả được mọi trạng thái tình cảm phong phú
sáng tác đông đảo hơn. Hiện thực khốc liệt của 30 năm chiến tranh vệ
quốc lại chính là hồn cảnh để nảy sinh, thử thách và khẳng định biết bao
giá trị có ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội (giữa cá
nhân với cộng đồng, giữa dân tộc với thời đại, giữa chính nghĩa với phi
nghĩa). Chính cái thế giới tâm hồn mênh mông thẳm sâu của con người
Việt Nam trong thử thách hiểm nghèo của lịch sử là mảnh đất màu mỡ, là
nguồn chất liệu thích hợp để hình thành nên những trang tùy bút mang âm
hưởng một thời đại bi hùng.
Cũng không khó khăn gì để nhận ra những điểm hạn chế, trong tình
hình chung của văn chương thời chiến: giọng điệu tùy bút đôi khi đơn
điệu, công thức, mòn sáo; chí thì cao, tình thì nặng, nhưng chưa có nhiều
sáng tạo, cách tân trong bút pháp thể hiện. Tùy bút thích hợp với kiểu độc
tấu tự do, phóng túng, trong khi văn học thời kỳ chiến tranh lại là bản hợp
xướng một bè đậm chất sử thi, nhằm thể hiện tư tưởng và tình cảm của
tồn thể dân tộc. Trong một giai đoạn văn học mà mọi nghĩ suy và hành
động con người đều phải hướng tới việc phụng sự tốt nhất cho cái Ta
cộng đồng thì phương thức biểu hiện của tùy bút chắc chắn ít nhiều có bị
ảnh hưởng.
* Nhìn chung, mặc dù mãi đến thập niên 30 của thế kỷ XX tùy bút mới
thực sự hiện diện với tư cách một thể loại văn xuôi hiện đại, rồi từng bước
khẳng định sự góp mặt xứng đáng bằng nhiều tên tuổi lớn, nhiều tác phẩm
có giá trị, nhưng trước đó, trong các tác phẩm ký trung đại, đã xuất hiện
ngày càng rõ những nét diện mạo cơ bản của nó. So với các thể loại khác,
đội ngũ sáng tác và thành tựu của tùy bút còn khá khiêm tốn. Nhưng rõ
ràng, nó đã có một quá trình hình thành và phát triển theo đúng quy luật
kế thừa - cách tân, có chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cả văn học phương Đông
và phương Tây. Trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại,
ở mỗi giai đoạn thường có một vài thể loại nổi trội lên, để ưu tiên đáp ứng
yêu cầu và tính chất của hồn cảnh lịch sử. Với tùy bút, tình hình có vẻ hơi
khác: một cách lặng lẽ, vừa xông xáo vừa điềm tĩnh, nó thích nghi được
3.1. Văn hóa dân tộc và hiện thực chiến tranh - hai mảng đề tài chính
3.1.1. Tùy bút là một thể loại văn xuôi giàu chất trữ tình, lấy cảm hứng
làm nội dung chính cho tác phẩm. Nó tiếp cận hiện thực đời sống trong
khuynh hướng lý tưởng hóa, luôn đề cao những chuẩn mực của cái Đẹp
và cái Cao cả. Vì thế, các tác gia tùy bút thường quan tâm đến văn hóa
dân tộc với những giá trị vừa ổn định vừa biến thiên theo từng bước
thăng trầm của lịch sử. Văn hóa dân tộc là di sản vô cùng quý báu, nhưng
nó có thể bị xuống cấp hoặc mai một đi, nhất là trong bối cảnh xã hội có
tính chất giao thời. Làm sao đảm bảo được tương quan hợp lý giữa truyền
thống với hiện đại, giữa kế thừa với cách tân trong quá trình giữ gìn và
phát huy vốn văn hóa dân tộc, tránh những biểu hiện lai căng, xu thời, 16
mất gốc - đó chính là nỗi băn khoăn, trăn trở thường trực trong các tác
phẩm tùy bút giai đoạn 1930 - 1975.
