i
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
PHẠM THỊ MAI
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG HOA ĐỒNG TIỀN (GERBERA JAMESONII) BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ĐỘT BIẾN KẾT HỢP VỚI NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ ĐỨC THẢO
Hà Nội, 12/2015
ii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đã trực tiếp thực hiện các nghiên cứu trong luận văn này. Mọi kết
quả thu được nguyên bản, không chỉnh sửa hoặc sao chép từ các nghiên cứu khác. Các số
liệu chưa từng được công bố trong luận án, luận văn nào trước đây.
Mọi dữ liệu trích dẫn tham khảo trong luận văn đều được thu thập và sử dụng từ
nguồn dữ liệu mở hoặc với sự đồng ý của tác giả.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những lời cam đoan trên!
Tác giả
iv
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT........................................................... vi DANH MỤC
BẢNG .................................................................................................... vii DANH MỤC BẢNG
....................................................................................................
vii
DANH
MỤC
....................................................................................................viii
HÌNH
MỞ
ĐẦU......................................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................ 2
1.3. Yêu cầu của đề tài ................................................................................................. 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................................. 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................... 4
1.1. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa đồng tiền ............... 4
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hoa đồng tiền ............................................................... 6
1.3. Tình hình sản xuất hoa đồng tiền trên thế giới và ở Việt Nam. ............................ 8
1.4. Tổng quan về phương pháp chiếu xạ gây đột biến tạo vật liệu khởi đầu trong chọn
vi
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
-NAA
: - Naphtylaxetic acid
2,4 - D
: 2,4 -Dichlorophenoxyacetic acid
Agar
: Thạch
BAP CT
: 6 - Benzyl Amino Purin
CS
: Công thức
DT1
: Cộng sự
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa đồng tiền ..................................................9
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của chất 2,4-D tỷ lệ tạo mô sẹo của các giống hoa đồng tiền (Sau
4 tuần nuôi cấy) .............................................................................................................26
60
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ tia γ nguồn Co đến tỷ lệ sống và hình thái
của mô sẹo đồng tiền in vitro (Sau 4 tuần chiếu xạ) ..............................................27
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều chiếu xạ đến khả năng tái sinh chồi từ mô sẹo các giống
đồng tiền sau 2 tháng nuôi cấy ......................................................................................29
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều chiếu xạ tia γ nguồn Co
60
đến hệ số nhân chồi và hình thái
chồi đồng tiền in vitro.............................................................................................30
60
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ tia γ nguồn Co tới khả năng ra rễ của
chồi đồng tiền in vitro (Sau 2 tuần nuôi cấy) ................................................................32
60
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của các liều chiếu xạ tia γ nguồn Co tới cây con đồng tiền ở giai
đoạn vườn ươm.......................................................................................................34
Bảng 3.7. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng
.......................................................................................................................................36
Bảng 3.8. Động thái ra lá của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng ..........................38
Bảng 3.9. Khả năng đẻ nhánh của các giống đồng tiền ngoài đồng ruộng ...................39
Bảng 3.10. Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống đồng tiền đột biến ngoài đồng
2009) [9].
Nhờ đặc điểm ưu việt đó, mặc dù mới du nhập vào nước ta song hoa đồng tiền đã
được người tiêu dùng rất ưa chuộng và hiện đang là loại hoa có giá trị kinh tế cao. Nắm bắt
được thực trạng đó rất nhiều người làm vườn đã chuyển sang trồng hoa đồng tiền và mang
lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.
Trước đây, hoa đồng tiền chủ yếu được nhân giống bằng tách chồi(Lê Huy Hàm và cs,
2012) [7]. Phương pháp này thực hiện khá đơn giản, ít tốn kém song chất lượng cây giống
ban đầu thường thấp, nhanh bị thoái hóa do nấm bệnh và virut. Trong nhiều năm trở lại đây,
cùng với sự phát triển của công nghệ tế bào thực vật, với ưu điểm hệ số nhân giống cao,
chất lượng được đảm bảo nên cây giống in vitrođồng tiền đã dần thay thế cây giống tách
chồi.
