THIẾT KẾ MỘT BÀI DẠY HỌC VẬT LÝ THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG BÀI TẬP SÁNG TẠO ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH - Pdf 49

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TIỂU LUẬN
BÀI TẬP VẬT LÍ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Học viên cao học

: Lê Vũ Trường Sơn

GVHD

: TS. Nguyễn Thanh Hải

Chuyên ngành

: LL&PPDH môn Vật Lí

Khóa học

: K36

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

A. PHẦN MỞ ĐẦU



Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Một số vấn đề cơ bản về tư duy sáng tạo
1.1. Khái niệm tư duy sáng tạo
- Theo Vugotxki L.X : Hoạt động sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của
con người tạo ra được cái gì mới, không kê rằng cái được tạo ra ấy là vật cụ thê
hay là sản phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biêu lộ trong bản thân con
người.
- Nhà tâm lý học Mỹ Willson M. cho rằng: “Sáng tạo là quá trình mà kết
quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các
đơn vị thông tin, các khách thê hay tập hợp của hai ba yếu tố nêu ra”.
- Theo Chu Quang Tiềm, “Sáng tạo, căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn
làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại đê thành một hình tượng mới”.
Quan niệm này nhấn mạnh đến những cái đã biết làm cơ sở cho sự sáng tạo.
- Guilford J.P. (Mỹ) cho rằng: TDST là tìm kiếm và thê hiện những
phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp
khác nhau và mới có việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ. Do đó sáng tạo
là một thuộc tính của TD, là một phẩm chất của quá trình TD. Người ta còn gọi
đó là TDST.
- Trong cuốn “Sổ tay Tâm lý học”, tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long cho
rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần.
Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ
năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”.
- Theo từ điên triết học, “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người

(problemsensibility). Theo ông, TDST về bản chất là tìm kiếm và thê hiện những
phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp
khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ. Do đó sáng
tạo là một thuộc tính của TD, là một phẩm chất của quá trình TD. Ông cũng
khẳng định năng khiếu sáng tạo có sẵn ở các mức độ biến thiên ở mọi cá thê
bình thường (tức mọi cá nhân bình thường đều có khả năng sáng tạo). Đồng thời
cho rằng quá trình sáng tạo có thê tái tạo tự giác (tức có thê dạy và học được với
một số lớn cá thê).
Tính mềm dẻo (flexibility)
Tính mền dẻo là khả năng dễ dàng chuyên từ hoạt động trí tuệ này sang
hoạt động trí tuệ khác. Đó là năng lực chuyên dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự
của hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong
mối liên hệ mới,… dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 3


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

tuệ của con người. Có thê thấy rằng tính mềm dẻo (linh hoạt) của TD có những
đặc điêm sau:
- Dễ dàng chuyên từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác; dễ
dàng chuyên từ giải pháp này sang giải pháp khác.
- Điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ nếu gặp trỡ ngại.
- Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những tri
thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có vào trong những điều kiện, hoàn cảnh mới


GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

- Khả năng tìm ra các mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài tưởng
như không có quan hệ với nhau.
- Khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác.
Ngoài ra, TDST còn được đặc trưng bởi nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn
như:
- Tính chi tiết (elaboration): là khả năng lập kế hoạch, phối hợp giữa các
ý nghĩ và hành động, phát triên ý tưởng, kiêm tra và chứng minh ý tưởng. Nó
làm cho TD trở thành một quá trình, từ chỗ xác định được vấn đề cần giải quyết,
huy động vốn kiến thức kinh nghiệm có thê sử dụng đê giải quyết đến cách giải
quyết, kiếm tra kết quả. Nghĩa là những ý tưởng sáng tạo phải thoát ra biến
thành sản phẩm có thê quan sát được. Chẳng hạn như một sáng chế khoa học,
một tác phẩm văn chương, một nguyên lý, hay một phương thức hành động.
- Tính nhạy cảm (problemsensibility) : là năng lực phát hiện vấn đề, mâu
thuẫn, sai lầm, bất hợp lý một cách nhanh chóng, có sự tinh tế của các cơ quan
cảm giác, có năng lực tự giác, có sự phong phú về cảm xúc, nhạy cảm, cảm nhận
được ý nghĩ của người khác. Tính nhạy cảm vấn đề biêu hiện sự thích ứng
nhanh, linh hoạt. Tính nhạy cảm còn thê hiện ở chỗ trong những điều kiện khắc
nghiệt, khó khăn, gấp rút về mặt thời gian mà chủ thê vẫn tìm ra được giải pháp
phù hợp, tối ưu,…
Các đặc trưng trên của TDST không tách rời nhau mà chúng có liên hệ
mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, trong đó tính độc đáo được cho là quan
trọng nhất trong biêu đạt sáng tạo, tính nhạy cảm vấn đề đi liền với cơ chế xuất
hiện sáng tạo. Tính mềm dẻo, thuần thục là cơ sở đê có thê đạt được tính độc
đáo, tính nhạy cảm, tính chi tiết và hoàn thiện.
1.3. Đặc điểm, nhân cách của người có tư duy sáng tạo
Nhiều nhà tâm lý học coi thuộc tính phẩm chất của những nhân cách sáng
tạo có ảnh hưởng rất lớn đến TDST của con người. Nhiều học giả nghiên cứu