3.1.2. Hiện thực 30 năm chiến tranh vệ quốc bi hùng cũng là một mảng
đề tài lớn của tùy bút Việt Nam từ 1930 đến 1975. Không chú tâm vẽ
những bức hồnh tráng về các chiến dịch, về những trận đánh hoặc khắc
họa chân dung những người anh hùng hiên ngang trên chiến trận, tùy bút
về mảng đề tài này ghi lại một cách chân thực và sinh động hiện thực tâm
hồn của con người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đau thương mà vô
cùng anh dũng. Trong bản hợp xướng bi hùng của văn chương thời chiến
tranh, tùy bút là dấu lặng, nốt trầm, không sôi nổi vút lên mà điềm tĩnh
lắng sâu để gợi nhiều hơn tả, nghĩ nhiều hơn kể và cảm nhiều hơn nhận
biết. Do vậy, nó góp phần quan trọng để làm cân bằng và đa dạng hơn
phương thức phản ánh cuộc sống của cả nền văn học.
3.2. Sự đa dạng của cảm hứng
Cảm hứng đóng vai trò quyết định trong tùy bút - một thể loại văn
xuôi đậm đà chất trữ tình và giàu chất thơ. Những thiên tùy bút đặc sắc
khắc nghiệt của lịch sử. Trước hết, cảm hứng lãng mạn được biểu hiện
qua cách nghĩ có hậu về cuộc đời (tùy bút không có cốt truyện nên không
có kiểu kết thúc có hậu). Kiểu bút pháp thích hợp để cụ thể hóa cảm hứng
lãng mạn qua những hình tượng nghệ thuật sinh động là bút pháp thi vị
hóa, biểu hiện ở khuynh hướng cường điệu, phóng đại nhằm tạo nên ấn
tượng sâu đậm về những điều lớn lao, cao cả hoặc những trạng thái cảm
xúc mãnh liệt, những khát vọng cháy bỏng. Cảm hứng lãng mạn còn
được tô đậm bằng việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản, đối lập
để làm nổi bật lên những vẻ đẹp phi thường.
3.2.3. Cảm hứng anh hùng
Đây cũng là một trong những dạng thức cảm hứng lớn của tùy bút
Việt Nam từ 1930 đến 1975. Biểu hiện của cảm hứng anh hùng là khẳng
định và ngợi ca, còn đối tượng của nó là những chiến công lớn lao và
những con người đã góp phần làm nên chiến công ấy. Cảm hứng anh
hùng chủ yếu hiện diện trong các tác phẩm tùy bút thời kỳ 1945 - 1975,
được biểu hiện cụ thể qua việc tập trung khẳng định ý nghĩa nhân văn cao
cả của hai cuộc chiến tranh vệ quốc và ngợi ca vẻ đẹp diệu kỳ của chủ
nghĩa anh hùng cách mạng. Trong giai đoạn đất nước bị ngoại xâm, cảm
hứng anh hùng thường mang màu sắc sử thi (Khái niệm sử thi ở đây được
hiểu theo nghĩa khuynh hướng sử thi, tầm khái quát sử thi chứ không phải
quy mô sử thi). Cảm hứng anh hùng góp phần quan trọng làm nên âm
hưởng sử thi ở các tác phẩm tùy bút, truyền đến cho người đọc niềm tự
hào mãnh liệt về truyền thống vẻ vang của dân tộc, về tư thế hào hùng
của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3.2.4. Cảm hứng trữ tình
Cảm hứng trữ tình nhuần thấm trong những cung bậc xúc cảm của
người nghệ sĩ về cái đẹp - cái đẹp của tự nhiên, nghệ thuật và trong cuộc
sống con người. Qua các tác phẩm tùy bút, những xúc cảm thẩm mỹ được
bộc lộ một cách trực tiếp, làm nên cái mạch trữ tình dạt dào, đằm thắm về
sử - xã hội cụ thể. Mặc dù đôi khi có đề cập đến chuyện thế sự nhưng thay
vì mở rộng tầm nhìn ra cõi nhân sinh rộng lớn, người viết tùy bút có
khuynh hướng lắng sâu vào cõi lòng để tự phát hiện, phân tích, đánh giá.
3.3.2. Loại nhân vật tự sự - trữ tình tuy xuất hiện không phổ biến nhưng
cũng góp phần làm nên diện mạo riêng của tùy bút. Trong khi ưu tiên bộc
lộ mạch cảm xúc và quan điểm của cái tôi chủ quan, người viết tùy bút
thường có khuynh hướng lướt qua những cảnh đời, những số phận khác.