Trong chọn giống, lai giống nhân tạo dù có tiềm năng vô hạn trong việc tạo ra các tổ hợp
có đặc tính mới mà có thể được chọn lọc trong quần thể phân ly nhưng nó chỉ là sự phân bổ
lại và tái tổ hợp nguồn gen sẵn có(Nguyễn Minh Công, 2005) [4]. Vấn đề là sự giới hạn
nguồn gen trong tự nhiên và tỷ lệ đột biến tự nhiên rất thấp, chỉ khoảng
-7
10 . Ngược lại, phương pháp đột biến có thể cải tiến tính trạng đơn mà không gây ra
sự tổn thương sâu trong bộ gen, đồng thời làm tăng nguồn tài nguyên di truyền cho lai giống
nhân tạo và các biến dị di truyền mới có khả năng thích ứng tốt. Việc sử dụng kỹ thuật đột
biến trong cải tiến giống cây trồng trong những thập kỷ qua cho thấy nó là phương pháp
chọn giống hiệu quả nhằm cải tiến năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với các
yếu tố sinh học và phi sinh học. Bởi vậy phương pháp đột biến đang được sử dụng một
cách hiệu quả trong cải tiến giống cây trồng (Trần Duy Quý,
1997) [13].
2
Đối với cây hoa, việc xử lý đột biến có nhiều thuận lợi hơn so với các loại cây lương
thực do tính chất sử dụng của nó ít dẫn đến sự lo ngại về sức khoẻ của con người(Nguyễn
- Theo dõi đánh giá khả năng xuất hiện biến dị ngoài đồng ruộng và xác định những
dòng biến dị có triển vọng phục vụ cho công việc chọn tạo giống hoa đồng tiền mới.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của liều chiếu xạ đến tỷ lệ sống, khả năng tái sinh chồi,
hệ số nhân, khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng xuất hiện biến dị của cây hoa
đồng tiềnin vitro sau chiếu xạ.
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ đến khả năng sinh trưởng
và phát triển của cây con nuôi cấy mô ở giai đoạn vườn ươm.
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều chiếu xạ đến khả năng sinh trưởng, phát triển,
các tính trạng nông sinh học và khả năng xuất hiện biến dị của các giống đồng tiền nghiên
cứu ngoài đồng ruộng từ đó chọn lọc được những dòng biến dị triển vọng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học bước đầu về ứng dụng của phương pháp chiếu
60
xạ tia Gamma nguồn Co trong chọn giống hoa đồng tiền.
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy có giá trị cho lĩnh vực công nghệ sinh học và chọn tạo giống cây trồng.
1.4.2. Ý nghĩa thực tễn
Đề tài đã tạo ra các dòng hoa đồng tiền đột biến có triển vọng, là cơ sở cho chọn giống
hoa đồng tiền mới bằng phương pháp chiếu xạ.
4
Chƣơng1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa đồng tiền
1.1.1. Nguồn gốc, vị trí, phân loại
Cây hoa đồng tiền có tên khoa học là Gerbera jamesonii, có nguồn gốc từ Nam Phi
rộng hơn ở đỉnh.
- Hoa: Hoa đồng tiền có dạng cụm, hoa đầu lớn, cụm hoa dạng đầu, bề ngoài là một
bông hoa nhưng trên thực tế là một tập hợp nhiều bông hoa nhỏ riêng biệt. Phía ngoài hoa
hình lưỡi tương đối lớn mọc xếp thành một hoặc vài vòng. Do sự thay đổi hình thái và màu
sắc nên tâm hoa rất được chú ý trong chọn tạo giống mới. Hoa đồng tiền nở theo thứ tự từ
ngoài vào trong, hoa hình lưỡi nở trước, hoa hình tia nở sau theo từng vòng một, kích thước
từ 5 - 12 cm.