trong cảm xúc và trí tuệ, có năng lực tự lập và tự chủ cao, có niềm tin mãnh liệt
và khả năng vượt qua những trở ngại bên ngoài.
Ngoài ra, khi nghiên cứu thuộc tính của các nhà khoa học, các nhà nghiên
cứu đã khái quát những thuộc tính tạo thành nhân cách sáng tạo của họ như:
phương pháp giải quyết khác thường; nhìn trước được các vấn đề; nắm được
mối liên hệ cơ bản; nhìn từ các con đường, các cách giải quyết khác nhau một
cách tích cực; chuyên từ mô hình này sang mô hình khác; nhạy cảm với các vấn
đề mới từ các vấn đề cũ đã giải quyết xong; biết trước kết quả; nắm được các tư
tưởng khác nhau trong một tình huống nào đó; phân tích các sự kiện theo một
trật tự tối ưu từ đó tìm ra tư tưởng chung; giải đáp được những tình huống đặc
biệt.
Tóm lai, mặc dù tính sáng tạo của TD được xây dựng trên mặt bằng trí lực
nhưng không phải tất cả những người có trí lực cao đều có TDST. Bởi vì, TDST

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 6


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

còn gắn bó mật thiết với những phẩm chất nhân cách của mỗi người. Chúng tôi
cho rằng những phẩm chất, thuộc tính như lao động chuyên cần, say mê, kiên trì
với công việc và lòng tin mãnh liệt cùng nhiều phẩm chất khác như: độc lập, tự
tin, tò mò, hiếu kỳ, dũng cảm, biết nghi ngờ, thích phiêu lưu, linh hoạt, nhạy
cảm,…là những phẩm chất tiêu biêu của người có TDST. Trong dạy học, muốn
phát triên TDST cho HS, người GV cần có những tác động nhằm khơi gợi, hình
thành những phẩm chất, thuộc tính của nhân cách sáng tạo cho HS. Đồng thời,

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

lối mòn có sẵn mà quên đi những góc độ khác, những cách nhìn khác của vấn
đề, tất yếu dẫn đến tính bảo thủ, thành kiến.
Tính ì “thừa” sinh ra do sự ngoại suy liên tưởng trong quá trình TD của
con người đôi khi dẫn đến sự vượt quá phạm vi ứng dụng gây ra. Chẳng hạn một
ví dụ đơn giản về tính ì thừa: “Có 2 ngồi trong phòng và chơi cờ tướng. Họ chơi
5 ván. Mỗi người đều thắng 3 ván. Sao lại thế?”. Do ảnh hưởng của tính “ì” tâm
lý nên người ta thường lúng túng khi giải thích: “vì sao lại thế?” trong khi câu
giải thích là vì 2 người này chơi cờ với 2 người khác nhau. Vì não chúng ta có
xu hướng suy nghĩ theo kiêu “mặc định”: 2 người chơi cờ thì “mặc định” là họ
chơi với nhau. Trong khi câu đố không hề có những dữ kiện như vậy!
Tóm lại, lối mòn tư duy vô cùng hữu ích và cần thiết trong cuộc sống
hàng ngày. Nó giúp người ta không phải suy nghĩ về những gì đã quen. Tuy
nhiên, nó cũng là trở ngại cho việc khám phá những điều mới. Qua các ví dụ
trên, ta thấy lối mòn tư duy (tính “ì” tâm lý) có tác động cản trợ TDST của con
người. Đây cũng là vấn đề mà trong DH phát triên TDST cho HS, GV cần lưu ý
đê có tác động phù hợp nhằm khắc phục tính “ì” tâm lý gây cản trở đến TDST.

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 8


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

Chương II: THIẾT KẾ MỘT BÀI DẠY HỌC VẬT LÝ THEO HƯỚNG
TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG BÀI TẬP SÁNG TẠO ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ

Sử dụng các BTĐT dưới dạng CHTT tạo tình huống có vấn đề

Hình ảnh và câu hỏi về
cân bằng bền

Hình ảnh và câu hỏi về
cân bằng phiếm định

Hình ảnh và câu hỏi
về cân bằng không bền

Hình ảnh và câu hỏi về
cân bằng của vật có
Mặt chân đế

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Cho HS thảo luận thông qua phiếu học tập, nêu câu hỏi gợi ý để
HS nêu giả thuyết và giải quyết vấn đề

Tìm hiểu nội dung các trạng thái các dạng
cân bằng khác nhau

Mô tả các
trạng thái cân
bằng khác
nhau

Tìm nguyên nhân
gây ra các trạng thái
cân bằng khác nhau

Hoạt động 1: Tổ chức tình huống học tập, đề xuất vấn đề
GV đưa ra các bài tập định tính cho HS quan sát và trả lời nhanh
Câu 1: Đặt thước ở ba vị trí cân bằng với 3 trục quay ở các vị trí khác nhau.
Chạm nhẹ vào thước cho lệch đi một chút. Quan sát, mô tả và giải thích hiện
tượng.

