NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH KHỬ MỰC GIẤY LOẠI VĂN PHÒNG THEO PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT HỢP GIỮA TÁC NHÂN SINH HỌC VÀ HÓA HỌC - Pdf 11



0

BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
*********&*********
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2008

NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH KHỬ MỰC GIẤY LOẠI
VĂN PHÒNG THEO PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KẾT HỢP
GIỮA TÁC NHÂN SINH HỌC VÀ HÓA HỌC
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Việt
Kỹ sư công nghệ giấy


I.2.2 Phương pháp khử mực giấy loại 10
I.2.2.1 Các phương pháp khử mực 10
I.2.2.2 Hóa chất sử dụng trong quá trình khử mực thông thường: 12
I.3 Quá trình khử mực giấy loại có sử dụng enzym
13
I.3.1
Enzym và cơ chế hoạt động của enzym
13
I.3.1.1 Giới thiệu chung về enzym 13
I.3.1.2 Tính chất của enzym 14
I.3.1.3 Cơ chế hoạt động của enzym 15
I.3.2
Ứng dụng của enzym trong quá trình khử mực giấy loại văn phòng
16
I.3.2.1 Hoạt động của enzym trong quá trình tuyển nổi khử mực giấy
loại
17
I.3.2.1.1 Bản chất hóa học của quá trình tuyển nổi khử mực. 17
I.3.2.1.2 Hoạt động của enzym khi khử mực giấy loại 19
Phần II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
II.1 Đối tượng, hóa chất và thiết bị nghiên cứu
22
II.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
II.1.2 Hóa chất 22
II.1.3 Thiết bị 22
II.2 Phương pháp nghiên cứu
23
II.2.1 Chuẩn bị nguyên liệu 23
II.2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

III.2.1.1
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dùng enzym α-amylaza trong
quá trình tuyển nổi khử mực giấy loại
31
III.2.1.2 Nghiên cứu khả năng tiết kiệm hóa chất chủ yếu khi sử dụng
enzym α- amylaza cho quá trình tuyển nổi khử mực
32
III.2.2
Nghiên cứu qúa trình tuyển nổi khử mực giấy loại sử dụng enzym
BIO-DE 30
34
III.2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dùng enzym BIO-DE 30 tới kết
quả khử mực giấy loại
34
III.2.2.2 Nghiên cứu khả năng tiết kiệm hóa chất chủ yếu khi sử dụng
enzym BIO-DE cho quá trình tuyển nổi khử mực
35
III.2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới kết quả khử mực giấy
loại có sử dụng enzym BIO-DE 30.
37
III.2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng pH môi trường tới kết quả khử mực
giấy loại có sử dụng enzym BIO-DE30
38
III.2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian xử lý enzym BIO-DE 30 tới
kết quả khử mực giấy loại
40
III.4 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế - kỹ thuật việc sử dụng enzym trong
quá trình khử mực giấy loại bằng phương pháp tuyển nổi
42
III.4.1 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kỹ thuật 42

mực giấy loại văn phòng. Các enzym có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp
với nhau để nâng cao hiệu quả khử mực giấy loại báo và tạp chí.
Khử mực giấy loại có sử dụng enzym đặc biệt hi
ệu quả đối với những giấy
loại có sử dụng những phương pháp in mà phương pháp khử mực truyền thống
không có tác dụng như in laser hay in xerographic (có mặt các hạt toner) do sự bám
dính của các phân tử mang màu trên giấy rất bền vững.
Do những ưu điểm về khả năng khử mực của phương pháp khử mực có sử
dụng enzym cũng như nâng cao xơ sợi tái sinh. Năm 2008, Viện công nghi
ệp Giấy
và Xenluylô đã được Bộ Công Thương giao cho thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quá
trình khử mực giấy loại văn phòng theo phương pháp xử lý kết hợp giữa tác
nhân sinh học và hóa học”. 2

Nôi dung nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu sử dụng hóa chất để khử mực giấy loại văn phòng bằng phương
pháp tuyển nổi khử mực.
- Nghiên cứu hiệu quả khử mực của các loại enzym kết hợp với hóa chất
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ (pH, thời gian, thời điểm sử
dụng enzym và mức dùng) của quá trình sử
dụng enzym tới hiệu suất và chất
lượng bột giấy như:
+ Hiệu suất bột
+ Độ trắng và tính chất cơ lý