- Quả: Quả đồng tiền thuộc dạng quả bế có lông, không có nội nhũ, hạt nhỏ, một
gam hạt có khoảng 280 - 300 hạt. Do vậy sức sống và điều kiện nảy mầm là khó khăn. Tuy
nhiên cây có khả năng đẻ nhánh rất cao.
Hoa đồng tiền có khoảng 40 loài thuộc loại hoa lưu niên ra hoa quanh năm, độ bền
hoa cắt cao, được coi là 1 loài hoa đẹp trong thế giới hoa. Dựa vào hình thái hoa, người ta
chia thành 3 nhóm: Hoa kép, hoa đơn và hoa đơn nhị kép (Đặng Văn Đông vàĐinh Thế Lộc,
2003) [5]
Nhóm 1 - Đồng tiền đơn: Hoa chỉ có một hoặc 2 tầng cánh, xếp xen kẽ nhau tạo
vòng tròn. Hoa mỏng và yếu hơn hoa kép, màu sắc hoa ít hơn, điển hình là trắng, đỏ, tím,
hồng.
Nhóm 2 - Hoa đồng tiền kép: Cánh hoa to gồm hơn 2 tầng, bông to, đường kính có
thể đạt tới 12 - 15 cm, cánh hoa tụ lại thành bông nằm ở đầu trục chính, cuống dài
40 - 60 cm. Màu sắc đa dạng như trắng, đỏ, vàng, hồng, gạch cua.
Nhóm 3 - Hoa đơn nhị kép: Bên ngoài cùng cánh đơn, bên trong cánh kép dày đặc,
thường màu trắng trong lớp cánh kép màu cánh sen nhưng nhóm này không đẹp bằng hoa
kép.
Như vậy, trong ba nhóm hoa trên, đồng tiền kép là nhóm hoa có giá trị cao, được
ưa chuộng hơn cả và cũng là đối tượng lý tưởng của nuôi cấy mô tế bào thực vật.
6
1.2.4. Đất
Hoa đồng tiền không đòi hỏi khắt khe về đất, chúng thích hợp với đất tơi xốp, nhiều
mùn, độ pH từ 6 - 6,5. Đất thịt pha cát, ở vùng đất kiềm cần bón phân mang tính chua để cải
tạo. Cũng có thểhttbón
phân.lrchứa
lưu huỳnh để giảm độ pH. Ở vùng đất
p://www
c.tnu.edu.vn
7
chua có thể bón thêm vôi để điều tiết độ chua, ở nơi đất thịt nặng nên bón thêm lá cây mục,
vỏ trấu, bã rượu để tăng độ tơi xốp.
Đất trồng hoa đồng tiền cần thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp và ổn định. Mực
nước ngầm cao thường đọng nước, rễ cây dễ bị thối và bị bệnh nên phải có hệ thống thoát
nước tốt, xung quanh phải đào rãnh thoát nước sâu từ 0,7 - 1,0 m và lên luống cao, hết sức
tránh trồng đồng tiền nơi đất trũng (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003; Lê Huy Hàm và
cs, 2012) [5] [7].
1.2.5. Dinh dưỡng
Các loại phân hữu cơ, phân vô cơ, phân vi lượng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất của hoa đồng tiền.
- Phân hữu cơ chứa hầu hết các nguyên tố đã lượng và vi lượng cây cần, do đó không
làm mất cân đối dinh dưỡng trong cây, giúp cây sinh trưởng tốt, bền, khỏe, hoa đẹp. Tuy
nhiên loại phân này có tác dụng chậm đối với cây và gây ô nhiễm môi trường, do vậy
cần phải ủ hoai mục. Nếu dùng bón lót, thì trộn ủ với lân vi sinh, nếu bón thúc thì dùng nước
phân đã ngâm ủ hòa với một lượng đạm nhỏ để tưới.
- Phân vô cơ: Đạm, lân, kali, canxi là những yếu tố không thể thiếu đối với cây đồng
tiền.
