Nghiên cứu thành phần loài sán lá đơn chủ (monogenea) ở một số loài cá biển tại hệ sinh thái rừng ngập mặn tiên yên, tỉnh quảng ninh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THỊ HOÀNG HÀ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI SÁN LÁ ĐƠN CHỦ
(MONOGENEA) Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN TẠI HỆ SINH THÁI
RỪNG NGẬP MẶN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành : Động vật học (Ký sinh trùng)
Mã số

: 60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Hà

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do bản thân tôi thực hiện. Các trích
dẫn trong luận văn theo các nguồn công bố đầy đủ. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Nếu sai sự thật tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Tác giả

Nguyễn Thị Hoàng Hà



1.3.1.Điều kiện tự nhiên [7] ........................................................................ 7
1.3.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Tiên Yên – Quảng Ninh [7]................. 8
1.3.3.Đặc điểm chung của sán lá đơn chủ (Monogenea) Van Beneden,
1858 Bychowsky,1937 ................................................................................. 9
CHƯƠNG II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........... 13
2. 1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................. 13
2. 2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu. .......................................................... 15
2. 3. Phương pháp nghiên cứu: ....................................................................... 15
2.4. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất: .................................................................. 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ....................... 20
3.1. Hệ thống phân loại các loài sán lá đơn chủ.............................................. 20
3.2. Mô tả các loài sán lá đơn chủ ................................................................... 21
1. Haliotrema macasarensis (Yamaguti, 1963) Bychowsky & Nagibina,
1971 ......................................................................................................... 21
2. Haliotrema platycephali Yin & Sproston, 1948 ................................. 22
3. Euryhaliotrema johni (Tripathi, 1959) Kritsky & Boeger, 2002 ....... 24
4. Metahaliotrema kulkarnii Venkatanarasaiah, 1981 ............................ 26
5. Metahaliotrema mizellei Venkatanarasaiah, 1981 .............................. 28
6. Metahaliotrema scatophagi Yamaguti, 1953 ..................................... 29
7. Metahaliotrema similis Kritsky, Nguyen, Ha & Heckmann, 2014 .... 31


8. Metahaliotrema ypsilocleithrum Kritsky, Nguyen, Ha & Heckmann,
2014 ......................................................................................................... 33
9. Ligophorus hamulosus Pan et Zhang, 1999 ........................................ 37
10. Ligophorus huitrempeFernández, 1987 ............................................ 38
11. Ligophorus imitans Euzet & Suriano, 1977...................................... 39
12. Ligophorus leporinus (Zhang et Ji, 1981) Gussev, 1985.................. 40
13. Ligophorus sp.1 ................................................................................ 42
14. Ligophorussp.2 .................................................................................. 43

Hình 3.9. Metahaliotrema ypsilocleithrum(theo Kritsky et al., 2016 [34]) ... 34
Hình 3.10. Hình thái móc bám (trái) và cơ quan giao cấu (phải) của
Metahaliotrema spp. ....................................................................................... 36
Hình 3.13.Ligophorus imitans ........................................................................ 40
Hình 3.14. Ligophorusleporinus .................................................................... 41
Hình 3.15.Ligophorussp.1 .............................................................................. 42
Hình 3.16.Ligophorussp.2 .............................................................................. 44
Hình 3.17.Ligophorussp.3 .............................................................................. 45
Hình 3.18.Hình thái móc bám của các loài Ligophorus spp. ......................... 46
Hình 3.19. Calydiscoides flexuosus (Yamaguti, 1953)Young, 1969 ............. 47
Hình 3.20. Diplectanum blairense Gupta & Khanna, 1974 ........................... 49
Hình 3.21.Murraytrema pricei Bychowsky, 1977 ......................................... 50