3

PHẦN I

TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG GIẤY LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP
KHỬ MỰC SỬ DỤNG ENZYM
I.1.Tình hình sử dụng giấy loại trên thế giới và Việt Nam
I.1.1. Tình hình sử dụng giấy loại trên thế giới
Ngành công nghiệp giấy là một trong những ngành sử dụng nhiều nguyên liệu
thứ cấp tái sinh. Theo dự báo về sự phát triển công nghiệp giấy của FAO và RISI ít
nhất từ nay đến 2010, mức tăng trưởng nhu cầu sử dụng giấy loại trên phạm vi toàn
cầu sẽ tăng bình quân 2,6÷2,9%/năm, tăng từ 360 triệu tấn năm 2005 lên đến 410
triệu tấn năm 2010. Trong đó, vật liệu giấy và các tông loại cho s
ản xuất các tông
sóng đạt mức 135 triệu tấn, các giấy loại và các tông bao bì khác đạt 46 triệu tấn,
tổng cộng 181 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 44%.
Về bán thành phẩm xơ sợi dùng cho công nghiệp giấy, năm 2005 trên toàn thế
giới là 345 triệu tấn, trong đó xơ sợi từ giấy loại chiếm 44%, đạt mức 150 triệu tấn.
Dự đoán đến năm 2010 sẽ đạt 398 triệu tấn, trong
đó xơ sợi giấy loại chiếm tỷ lệ
48%, đạt khoảng 190 triệu tấn [3].
Thu gom và xử lý giấy loại tại các nước có ngành công nghiệp giấy phát triển
đã trở thành một ngành công nghiệp đem lại nguồn nguyên liệu đáng kể cho sản
xuất giấy.
Điển hình, năm 2006 ngành giấy Nhật bản đã sử dụng khoảng 62% bột giấy tái
chế từ giấy loạ
i cho sản xuất giấy và các tông. Về khối lượng, hàng năm Nhật Bản

Khối lượng giấy loại nhập khẩu từ Mỹ vào các nước Châu Á năm 2006 được
thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Nhập khẩu từ Mỹ vào các nước Châu Á năm 2006
Nước
nhập ONP DIP OCC
Các loại
khác Tổng cộng
Tỷ lệ
DIP,%
Tr.Quốc 1,248,000 62,000 2,400,000 2,950,000 6,660,000 0.9%
Indonexia 112,000 28,000 296,000 19,000 455,000 6.2%
Hàn Quốc 250,000 72,000 350,000 340,000 1,012,000 7.1%
Đài loan 44,000 28,000 240,000 78,000 390,000 7.2%
Thái Lan 97,000 6,100 230,000 21,000 354,100 1.7%
Từ bảng 1.1 cho thấy giấy loại nhập khẩu ở các nước trên là tương đối lớn, phổ
biến nhất là bao bì hòm hộp cũ, chiếm tỷ lệ từ 36 đến 65%. Đây là nguồn nguyên
liệu xơ sợi quan trọng cho sản xuất giấy và các tông.
Lý giải cho sự phát triển không ngừng của việc sử dụng xơ sợi tái sinh ban
đầu là sự cạnh tranh về giá và yêu cầu luật pháp ở nhiề
u quốc gia. Sự ảnh hưởng của
các nhà môi trường thông qua chiến dịch xanh và sự chấp nhận giấy làm từ xơ sợi
tái sinh của thị trường đã làm tăng hiệu quả các chính sách của các quốc gia trong
vấn đề sử dụng nguyên liệu tái sinh. Theo quan điểm của các nhà môi trường, ngành
công nghiệp sử dụng xơ sợi tái sinh là rất thân thiện với môi trường. Rõ ràng việc sử
dụng giấy tái sinh có thể tiế
t kiệm được nguồn tài nguyên rừng và nguồn năng lượng
sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất giấy. 5

giấy vệ sinh, giấy in và giấy viết, các lớp giấy của các tông duplex. Trong tương lai,
công nghệ khử mực giấy loại sẽ phát triển với công nghệ ngày càng tiên tiến hơn
nữa.[18].