+ Đạm có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. Đồng tiền cần
nhiều đạm vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, lượng đạm nguyên chất sử dụng cho 1 ha
mái che, có trang bị hệ thống điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, nước tưới, bón phân
bằng chế độ tự động hoặc bán tự động. Do đó, năng suất và chất lượng hoa đồng tiền của
nước này rất cao, đạt 4,8 triệu bông/ha/năm (Đào Thị Thanh Bằng và cs, 2007) [2].
Theo thống kê năm 2009, diện tích trồng hoa đồng tiền ở Hà Lan là hơn 10.000 ha,
đạt giá trị sản lượngtrên5 triệu USD. Hầu hết các giống hoa đồng tiền tại Hà Lan là những
giống hoa lai, hoa to, được những nhà chọn tạo giống của Hà Lan tạo ra, trong đó công ty
Florist của Hà Lan là một cơ sở quan trọng về nghiên cứu, buôn bán và sản xuất hoa đồng
tiền của thế giới.
Diện tích trồng hoađồng tiền trên thế giới hiện nay là 305.105 ha, trong đó tổng diện
tích ở châu Âu là 44.444 ha, Bắc Mỹ 22.388 ha, Châu Á và Thái Bình Dương
215.386 ha, giữa Đông và Phi 2.282 ha và miền Trung và Nam châu Phi 17.605 ha, Ấn
9
Độ có diện tích trồng hoa lớn nhất (88.600 ha) tiếp theo là Trung Quốc (59.527 ha), Indonesia
(34.000 ha), Nhật Bản (21.218 ha), Hoa Kỳ (16.400 ha), Brazil (10.285 ha), Đài Loan (9,661
ha), Hà Lan (8017 ha), Italy (7,654 ha), Anh (6.804 ha), Đức (6621 ha) và Colombia (4757
ha) và diện tích đang tăng đều đặn (Dr.S.Sudhagar M.Com và cs, 2013) [53]. Việc sản xuất
các loại hoa này tăng lên đáng kể do nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm hoa cắt trên thế
giới. Việc tiêu thụ thế giới của hoa cắt cành và cây trồng ngày càng tăng và tăng ổn định
hàng năm từ 10 đến 15% trong tất cả các nước nhập khẩu (Nguyễn Văn Hồng, 2009)[9].
Tại Nepal, theo báo cáo của FAN (Food and Agricuture in Nepal), diện tích trồng hoa
đồng tiền năm 2012 - 2013 là 87 ha, cao gần gấp đôi so với năm 2011 - 2012 (45 ha), trong
khi đó chỉ có 15 ha trong năm 2005 - 2006 (Bảng 2.1). Số liệu này cho thấy diện tích trồng
hoa đồng tiền không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, diện tích trồng năm 2012 2013 gần gấp đôi so với diện tích trồng hoa đồng tiền năm
2011 - 2012 (Shankar Paudel, 2014) [52]
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa đồng tiền
Năm
1500-
1500-
3000-
5000-
5000-
(cành/ngày)
1000
1500
2000
2500
2500
4000
7000
7000
(ha)
Trong đó giống của Hà Lan cho chất lượng cao nhất với nhiều màu sắc khác nhau.
Ở Lâm Đồng, sản xuất mở rộng nhanh chóng, gia tăng hàng chục lần về quy mô,
chỉ trong vài năm do nhu cầu gia tăng của thị trường tiêu dùng. Diện tích hoa tăng từ khoảng
60 ha những năm đầu 1990 lên 750 ha năm 2003 và trên 3.200 ha gieo trồng vào năm 2009,
trong đó riêng thành phố Đà Lạt đã chiếm hơn 60% diện tích gieo trồng của cả tỉnh. Trình độ
sản xuất cũng không ngừng được đổi mới, cải thiện nhờ sự bùng nổ ứng dụng giống mới,
tiến bộ kỹthuật và công nghệ sản xuất tiên tiến (Phạm Xuân Tùng, 2009) [18] .