Câu 2: Làm thế nào nghệ sĩ xiếc lại đứng được trên dây?

HS: Quan sát, suy nghĩ, thảo luận và trả lời. Câu trả lời có thê chưa chính xác vì
kiến thức chưa được học

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 11


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

Câu 3: Dựa vào quan điêm Vật lí hãy giải thích tại sao xe trong hình vẽ được
thiết kế như vậy? (Chỗ được khoanh màu đỏ)

HS: Quan sát, suy nghĩ, thảo luận và trả lời. Câu trả lời có thê chưa chính xác vì
kiến thức chưa được học.
GV: Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta giải thích được những vấn đề trên và
nhiều hiện tượng trong cuộc sống.
Hoạt động 2: Xây dựng kiến thức về các dạng cân bằng
GV: Đê trả lời câu 1, các em nêu kết quả chuyên động của thước sau khi kéo ra
khỏi vị trí cân bằng ở từng trường hợp. Ngoài ra, các em có nhận xét gì về vị trí

HS: Thảo luận, nêu khái niệm mặt chân đế.
GV: Nhận xét, nêu khái niệm mặt chân đế.
GV: Cho HS quan sát hình ảnh, nhận xét về mức vững vàng của vật trong các
trường hợp.
Trường hợp nào, cân bằng là vững
vàng nhất???

Mức vững vàng của cân bằng phụ
thuộc vào những yếu tố nào???

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 13


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

HS: Quan sát, nhận xét
Vững vàng nhất

Kém vững vàng nhất
GV: Hướng dẫn HS xác định giá của trọng lực, yêu cầu nhận xét diện tích mặt
chân đế và độ cao của trọng tâm trong các trường hợp.
Hỏi: Vậy điều kiện cân bằng của vật có mặt chân đế là gì? Mức vững vàng của
cân bằng phụ thuộc các yếu tố nào? Phụ thuộc như thế nào? Muốn tăng mức
vững vàng của cân bằng ta phải làm gì?
HS: Trả lời được câu hỏi của GV
GV: Nhận xét

Bước 4: Kiểm tra tính chính xác của kết quả tìm được
Mức vững vàng của cân bằng phụ thuộc vào hai yếu tố: diện tích mặt chân
đế và vị trí của khối tâm.

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 15


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

Bài 2: Đang ngồi trên ghế, muốn đứng lên ta phải nghiêng người về phía trước,
tại sao vậy?

Bước 1: Tìm hiểu đầu bài
Ngồi thật thẳng lưng và không kéo lui chân về phía dưới gầm ghế, ta
không thê đứng lên mà cứ đê yên chân như thế nếu không nghiêng người về
phía trước.
Bước 2: Phân tích hiện tượng
Trọng tâm của phần trên thân một người đang ngồi thì ở bên trong cơ thê,
kẻ đường dây dọi từ điêm đó xuống dưới thì nó sẽ đi qua mặt gế xuống dưới ở
phía sau bàn chân. Mà người muốn đứng được thì đường thẳng đó phải đi qua
giữa hai chân.
Bước 3: Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
Điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân đế là giá của trọng lực phải
xuyên qua mặt chân đế. Vậy muốn đứng lên được ta phải khom lưng về phía
trước đê chuyên trọng tâm đi cho thích hợp, hoặc kéo chân về sau đê đưa chân
đến phía dưới trọng tâm. Nếu không dùng một trong hai cách trên thì việc đứng

tăng lên song do vận tốc phần trên cơ thê không tăng, do quán tính vẫn giữ vận
tốc cũ, vận tốc này rất nhỏ so với vận tốc chân nên làm cho trọng tâm của ngượi
bị lệch về phía sau, giá của trọng lực rơi ra khỏi mặt chân đế (lệch về phía sau)
nên người bị ngã về phía sau.

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn

Trang 17


Tiểu luận

GVHD: TS. Nguyễn Thanh Hải

Bài 4: Có ba viên gạch chồng lên nhau sao cho một phần của viên gạch trên nhô
ra khỏi viên gạch dưới (Hình 20.4). Hỏi mép phải của viên gạch trên cùng có thê
nhô ra khỏi mép phải của viên gạch dưới cùng một đoạn cực đại bằng bao
nhiêu? Cho biết chiều dài viên gạch bằng l.

Trả lời:
Giả sử viên gạch 2 không bị đổ thì viên gạch 3 mới được phép nhô ra khỏi
viên gạch 2 cực đại là l/2 (Hình 20.4G).

Dùng quy tắc hợp lực song song cùng chiều ta thấy trọng tâm G của hai
viên gạch 3 và 2 ở cách mép phải của viên gạch 2 một đoạn l/4. Do đó viên gạch
2 chỉ được phép nhô ra khỏi viên gạch 1 dưới cùng một đoạn l/4.Vậy viên gạch
trên cùng chỉ được phép nhô ra khỏi mép phải của viên gạch dưới cùng một
đoạn là: l/2 + l/4 = 3l/4.

HVTH: Lê Vũ Trường Sơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status