6

Các công đoạn khử mực giấy loại có sử dụng enzym được minh hoạ theo sơ đồ
hình 1.2 [2].


pH: 5,0
THỜI GIAN: 10÷20
PHÚT

p
H: 4,0÷10
NHIỆT ĐỘ: 50
O
C

THỜI GIAN: 10÷20
PHÚT 7

2007, tổng sản lượng giấy đạt 1.130.000 tấn giấy, trong đó cáctông các loại 590.000
tấn (chiếm 52%), nhưng bột giấy cung cấp chỉ đạt 355.000 tấn (đáp ứng được 30%
nhu cầu sản xuất), bột giấy nhập khẩu khoảng 110.000 tấn (chiếm 9,0 %)[4], khối
lượng giấy loại sử dụng khoảng 861.000 tấn (sau quy đổi 718.000 tấn- chiếm tỷ lệ
61% nhu cầu tiêu thụ). Giấy loại
đó bao gồm: thu gom trong nước 550.000 tấn (sau
quy đổi 458.000 tấn) và nhập khẩu 311.000 tấn (sau quy đổi 260.000 tấn). Nguồn
giấy loại nhập khẩu từ nước ngoài chủ yếu là từ Mỹ, Singapo và Nhật Bản. Số liệu
về công suất, sản lượng bột giấy và giấy, khối lượng giấy loại tiêu thụ trong năm
2007 của ngành giấy Việt Nam được tổng hợp trong bảng 2.[5]
Bảng1.2:Công suấ
t, sản lượng bột giấy và giấy- tiêu thụ giấy loại trong năm 2007
Hạng mục Bột giấy Giấy Tỷ lệ bột/giấy
1. Công suất thiết kế 336.000 1.341.000 25,0%

Theo xu hướng chung của toàn cầu, việc áp dụng quy trình khử mực giấy loại
bằng phương pháp xử lý kết hợp giữa tác nhân sinh học và hóa học là hoàn toàn
thiết yếu để sản phẩm giấy tạo ra đạt độ trắng, độ sạch mực mà vẫn giữ được độ bền
cơ lý và đạt hiệu suất cao đồng thời dễ dàng tiến hành các quá trình xử lý n
ước thải
để giảm thiểu môi trường.
I.2. Khử mực giấy loại
I.2.1. Giấy loại, cấu trúc mực in và phương pháp in.
Giấy loại là tất cả các loại giấy và các tông đã qua sử dụng, hoặc giấy và các
tông bị loại trong quá trình sản xuất, phân loại, gia công, in ấn được sử dụng để tái
sản xuất thành bột giấy, giấy và các tông bằng các phương pháp xử lý cơ học hoặc
kết hợp giữa phương pháp cơ học và hóa học.
Giấy loại có thể tái sử
dụng nhiều lần, song số lần càng nhiều thì chất lượng
giấy thấp đi, số lần tái sử dụng tốt nhất từ 8÷10 lần.
Giấy loại cần khử mực chủ yếu là các sản phẩm: giấy báo cũ, giấy loại văn
phòng, báo tạp chí cũ…Thành phần chủ yếu là bột hóa tẩy trắng, bột cơ học và các
thành phần như sau:
- Mự
c in : 1÷7 %
- Phụ gia các loại : 3÷30 %
- Tạp chất ngoại lai : 1÷3%
Mực in là một chất màu được pha chế từ nhiều thành phần khác nhau dùng để
tạo ra sự tương phản về màu sắc trên vật liệu in qua khuôn in, nó phải phù hợp với
phương pháp in và tính chất của vật liệu in. 9

Ứng với mỗi loại mực in được sử dụng cho các phương pháp in khác nhau.

rồi sang giấy để tạo thành chữ.
* Cần có độ nhớt thích hợp để mực không ngấm quá sâu vào trong thành giấy
rồi để lại trên mặt giấy các hạt pigment, chất độn, không được gắn chắc trên mặt
giấy và dễ
dàng bong khỏi mặt giấy. 10