CHỮ VIẾT TẮT
1. MCO: Cơ quan giao phối đực.
2. PCR:
3. Haptor:
4. Ootyp: tử cung.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Sán lá đơn chủ (Monogenea) là nhóm ký sinh trùng có kích thước nhỏ,
sống ký sinh chủ yếu trên cá. Nhóm động vật này ký sinh ở cả cá nuôi và cá tự
nhiên, một số loài có khả năng gây ra tỷ lệ tử vong cao đối với các loài cá.
Chúng có chu trình sống phát triển trực tiếp, lây nhiễm trực tiếp từ cá thể vật
chủ này sang cá thể vật chủ khác. Hầu hết các loài sán lá đơn chủ sống, di
chuyển tự do trên bề mặt các tế bào biểu mô của mang và da nhờ chất nhầy của
cá. Vì có đời sống phát triển trực tiếp (đơn vật chủ) nên mối quan hệ giữa sán



CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu sán lá đơn chủ ở các nước lân cận:
Nghiên cứu về khu hệ sán lá đơn chủ ở biển Đông và các vùng biển lân
cận thời gian gần đây mới được quan tâm nghiên cứu sâu rộng. Ở Trung Quốc,
Yamaguti (1937) mô tả loài sán lá đơn chủ đầu tiên Axine chinensis từ cá
Hapalogenys mitens trên vùng biển phía đông nhưng mãi đến 12 năm sau mới
có công trình tiếp theo về đối tượng này khi Yin và Sproston (1949) [60] phát
hiện 2 giống Ancyrocephalus và Haliotrema. Năm 2003, Jianying và cộng sự
[31] đã thống kê được 337 loài sán lá đơn chủ thuộc 146 giống, 31 họ ký sinh
trên cá biển Trung Quốc, một số loài trong số đó trích dẫn nguồn tài liệu nghiên
cứu ở biển Đông của Việt Nam.
Vùng đảo Ludon (Philippin) nằm phía Đông của biển Đông được nghiên
cứu thành phần sán lá đơn chủ từ khá sớm. Tubangui (1931) [55] phát hiện 3
loài sán lá đơn chủ mới thuộc họ Dactylogyridae và Microcotylidae ở các loài
cá hồng và cá đìa. Sau đó, Valasquez (1982) [56] và Rohde (1989) [47] phát
hiện thêm 10 loài sán lá đơn chủ ở vùng biển này. Đến nay, mới khoảng 20 loài
sán lá đơn chủ được phát hiện ở vùng biển Philippin.
Ở các vùng biển ở phía Nam của biển Đông, Yamaguti (1953) [58] lần
đầu tiên mô tả 28 loài sán lá đơn chủ ở biển Makassar (Inđônêxia). Năm 1990
- 2000, nhiều loài sán lá đơn chủ mới được phát hiện ở ngoài khơi Peninsular
Malaysia. Năm 1998, Lim [39] đã tổng hợp được 113 loài sán lá đơn chủ ký
sinh ở 69 loài cá biển trong các vùng biển Đông Nam Á; Malaysia có thành
phần loài sán lá đơn chủ nhiều nhất - 57 loài, tiếp đến là Inđônêxia – 32 loài,
Việt Nam – 25 loài, Philippin – 14 loài.
Tuy nhiên trong 10 năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện khoảng
20 loài sán lá đơn chủ mới cho khoa học ở các vùng biển xung quanh biển
Đông, trong đó 7 loài ở biển Trung Quốc (Cao et al., 2010 [11]; Tingbao et al.,