Với sự gia tăng về số lượng của chủng giống hoa đồng tiền thì diện tích đất trồng
hoa đồng tiền của nước ta cũng tăng rất nhanh. Năm 2005, trong tổng số diện thích trồng
hoa của cả nước thì cây đồng tiền chiếm 9% tăng 1,8 lần so với năm 1995 và tăng gấp 1,3 lần
so với năm 2000 (Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Đức Thảo, 2007) [11].
11
Hiện nay ở Việt Nam, có khoảng hơn 30 giống hoa đồng tiến khác nhau đang được
trồng ngoài sản xuất [66], các giống này có nguồn gốc từ Hà Lan, Trung Quốc, màu sắc phong
phú, đa dạng. Hoa được trồng chủ yếu ở Đà Lạt và các nơi có khí hậu mát mẻ.
Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc diện tích hoa của toàn vùng có 135,7 ha.
Trong đó, cây đồng tiền có 9,7 ha chiếm khoảng 0,07% trong cơ cấu tổng diện tích. Sản lượng
hoa của vùng đạt 44,08 triệu bông, trong đó sản lượng hoa đồng tiền đạt 3,1 triệu
bông(Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Đức Thảo, 2007) [11].
Do trồng hoa đồng tiền mang lại thu nhập rất cao nên nhiều năm qua, nhiều địa
phương, hộ gia đình đã tự tìm hiểu để phát triển, trồng loại hoa này. Điển hình các vùng
trồng hoa đồng tiền tập trung có quy mô lớn từ vài chục ha là Đà Lạt (Lâm Đồng), Vĩnh
Tuy (Hà Nội), Bắc Ninh, Bắc Giang ....
1.4.Tổng quan về phƣơng pháp chiếu xạ gây đột biến tạo vật liệu khởi đầu trong chọn
giống cây trồng
Mỗi một kiểu gen nhất định của một giống chỉ cho một năng suất nhất định. Trong
cho cây. Trong những năm gần đây, việc phát triển phương pháp mới - xử lý đột biến trong
nuôi cấy in vitro đã mở ra triển vọng lớn trong cải tạo giống cây trồng. Nhờ đó, tần số và phổ
biến dị dòng soma đã được tăng lên đáng kể. Một trong những ưu điểm nữa của gây tạo đột
biến trong nuôi cấy in vitro là khả năng tạo đột biến ở giai đoạn sớm của quá trình hình
thành và phát triển cá thể (phôi non hoặc mô sẹo). Nhờ vậy, tần số đột biến cao và khả năng
thu nhận những thể đột biến đồng nhất về kiểu gen trở nên dễ dàng hơn. Nuôi cấy in vitro
không những là công cụ hữu hiệu để lưu giữ, duy trì và nhân những thể đột biến lạ, quý hiếm
mà còn là phương pháp phân lập và làm thuần những dòng đột biến có hiệu quả. Trong nhiều
trường hợp, nuôi cấy in vitro là cách có hiệu quả nhất để duy trì và bảo quản những biến dị
di truyền, đặc biệt là những thể đột biến khảm, nhờ đó khắc phục được sự đào thải của
những tế bào quý hiếm do tính cạnh tranh trong mô.
1.4.3. Một số kết quả nghiên cứu về sử dụng chiếu xạ gây đột biến tạo vật liệu khởi đầu
trong chọn giống hoa
1.4.3.1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới
Đối với chọn tạo cây hoa, đột biến là biện pháp có hiệu quả cao để tăng cường nguồn
biến dị di truyền và hỗ trợ đắc lực trong chọn giống. Cho đến nay, có hàng nghìn
13
giống hoa, cây cảnh đột biến được chính thức công nhận trên thế giới. Một số đặc điểm
thường được quan tâm khi chọn giống hoa, cây cảnh đột biến là: Thay đổi màu sắc hoa, đặc
điểm hình thái hoa, màu sắc lá, giảm thời gian sinh trưởng,… Trong số các tác nhân đột biến,
tia Gamma thường được sử dụng và được nghiên cứu từ rất sớm.