* Phải có tính đồng nhất, các chất tạo thành chất liên kết (như các chất có độ
trùng hợp không giống nhau, trọng lượng phân tử khác nhau), được phân bố đồng
đều ở mọi điểm trong lòng chất liên kết.
* Trong thành phần của chất liên kết phải có chứa một lượng thích hợp chất
hoạt động bề mặt để ổn định pigment và chất độn.
Các chất phụ gia: là các chất cho thêm vào mự
c để làm tăng tính in của mực
như: làm tăng - giảm tốc độ khô, tăng hay giảm độ bám dính của mực cũng như khả
năng ngấm của mực trên bề mặt vật liệu. Thành phần các chất phụ gia bao gồm:
- Các muối kim loại như Co, Mg hay các loại dầu để làm thay đổi độ dính.
- Các chất làm tăng độ thấm của mực như: neocan
- Các chất làm tăng độ
bám dính, độ bóng của mực.
Các loại mực in, mực viết có rất nhiều loại, là các hợp chất hữu cơ, khi khô rất
bền vững với các tác dụng của dung môi. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với cả
phương pháp khử mực truyền thống và phương pháp khử mực có sử dụng enzym do
hình thái và phương pháp in có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả khử mực.
Sự
kết hợp khác nhau trong công thức hạt mực, toner và phương pháp in dẫn
đến những đặc điểm loại mực khác nhau trong khi phương pháp khử mực truyền
thống gặp rất nhiều khó khăn trong việc tách và loại mực. Phương pháp khử mực sử

*Phương pháp rửa và phương pháp tuyển nổi được mô tả ở hình 1.3:

Hình 1.3: Quá trình loại mực bằng phương pháp rửa và tuyển nổi
Với mục đích nâng cao hiệu quả khử mực, các tác nhân sinh học đã được sử
dụng để thúc đẩy quá trình tách mực trước khi tuyển nổi và rửa bột. Nhờ xử lý trước 12

bằng các tác nhân sinh học, kết quả khử mực đạt cao và hạn chế được ảnh hưởng
xấu tới môi trường do giảm được lượng hóa chất sử dụng trong quá trình khử mực.
Phần báo cáo này sẽ chỉ đi sâu vào nghiên cứu quá trình này.
I.2.2.2. Hóa chất sử dụng trong quá trình khử mực thông thường:
Trong các hệ thống khử mực, hóa chất được cho vào có những tác dụng sau:
 Hóa chất phân tách mực từ giấy và bề
mặt giấy
 Hóa chất loại bỏ và loại mực từ huyền phù bột
 Hóa chất xử lý nước thải sau quá trình khử mực
 Hóa chất tẩy trắng bột giấy
Các hóa chất chính thường được sử dụng đưa ra ở bảng 1.3 và hình1.4.
Bảng 1.3. Các hóa chất chính thường sử dụng trong quá trình khử mực:
Hóa chất Mức dùng, Kg
/ Tấn bột KTĐ
Tác dụng
NaOH
10÷20
Trương nở xơ sợi, tách long mực
in
Na
2

0,5÷2; 5÷10
Thu gom mực trong tuyển nổi
CaCl
2
, Ca(OH)
2

0÷2
Tăng độ cứng của nước (nếu cần)
Tác nhân chelat hóa (DTPA)
1÷2
Hạn chế sự phân hủy H
2
O
2
do các
ion kim loại chuyển tiếp
Polyme
1÷2
Kết bông bùn từ nước trắng trong
quá trình cô đặc và tuyển nổi
Bột đá
0÷20
Hấp thụ Sticky

13


khi không được xúc tác. Có trên 4000 phản ứng sinh hóa được xúc tác bởi enzym và
hoạt tính của enzym chịu tác
động bởi nhiều yếu tố. Chất ức chế là các phân tử làm
giảm hoạt tính của enzym, trong khi yếu tố hoạt hóa là những phân tử làm tăng hoạt
tính của enzym.
I.3.1.2.Tính chất của enzym
- Enzym có bản chất là protein nên có tất cả thuộc tính lý hóa của protêin. Đa
số enzym có dạng hình cầu và không đi qua màng bán thấm do có kích thước lớn.
- Enzym tan trong nước và các dung môi hữu cơ phân cực khác, không tan
trong ete và các dung môi không phân cực.
- Enzym không bền dưới tác dụng của nhi
ệt độ, nhiệt độ cao thì enzym bị biến
tính. Môi trường axít hay bazơ cũng làm enzym mất khả năng hoạt động.
- Enzym có tính lưỡng tính. Tùy pH của môi trường mà chúng tồn tại ở các
dạng như cation, anion hay trung hòa điện. 15