4


Lebedev [37] đã công bố 28 loài sán lá đơn chủ từ 26 loài cá nổi nghiên cứu.
Cũng trong năm này, Mamaev [41] đã công bố 15 loài sán lá đơn chủ ở 9 loài
cá biển ở vịnh Bắc bộ trong công trình “Giun sán ký sinh ở một số loài cá thực
phẩm ở vịnh Bắc bộ”. Sau đó, một số công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm
giun sán ở cá biển tiếp tục được công bố, một số loài sán lá đơn chủ mới được
mô tả.
Năm 1998, khi nghiên cứu về thành phần ký sinh trùng ở 3 loài cá Song
nuôi ở vịnh Hạ Long, gồm cá Song sáu sọc (Epinephelus sexfasciatus), cá Song
mỡ (E. tauvina) và cá Song (E. bruneus), Bùi Quang Tề [6] đãphát hiện 13 loài
ký sinh trùng, trong đó ghi nhận 5 loài sán lá đơn chủ (Benedenia epinepheli,
Benedenia sp., Diplectanum hargisi, Haliotrema sp., Pseudorhabdosynochus
epinepheli) có tỷ lệ nhiễm rất cao từ 71,4-93,8%.
Võ Thế Dũng (2005) [2] khi nghiên cứu 3 loài cá Mú nuôi ở tỉnh Khánh
Hòa đã ghi nhận một số loài sán lá đơn chủ.
Arthur & Bui (2006) [10] trong công trình “Checklist of the parasites of
fishes of Vietnam” đã tổng hợp được 56 loài sán lá đơn chủ ở cá biển Việt Nam,
chủ yếu do các nhà khoa học người Nga phát hiện.
Năm 2006, Phan Thi Vanet al. [8]nghiên cứu tác nhân gây bệnh phổ biến
ở cá Mú và cá Giò nuôi, đã xác định loài sán lá đơn chủ Pseudorhabdosynochus
epinepheli gây bệnh nguy hiểm với cường độ nhiễm khá cao ở cá Giò ở Quảng
Ninh và Hải Phòng. Đây là một trong số ít công trình nghiên cứu về bệnh ký
sinh trùng trên cá biển nuôi ở Bắc Việt Nam.
Đo Thi Hoa et al. (2008) [4] khi nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở
cá biển nuôi ở Khánh Hòa đã phát hiện các loài sán lá đơn chủ Neobenedenia
melleni, N. girellae, N.epinepheli và Neobenedenia sp. là tác nhân chính gây
bệnh mè cá (bệnh ngoài da). Ngoài ra, các tác giả còn phát hiện các loài
Haliotrema sp., Diplectanum sp. và Pseudorhabdosynochus sp. là tác nhân gây

ngoài khơi vịnh Bắc Bộ (Việt Nam).
Tổng cộng 95 loài sán lá đơn chủ đã được phát hiện và ghi nhận ở khoảng
hơn 30 loài cá biển Việt Nam, đây là con số rất nhỏ so với số lượng loài cá biển
được thống kê ở biển Việt Nam. Đặc biệt, theo thống kê có khoảng 160 loài cá

6


biển kinh tế nhưng mới chỉ có khoảng 10% trong số đó được nghiên cứu về
bệnh ký sinh trùng ở một vài vùng biển của Việt Nam.
Qua các kết quả phân tích ở trên cho thấy chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về bệnh ở các loài cá kinh tế được nuôi trên các vùng biển Việt
Nam, đặc biệt ở các vùng nuôi lớn như Cát Bà (Hải Phòng), Vân Đồn, Bái Tử
Long (Quảng Ninh) hoặc Phú Quốc (Kiên Giang). Tiên Yên (Quảng Ninh).
Nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Hồng mỹ, cá Vược nhật chưa được
nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh do ký sinh trùng gây ra. Đặc biệt, còn thiếu
các dẫn liệu về ký sinh trùng trên các loài cá có giá trị kinh tế ngoài tự nhiên
nhưng chưa được nhân nuôi.
1.3. Đặc điểm khu vực rừng ngập mặn Tiên Yên, Quảng Ninh
1.3.1.Điều kiện tự nhiên [7]
Vịnh Tiên Yên nằm ở vùng bờ biển Đông Bắc Việt Nam, có chiều dài
khoảng 50 km, chiều rộng trung bình 7 km với tổng diện tích gần 400 km2.
Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở phía Bắc, Tây và tây Nam của vịnh Tiên
Yên. Thực vật ngập mặn phát triển tập trung ở khu vực xã Đồng Rui, huyện
Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Đồng Rui là khu rừng ngập mặn điển hình nhất tại
miền Đông Bắc Việt Nam. Vịnh Tiên Yên trao đổi nước với vịnh Bắc Bộ qua
5 cửa chính gồm Cửa Tiểu, Cửa Đại, Bò Vàng, Cửa Mô và Đầu Tán, đồng thời
được che chắn bởi hệ thống đảo Cái Bầu, Vạn Vược, Vạn Mực, Cái Chiên và
Vĩnh Thực tạo thành vịnh tương đối kín, phù hợp với sự phát triển nghề nuôi
trồng hải sản. Vịnh Tiên Yên cũng chịu ảnh hưởng của các sông từ đất liền