Đôi khi đối tượng trữ tình lại chính là những con người hoặc những sự 19
vật, hiện tượng cụ thể trong hiện thực. Để tán thành hay phản đối, ngợi ca
hay phê phán, trước tiên nhà văn phải làm công việc giới thiệu, miêu tả tỉ
mỉ. Chân dung trữ tình trong trường hợp đó cũng thật sống động, với đầy
đủ những nét ngoại hình, tính cách, diễn biến tâm lý, ngôn ngữ, hành
vi,… như trong các tác phẩm tự sự. Nhưng ở đây, nhân vật không tồn tại
như một thực thể khách quan mà đóng vai trò là cái phần tập trung nhất,
điển hình nhất của hiện thực được tái hiện lại để nhà văn gửi gắm quan
điểm tư tưởng và tâm tư, tình cảm chủ quan của mình.
3.4. Một phức hợp giọng điệu
Có thể khảo sát tính chất phức hợp của giọng điệu tùy bút Việt Nam
từ 1930 đến 1975 qua hai phương diện: sự phong phú, đa dạng của nhiều
kiểu, nhiều cung bậc giọng điệu tùy bút trong nền văn học và sự đan xen,
hòa âm của những sắc điệu khác nhau trong cùng một tác phẩm tùy bút.
3.4.1. Sự phong phú về giọng điệu
Tùy bút thường mang giọng kể chậm, trầm buồn, như những trường
đoạn trầm tư trữ tình có nhiều dấu lặng. Nhịp thời gian, do vậy, cũng
khoan thai, dìu dặt thích hợp cho sự giãi bày, tâm tình chứ không dồn
dập, gấp rút cuốn theo cốt truyện. Đó là nhịp điệu tự nhiên, như dạo chơi,
ngân ra từ sâu thẳm tâm hồn con người. Tuy đội ngũ sáng tác tùy bút giai
câu chuyện, tường thuật lại một sự việc hoặc nhớ lại một trạng huống
cảm xúc từng trải nghiệm; từ đó gợi lên những liên tưởng, tưởng tượng,
rồi bàn rộng thêm ra về cái Đẹp, về nhân tình, về những giá trị văn hóa,
về dân tộc và thời đại. Cũng có khi mạch cảm xúc được khơi nguồn từ
những sự việc hiện tượng đang diễn ra, rồi quay ngược về quá khứ hoặc
liên tưởng tạt ngang một cách đầy ngẫu hứng và bất ngờ để khám phá
mọi chiều kích, mọi tầng bậc của vấn đề. Kiểu mở đầu bằng một tình
huống có vấn đề cũng được các nhà văn sử dụng khá phổ biến.
3.5.2. Mạch tự sự - trữ tình linh hoạt
Mạch trữ tình trong tùy bút được triển khai theo kiểu quy nạp: bắt
đầu bằng những cảm xúc, ấn tượng, liên tưởng, tưởng tượng cụ thể và
chấm dứt bằng những nhận xét, đề xuất, cảm nhận đậm màu sắc chủ
quan. Phần kết thúc của các sáng tác tùy bút tuy giàu sức khái quát nhưng
hình như nhà văn không nhằm mục đích khẳng định một tư tưởng hay đặt
ra một vấn đề to tát nào. Đó là cái dư ba còn lắng lại, đọng lại tất yếu, tự
nhiên sau những cao trào cảm xúc và suy tưởng nên không hề gượng gạo
hoặc có tính chất áp đặt mà luôn mang đến cảm giác nhẹ nhõm, nhân hậu,
tin yêu vào con người và cuộc sống, vào sự bất tử của cái đẹp, cái cao cả. 3.6. Vẻ đẹp. tính sáng tạo và đầy chất thơ của ngôn từ
Vẻ đẹp ngôn từ trong tùy bút được kết tinh từ tài năng, tâm huyết
và sức sáng tạo không ngừng của người nghệ sĩ. Nó vừa là yêu cầu cốt tử
của đặc trưng thể loại vừa là yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên 21
những phong cách tùy bút độc đáo. Sức hấp dẫn của các tác phẩm tùy bút
không chỉ tốt ra từ cái mạch tự sự - trữ tình dào dạt, đắm say mà còn
được thể hiện qua một cách viết đẹp, mang đậm màu sắc văn hóa.
Trong tùy bút, chất thơ tồn tại như một đặc điểm có tính loại hình,
xuyên thấm vào mọi bình diện của tác phẩm, đặc biệt là ở cách thức sử
dụng ngôn ngữ. Điều đặc biệt là hình ảnh trong tùy bút thường mang 22
cùng một lúc hai lớp nghĩa: nghĩa biểu vật (biểu niệm) và nghĩa biểu cảm,
nên nó có khả năng thuyết phục, hấp dẫn cả trí tuệ lẫn tâm hồn độc giả.