- Enzym chia làm hai nhóm: enzym một cấu tử (chỉ chứa protein) như pepsin,
amylase và các enzym hai cấu tử (trong phân tử còn có nhóm không phải protein).
Trong phân tử enzym hai cấu tử có hai phần:
• apoenzym: phần protein (nâng cao lực xúc tác của enzym, quyết định tính
đặc hiệu)
• coenzym: phần không phải protein (trực tiếp tham gia vào phản ứng
enzym) có bản chất là những hợp chất hữu cơ phức tạp.
I.3.1.3. Cơ chế hoạt động của enzym
Trong quá trình xúc tác, chỉ có một phầ
n enzym tham gia trực tiếp vào phản
ứng để kết hợp với cơ chất gọi là "trung tâm hoạt động". Cấu tạo đặc biệt của trung

chất, một khác biệt nhỏ về cấu trúc của cơ chất cũng làm enzym không thể hiện
được tính xúc tác.
- Đặc hiệu tương đối: Enzym có tác dụng lên một kiểu nối hóa học nhất định trong
phân tử cơ chất mà không phụ thuộc vào b
ản chất hóa học của các cấu tử tham gia
tạo thành liên kết đó.
- Đặc hiệu nhóm: Enzym có khả năng tác dụng lên một kiểu liên kết nhất định khi
một hay hai cấu tử tham gia tạo thành liên kết này có cấu tạo nhất định.
Chính vì cơ chế hoạt động chọn lọc và hiệu quả, enzym đã được sử dụng rộng rãi,
trong đó phải kể đến quá trình khử mực giấy lo
ại có sử dụng enzym.
I.3.2. Ứng dụng của enzym trong quá trình khử mực giấy loại
Sự phát triển nhanh của công nghệ khử mực trong hai thập kỉ qua đã đặt ra
yêu cầu phải có những giải pháp cơ học hay hoá học để cải tiến các mặt của quá
trình. Điều này đặt ra là do yêu cầu phải giảm giá thành sản xuất, tăng chất lượng
sản phẩm mà vẫn phù hợp vớ
i thực tế sản xuất cũng như giải quyết được phần nào
các vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất với tất cả
các nhà máy khử mực hiện nay đó là loại bỏ hạt mực ở giai đoạn cuối cùng để đạt
được độ trắng của bột cao nhất và độ bụi có thể nhìn thấy là thấp nhất. M
ặc dù bột
khử mực có thể giúp giảm giá thành đáng kể trong sản xuất giấy báo và giấy vệ sinh,
nhưng nó vẫn có những hạn chế khi tái sử dụng để sản xuất các loại giấy cao cấp
hơn như giấy in và giấy viết (thường được dùng khoảng 10÷30% tổng lượng bột cần
dùng) [20]. Trong những loại giấy này, những hạt mực nhỏ vẫn có thể nhìn thấ
y và
không đáp ứng được yêu cầu chất lượng sản phẩm. 17

học giữa các chất màu với bề mặt xơ sợi. Các phản ứng này cũng loại bỏ các liên kết
giữa chất độn với gi
ấy, tạo ra sự thấm ướt các phần tử xơ sợi vừa tách được mực.

R-C-O-H
O
+
NaOH
R-C-O-Na
O
+
H
2
O
Axít béo
KiÒm
Xà phòng
N−íc

Hình 1.6: Mô tả phản ứng xà phòng hoá. 18Thành phần của axít béo gồm:
CH
3
(CH
2

19 Hình 1.7: Cơ chế quá trình tuyển nổi khử mực
Nói chung, tới nay chưa tìm được cơ chế có căn cứ khoa học xác định khi tách
các phân tử mực. Một số nhà khoa học cho rằng, khi tiếp xúc với tác nhân kiềm, các
xơ sợi xenluylo bị trương nở và lỏng hơn, tạo điều kiện dễ dàng giải phóng các phân
tử mực là phân tử có thể tích ít thay đổi trong môi trường kiềm. Mặt khác, trong môi
trườ
ng kiềm, điện tích tĩnh điện của các phân tử mực và của xơ sợi tăng rất nhanh
khi có mặt các inon OH
-
. Kết quả đã tạo ra lực đẩy dẫn đến việc tách các liên kết
giữa mực và xơ sợi. Hiện tượng này được cải thiện thêm bởi sự có mặt của Na
2
SiO
3

và các chất kích hoạt bề mặt. Khi bột giấy loại có chứa bột cơ học thì xơ sợi có xu
hướng vàng và sẫm màu đi, chủ yếu là do sự tạo thành các nhóm mang màu mới từ
lignin. Tốc độ tạo thành các tác nhân mang màu tăng cao hơn xung quanh pH 5,5.