năm. Hầu hết các loài cá ở đây có nguồn gốc biển, chỉ có một số ít loài có nguồn
gốc nước ngọt.
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ ở khu vực
rừng ngập mặn Tiên Yên là rất lớn, lớn hơn nhiều so với tiềm năng khai thác
nguồn lợi tự nhiên do có điều kiện tự nhiên ưu đãi, nước biển trong, độ mặn
cao, nguồn thức ăn dồi dào. Qua khảo sát, một số đối tượng thủy sản đang được
nuôi ở khu vực này là cá Song, Mú (nuôi lồng), cá Vược, cá Đối (nuôi đầm),
cá Bống bớp, cá Dìa, cá Nâu (nuôi lồng), hàu, vẹm (nuôi giàn), ngao, ngán, sò

8


lông, sò huyết (nuôi thả trên bãi triều), tôm Rảo, cua Xanh (nuôi trong đầm).
1.3.3.Đặc điểm chung của sán lá đơn chủ (Monogenea) Van Beneden, 1858
Bychowsky,1937
Sán lá đơn chủ là nhóm động vật thuộc ngành giun dẹp (Plathelminthes),
chủ yếu ký sinh ở cá, một số loài gặp ở lưỡng cư, bò sát, thú nước. Cho đến
nay, trên thế giới đã phát hiện khoảng 500 loài. Phần lớn các loài có đời sống
ngoại ký sinh, một số rất ít có đời sống nội ký sinh.
Sán lá đơn chủ có chu trình phát triển đơn giản, không thay đổi vật chủ.
Từ trứng hình thành ấu trùng không sai khác lắm với cá thể trưởng thành.
a) Đặc điểm hình thái cấu tạo:
Cơ thể dẹp, hình lá, dài khoảng 0,02 – 30 mm phụ thuộc vào kích thước
vật chủ: vật chủ càng lớn thì vật ký sinh càng lớn, ngoài ra yếu tố môi trường
cũng ảnh hưởng đến kích thước cơ thể vật ký sinh, ví dụ: loài
Gyrodactyluscernuae ở các tháng mùa đông có kích thước cơ thể lớn hơn các
tháng mùa hè.
Đa số cơ thể sán lá đơn chủ chia làm hai phần: cơ quan bám và phần thân
chứa đựng các nội quan.
Cơ quan bám:

còn nhiều tế bào tuyến đổ ra trước hầu, cạnh thực quản và tế bào tuyến nằm
trực tiếp trong biểu mô ruột giúp làm hòa tan thức ăn. Tế bào tuyến không có
trong biểu mô ruột ở sán lá đơn chủ bậc thấp.
Hệ sinh dục lưỡng tính
Cấu tạo theo kiểu chung của ngành giun dẹp, tuy nhiên có một số đặc
điểm riêng, chủ yếu là ống dẫn của hệ sinh dục cái phức tạp hơn so với sán lá
và sán dây. Đó là dấu hiệu nguyên thủy nói lên cấu tạo của hệ sinh dục còn
chưa hoàn chỉnh.
Cơ quan sinh dục đực gồm có tinh hoàn, ống dẫn tinh, tuyến sinh dục
phụ và cơ quan giao phối. Số lượng tinh hoàn biến đổi tùy loài, từ một, hai đến

10


vài trăm tinh hoàn. Từ tinh hoàn có các ống dẫn tinh bé nối với nhau (thường
ở giữa cơ thể) tạp thành ống dẫn tinh dài, cong, khi phình ra tạo thành túi chứa
tinh và cuối cùng là ống phóng tinh. Cấu tạo của ống dẫn tinh sai khác tùy loài.
Cơ quan sinh dục cái chỉ có một buồng trứng, ống dẫn trứng ngắn đổ vào
trong ootyp. Ở nhiều loài có túi nhận tinh. Đặc biệt có ống ngắn, hẹp nối từ ống
dẫn trứng với ruột gọi là ống “ruột – sinh dục’’ có chức năng như ống lôrơ ở
sán lá (thải các sản phẩm sinh dục thừa trong quá trình hình thành trứng).Từ
ootyp nối với ống tử cung ngắn. Lỗ sinh dục mở ra ở mặt bụng của phần trước
cơ thể.
b) Chu trình phát triển
Sán lá đơn chủ phát triển không xen kẽ thế hệ và không đổi chủ.
Sán lá đơn chủ đẻ trứng, một số loài đẻ con (Gyrodactylidae). Trứng có
cấu tạo phức tạp, hình dạng rất khác nhau tùy loài, trứng thường có râu ở một
hoặc hai cực để giúp trứng trôi nổi trên mặt nước hoặc dính vào cây thủy sinh
hoặc bám dính vào mang, da của vật chủ để phát triển thành ấu trùng ở môi
trường ngoài (trừ bộ Gyrodactylidae).