Jerzy và cs (2000) đã thí nghiệm chiếu xạ tia Gamma trên giống Cẩm chướng Mini
Pinky nuôi cấy mô trong môi trường MS bổ sung 0,02mg BA/l + 1,75 mg IAA/l ở các cường
độ chiếu xạ từ 0,5 - 3 krad cho thấy khả năng tái sinh chồi và ra rễ từ 1-3 krad giảm theo
cường độ chiếu xạ, nhất là ở 3 krad[35].
Theo Datta (2001) chồi của 9 giống hoa hồng được xử lý tia Gamma (3-4 krad), sau đó
xạ sâu tia Gamma (Okamura và cs, 2006) [49].
Theo báo cáo của H.Nakagawa (2008) Nhật Bản đã tạo ra tổng số 50 giống hoa cúc, 10
giống hoa hồng mới bằng các tác nhân vật lý. Trong đó, chiếu xạ bằng tia Gamma là 32 giống
hoa cúc và 7 giống hoa hồng. Tỷ lệ giống cây trồng mới tạo ra bằng gây đột biến chiếu xạ tia
Gamma chiếm 60,3% trên tổng số giống cây trồng đột biến[44].
Kelly Marie Oates và cs (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các liều chiếu xạ tia
Gamma đến sự sống sót và sinh trưởng của cây hoa Rudbeckia spp (thuộc họ hoa hướng
dương)in vitro và ex vitro. Các mô sẹo được chiếu xạ ở các liều chiếu 0, 5, 10,
20 và 40 Gy. Kết quả cho thấy giai đoạn đầu mô sẹo không bị ảnh hưởng bởi các liều chiếu
xạ, sau 2 tháng chiếu xạ thì khả năng sống sót của mô sẹo giảm đáng kể khi tăng liều chiếu.
Các chỉ tiêu theo dõi như chiều cao cây, đường kính thân, số lượng hoa, đường kính hoa, tỷ
lệ sống và khả năng nở hoa đều giảm khi liều chiếu tăng lên. Ở liều chiếu 20 Gy quan sát thấy
có xuất hiện một số tính trạng khác như thay đổi đường kính nhị, hình thái nhị và màu sắc
của nhị hoa, cách sắp xếp các cánh hoa không đều[36].
Kết quả nghiên cứu nổi bật về phương pháp chiếu xạ trong tạo giống hoa
củaWipaporn Sawangmee, Thunya Taychasinpitak (2011) là sự kết hợp giữa chiếu xạ tia
Gamma nguồn Co
60
với tia Gamma nguồn Cs
137
đã tạo ra sự đột biến màu sắc hoa từ tím
60
sang vàng trên cây Torenia lai (Linderniaceae). Tia Gamma nguồn Co được sử
137
dụng ở các liều chiếu 0, 50, 70, 90, 110 Gy và tia Gamma nguồn Cs
vitro về màu sắc, thân, lá, hoa.
Tác giả LaneriU., FaconiR., Altavista P. (2000) đã nghiên cứu xử lí gây đột biến chồi
đồng tiền (giống hoa đồng tiền màu hồng) ở liều xử lí 2 krad (0,98 krad/h). Sau đó nhân các
cây sống sót sau 2 lần cấy chuyển. Sau khi hình thành rễ, cây con được trồng trong nhà
kính và được phân tích. Đã thu được 15% sự đa dạng sau trồng trong nhà kính về số lượng
hoa, chiều dài và chiều rộng cánh hoa.
Tác giả Xiao - Shan Shen và cộng sự (2004) người Trung Quốc đã nghiên cứu ảnh
hưởng của liều chiếu xạ đến chồi đồng tiềntrong các môi trường nuôi cấy M1, M2, M3 (là các
môi trường tái sinh mô sẹo, môi trường tái sinh chồi và môi trường tạo rễ) trong in vitro. Vật
liệu sử dụng để chiếu xạ là mô sẹođồng tiền, kết quả đã tìm ra được
16
liều chiếu xạ gây chết mô sẹođồng tiền là từ 8 - 9 krad và liều chiếu xạ có hiệu quả gây đột
biến là 5-6 krad.