n các liên kết của mực và xơ sợi bị
long ra ở khắp nơi làm tăng khả năng tiếp cận hóa chất vào sâu bên trong giấy, tạo
điều kiện tách bằng cơ học ( khuấy, nghiền ). Sau đó, nhờ công đoạn tuyển nổi sẽ
tách hẳn mực ra khỏi xơ sợi thu hồi. Với giấy loại có phối trộn tinh bột, khi sử dụng
∝- amylaza thủy phân tinh bột c
ũng tạo điều kiện cho liên kết mực với xơ sợi và liên
kết giữa các xơ sợi lỏng ra, tạo điều kiện cho hóa chất và tác động cơ học phát huy
tốt tác dụng.
Quá trình gia keo bằng tinh bột là để giảm độ xốp, nâng cao độ nhẵn, độ bền
và ngăn chất màu thấm sâu vào giấy. Vì vậy, khi có tác dụng phá hủy tinh bột của
∝- amylaza, quá trình khử mực bằng tuyể
n nổi, rửa sẽ được thuận lợi, đặc biệt cả
với loại mực có liên kết mạnh với xơ sợi.
Cơ chế hoạt động của ∝-amylaza chủ yếu tác dụng vào tinh bột. Tinh bột
(C
6
H
12
O
6
)
n
là hợp chất hydratcarbon, được điều chế từ ngũ cốc, khoai sắn là chủ
yếu. Chúng bao gồm hai loại cấu trúc phân tử mạch thẳng và mạch nhánh.
Khi ∝-amylaza có trong hỗn hợp bột và nước ở chế độ công nghệ phù hợp,
enzym xúc tác rất mạnh quá trình thủy phân tinh bột làm phân tử của nó nhanh
chóng chia thành nhiều mảnh nhỏ hơn
Trong môi trường pH 6÷10, lượng enzym ∝-amylaza hợp lý để thủy phân
tinh bột trong giấy loại từ 0,06÷6,00 KNU/gam tinh bột khô. Các hóa chất khác
được sử dụng: H

3
, DTPA, H
2
O
2
, chất hoạt động bề mặt [21].
Enzym này đang được sử dụng ở một số nhà máy sản xuất bột giấy Tissue
như Hàn Quốc, Trung Quốc…và có một số ưu điểm như sau:
- Bột trắng và sáng hơn
- Giảm lượng hoá chất tẩy mà bột vẫn đạt độ trắng cao, giảm thiểu chất thải
độc hại.
- Bột không bị hồi màu do kiềm do ti
ến hành trong môi trường trường trung
tính.
- Cải thiện độ thoát nước các quá trình như cô đặc, rửa.
- Tăng hiệu quả nghiền, có tác dụng cải thiện độ bền và tiết kiệm năng lượng

Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc sử dụng enzym
trong quá trình khử mực giấy loại hoàn toàn có thể loại mực đạt kết quả cao và
có lợi cho môi trường. Việc nghiên c
ứu ứng dụng các công nghệ này trong điều
kiện phù hợp ở Việt Nam nhằm đưa ra khuyến cáo về khả năng áp dụng trong
thực tế sản xuất là rất cần thiết.


- Bơm chân không hút bọt, 400÷500 (mHg).
- Máy xeo Rapid – Kothen, hãng PTI của Áo.
- Cân điện tử Melter độ chính xác ± 0,0001 của Thụy Sĩ.
- Máy đo pH, giấy đo pH, nhiệt kế và các dụng cụ thủy tinh
- Lưới rửa bột 80 mắt
- Máy đo độ bền xé Frank của Đức.
- Máy đo độ bền kéo Hounsfield của Anh.
- Máy đo độ trắng Elrepho c
ủa Mỹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status