Nhịp điệu cũng là một dấu hiệu hình thức quan trọng của chất thơ trong
tùy bút. Nhịp điệu được tạo ra chủ yếu từ cách ngắt nhịp, gieo vần và
phối âm, phối thanh. Nhưng nhịp điệu không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa
như kỹ thuật, kỹ xảo, nó còn bắt nguồn sâu xa từ vẻ đẹp tâm hồn và đời
sống tình cảm chân thành, thiết tha của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.
KẾT LUẬN
1. Tùy bút là một thể loại văn xuôi góp phần quan trọng làm nên sự
phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam hiện đại. Với những nét độc
đáo về loại hình và đặc trưng nghệ thuật, tùy bút tồn tại như một đối
tượng thẩm mỹ vừa lung linh kỳ ảo vừa gần gũi, gợi cảm, luôn có sức hấp
dẫn và mời gọi sự khám phá, đồng sáng tạo. Là một thể loại văn xuôi
phái sinh từ ký, tùy bút đã dần dần tách hẳn ra thành một thể loại độc lập,
mang những đặc điểm riêng biệt. Trong tùy bút, cái tôi cá nhân độc đáo
của người nghệ sĩ vừa là yêu cầu tiên quyết vừa là phẩm chất nghệ thuật
mang tính đặc thù. Yếu tố trữ tình chiếm ưu thế, tạo thành mạch chủ đạo,
ưu trội. Sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình hồn tồn không đơn thuần là vấn
đề kỹ thuật và không tuân theo một nguyên tắc có tính định lượng nào.
Nó là một thuộc tính có nguồn gốc từ trong cảm hứng và tư tưởng nghệ
thuật, như quy luật tự nhiên của sự sáng tạo. Do vậy, về phương diện loại
hình, xếp tùy bút vào loại tự sự - trữ tình là thỏa đáng hơn cả. Tính chất
trung gian, lai ghép có ảnh hưởng quyết định đến hầu hết những bình
việc bày tỏ tư tưởng nghệ thuật và cảm xúc chủ đạo. Đôi khi, chân dung
nhân vật trữ tình lại được khắc họa bằng bút pháp tự sự (có ngoại hình,
tính cách, ngôn ngữ). Kiểu nhân vật tự sự - trữ tình đã góp phần làm nên
nét độc đáo cho tùy bút - một thể loại không thuần chủng. Các dạng thức
cảm hứng nổi bật hơn cả trong tùy bút giai đoạn 1930 - 1975 là cảm hứng
dân tộc - lịch sử, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng anh hùng và cảm hứng
trữ tình. Tùy bút không dung hợp được sự bốc đồng, cực đoan hoặc cao
hứng thái quá, nên nó thường có giọng trầm lắng, trĩu nặng ưu tư, bồi hồi
cảm xúc. Âm hưởng của tùy bút, vì thế, ít vang xa mà vọng sâu, có khả
năng khơi gợi những tình cảm đẹp đẽ và đánh thức những rung động tinh
tế trong tâm hồn con người. Lời văn tùy bút giàu vẻ đẹp, giàu chất thơ và
in rõ dấu ấn cá tính sáng tạo của mỗi nghệ sĩ.
4. Tùy bút là thể loại rất kén tác giả. Sáng tác tùy bút là chấp nhận
đương đầu với thử thách, với sự chọn lọc nghiệt ngã của nghề nghiệp, nên
rất hiếm người gắn bó dài lâu với nó. Sẽ không có tùy bút hay nếu nhà
văn chưa đạt đến độ căng tràn về vốn sống, thăng hoa về trí tuệ và chân
thành, tha thiết đến hồn nhiên trong cảm xúc. Tùy bút như một thứ đặc sản
quý hiếm trong nền văn học, là lõi trầm kết tụ tự nhiên, không sản xuất
đại trà được. Đội ngũ sáng tác tùy bút tuy không đông về số lượng nhưng
gồm những nhà văn có tay nghề vững vàng, có năng lực sáng tạo ngôn
ngữ, có cá tính, tư tưởng và phong cách nghệ thuật độc đáo. Trong số đó,
với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, Nguyễn Tuân hồn tồn xứng đáng ở ngôi vị
hàng đầu. Ông là người khai sinh và góp công sức lớn nhất vào quá trình