CHƯƠNG II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. 1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là các loài sán lá đơn chủ thuộc các họ
Ancyrocephalidae, Diplectanidae.
Các loài cá bao gồm cả cá nuôi, cá tự nhiên phổ biến đang được nuôi và
đánh bắt ở khu vực rừng ngập mặn Tiên Yên (Quảng Ninh).
Bảng 2. 1. Thành phần, số lượng vật chủ cá nghiên cứu
TT

Số lượng

Tên khoa học

Tên tiếng Việt

Mugilidae

Họ cá Đối

1

Mugil cephalus Linnaeus

Cá Đối mục

10

2


Sillaginidae

Họ cá Đục

Sillago sihama (Forsskal)

Cá Đục bạc

Lutjanidae

Họ cá Hồng

Lutjanus johni (Bloch)

Cá Hường

Platycephalidae

Họ cá Chai

Platycephalus indicus

Cá Chai Ấn độ

27

Tổng

149

Cá Đối anh

Cá Lượng nhật

Cá Nâu

Cá Đù nanh

Cá Đục bạc

Cá Hường

Cá Chai ấn độ

Hình 2. 1. Ảnh chụp các mẫu vật chủ trước khi tiến hành nghiên cứu

14


2. 2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
Đề tài đã tiến hành điều tra thu mẫu ven biển ở khu vực rừng ngập mặn
Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh từ tháng 9/2015 đến tháng 3/2017.

Hình 2.2. Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Hình 2. 3. Một điểm nghiên cứu ở rừng ngập mặn Tiên Yên, Quảng Ninh
2. 3. Phương pháp nghiên cứu:
Thu mẫu và xác định loài cá: Cá được đánh bắt bằng câu hoặc đánh
lưới, mẫu cá được bảo quản bằng đá lạnh trong thùng xốp trước khi phân


nhuộm ngay tức thì, tránh mẫu bị bắt màu quá đậm.

16


- Gắp mẫu đã nhuộm cho vào dung dịch cồn etanol 70%, ngâm trong thời
gian 5 phút.
- Gắp mẫu sang cồn etanol 80%, ngâm trong 5 phút.
- Gắp mẫu sang cồn etanol 90%, ngâm trong 5 phút.
- Gắp mẫu sang cồn etanol 100%, ngâm trong 5 phút.
* Giai đoạn làm trong mẫu:
- Sau khi loại nước, làm trong mẫu bằng xylen hoặc thinh dầu Đinh
hương khoảng 10 phút (nếu mẫu có kích thước to hơn thì thời gian ngâm trong
có thể dài hơn khoảng 20 phút).
* Giai đoạn gắn tiêu bản và ghi nhãn
- Mẫu đã rõ các nội quan khi quan sát dưới kính lúp soi nổi Olympus
SZ51 thì được gắn tiêu bản. Nhỏ một giọt bom canada pha loãng lên lam kính,
dàn mỏng, gắp mẫu đặt lên (theo đúng chiều và có độ dàn phẳng nhất), dùng
lamen đậy lên. Giữ cố định cho mẫu khô, ghi tên loài và kí hiệu lên lam kính
đã gắn mẫu. Khi mẫu tiêu bản khô cất vào trong hộp đựng tiêu bản.
Định loại sán lá đơn chủ: Đo vẽ và chụp ảnh mẫu tiêu bản gắn gelatinglyxerin và tiêu bản nhuộm trên kính hiển vi quang học Olympus CH40 (hình
2.4; 2.5); đối chiếu với các tài liệu phân loại hiện hành để xác định tên khoa
học của loài.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status