Năm 2011, Sanatsujat Singh và cộng sự ở Viện Công nghệ Himalayan Bioresource đã
tiến hành nghiên cứu sự biểu hiện hình thái của nhị hoa đồng tiền trắng bằng phương pháp
gây đột biến chiếu xạ tia Gamma ở các liều lượng từ 1 - 5 krad. Kết quả cho thấy có sự gia
tăng về số lượng và cách sắp xếp các bó mạch trong mô phân sinh nụ hoa đồng tiền gây lên
sự biến dạng và bất đối xứng ở đầu hoa[51].
Năm 2012, Nor A Hasbullah và các cộng sựđã nghiên cứu ảnh hưởng của chiếu xạ tia
Gamma đối với sự sinh trưởng của cây hoa đồng tiềnGerbera jamesoniiin vitro ở giai đoạn
mô sẹo, sự hình thành chồi và cây con. Các tác giả đã tiến hành vào mẫu hạt cây hoa đồng
tiền trên môi trường MS + 30 g/l đường sucrose + 8,0 g/l agar, pH môi trường là 5,8. Hạt
giống nảy mầm trong ống nghiệm sau 6 - 7 ngày nuôi cấy và tạo cây hoàn chỉnh sau 6 8 tuần. Sau đó các cây in vitro được chiếu xạ ở các liều chiếu 10, 20, 30, 40, 50 và 60 Gy, tốc
độ chiếu xạ là 0,204 Gy/giây.Cây sau khi chiếu xạ được cấy duy trì trong môi trường MS có bổ
sung 2,0 mg/l BAP và 0,5 mg/l NAA. Kết quả thu được sau 8 tuần là số chồi tái sinh ở các cây
chiếu xạ giảm so với cây đối chứng. Ở liều 20 Gy số chồi tái sinh giảm xuống từ 7,5± 0,4 (đối
chứng) xuống còn 6,6 ± 0,9; chiều cao cây và trọng lượng tươi của mô sẹo cũng giảm xuống
công bố kết quả chọn giống hoa cúc bằng chiếu xạ in vitro và đã thu được nhiều màu sắc
hoa khác nhau, dạng hoa khác nhau, dạng hoa khác nhau. Vật liệu đem chiếu xạ là khối mô
sẹo của giống hoa cúc màu trắng CN43, các tác giả đã sử dụng dải liều lượng chiếu xạ từ 1,0
đến 15 kard. Kết quả thu được cho thấy liều lượng gây chết 50% về khả năng tái sinh chồi là
từ 5,0 krad và thu được 3 thể đột biến màu hoa (màu vàng, màu hồng và màu chóp cánh hoa
màu xanh) [3].
Năm 2007, Nguyễn Thị Kim Lý, Lê Đức Thảo đã dùng phương pháp chiếu xạ đột biến
trên các giống hoa Cúc CN93, CN98, CN43 và thu được 4 dòng có triển vọng. Đồng thời,
Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đang tiến hành xử lý chiếu xạ bằng tia X với liều lượng
2 - 10 krad cho các cành hồng giâm và hoa đồng tiền được xử lý bằng hóa chất EMS nồng
độ 0,25 - 0,5%, một số dòng có triển vọng đang được tiến hành theo dõi và nhân thử
nghiệm[11].
Năm 2008, Nguyễn Mai Thơm dùng phương pháp chiếu xạ gây đột biến trên 2 giống
hoa hồng địa phương và 3 giống nhập nội, đã thu được những biến dị di truyền ổn định về
hình thái hoa và đề xuất 2 mẫu giống có triển vọng cho sản xuất[17].
Năm 2009, Lê Đức Thảo chiếu xạ tia Gamma trên cành giâm và chối cẩm chướng in
vitro từ 0,5 - 7,0 krad đã thu được nhiều biến dị có lợi và chọn lọc được dòng SP25-1 và
một số dòng cẩm chướng có triển vọng[15].