Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển kỹ thuật đòn tay cho võ sinh CLB taekwondo - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
………..&&…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tên Đề Tài:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ
NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO VÕ
SINH CLB TAEKWONDO TRƯỜNG THCS HƯNG
PHÚ QUẬN CÁI RĂNG, TP CẦN THƠ.
NĂM HỌC 2014 – 2015

NGƯỜI THỰC HIỆN
SV: LÂM HOÀNG THỂ
MSSV: 9117019
Lớp 11X6A1
Cần thơ
Ngày 10/4/2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
………..&&…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tên Đề Tài:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ
NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO VÕ
SINH CLB TAEKWONDO TRƯỜNG THCS HƯNG

Lâm Hoàng Thể


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kì công trình
nào.

Cần thơ, ngày….tháng….năm 2015
Sinh viên thực hiện
(ký, ghi rõ họ tên)

Lâm Hoàng Thể


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
XHCN

Xã hội chủ nghĩa

TDTT

Thể dục thể thao

GDTC

Giáo dục thể chất

ĐCSVN


Tên biểu bảng
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn sử dụng các test kiểm tra
và các bài tập bổ trợ nhằm phát triển kỹ thuật đòn tay
cho võ sinh câu lạc bộ Taekwondo trường THCS Hưng
Phú, Quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
Bảng 3.2: Test kiểm tra và các bài tập bổ trợ nhằm
phát triển kỹ thuật đòn tay cho võ sinh câu lạc bộ
Taekwondo trường THCS Hưng Phú, Quận Cái Răng,
thành phố Cần Thơ.
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra hệ thống test lựa chọn của
võ sinh nam Taekwondo trường THCS có năm sinh
2003 Thành phố Cần Thơ (n=40)

Trang
33

34-35

36

Bảng 3.4. So sánh kết quả bài tập kiểm tra thể lực của nhóm

3
3

3

3

thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

Trang
47
47


Mục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................................... 4
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Bác Hồ về TDTT. ...................................... 4
1.1.1 Quan điểm của Bác Hồ……….……………………………………………….5
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT. ............................................ 5
1.2.. Khái niệm về hệ thống bài tập ........................................................................................ 6
1.3. Huấn luyện thể lực trong thể thao.................................................................................... 7
1.3.1. Huấn luyện các tố chất thể lực cho vận động viên Taekwondo .............................. 8
1.3.2. Các tố chất thể lực: .................................................................................................. 9
1.3.2.1. Sức mạnh: ............................................................................................................. 9
1.3.2.2. Sức nhanh: .......................................................................................................... 10
1.3.2.3 Sức bền:………………………………………………………………………... 11
1.3.2.4. Mềm dẻo : ........................................................................................................... 12
1.4. Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi 12-15 (Trung học cơ sở: THCS). .............................. 14
1.4.1. Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi 12 - 15: .................................................................. 14
1.4.2. Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi 12 - 15. ................................................................... 15
1.4.2.1. Đặc điểm của hệ thần kinh: ................................................................................ 17
1.4.2.2. Đặc điểm hệ tim mạch: ....................................................................................... 18
1.4.3 Vấn đề phương pháp huấn luyện VĐV Taekwondo trẻ ......................................... 19
1.4.3.1 Giai đoạn tập luyện ban đầu ................................................................................ 19
1.4.3.2 Giai đoạn chuyên môn thể thao ........................................................................... 21
1.5. Những vấn đề còn tồn tại của nghiên cứu: ..................................................................... 22
1.5.1. Vấn đề kỹ thuật môn Taekwondo ........................................................................... 22
1.5.2. Vấn đề chiến thuật .................................................................................................. 23

PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày 27 tháng 3 năm 1946 Bác Hồ đã ra lời “Kêu gọi toàn dân tập thể dục”
động viên nhân dân rèn luyện sức khỏe để bảo vệ Tổ quốc.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó mà Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến
công tác TDTT. Nghị quyết IV TW Đảng khóa VII đã nêu: “Thể dục thể thao là biện
pháp hàng đầu tăng cường sức khỏe, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể đối với
bệnh tật…” Sự coi trọng và quan tâm tới công tác TDTT và phát triển thể chất cho
nhân dân không chỉ ở những năm gần đây mà ngay khi mới ra đời Đảng và Nhà nước
đã rất chú trọng, vào những năm đầu mới giành được độc lập, đất nước đang phải
đương đầu với muôn vàn khó khăn: Chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm…
Để đáp ứng với sự phát triển của xã hội - xã hội công nghệ đòi hỏi người thầy
phải thật sự chuẩn mực về tư cách, nhà giáo, vừa phải chuẩn mực về kiến thức, kỹ
năng. Đạt được vấn đề này người giáo viên dạy môn giáo dục thể chất phải không
ngừng trao dồi kiến thức, thường xuyên rèn luyện thể lực, kỹ chiến thuật để đáp ứng
với những tiến bộ kĩ thuật của người học và đạt được chuẩn mực như chỉ thị 36CT/TW
của ban bí thư Trung ương Đảng khoá VIII về: “Công tác TDTT trong tình hình mới,
ghi rõ: “Phải phấn đấu đạt được các mục tiêu về giáo dục thể chất trong trường học,
đồng thời cần. kiệm toàn hệ thống đào tạo Cán bộ giáo viên, huấn luyện viên, vận
động viên trẻ, nâng cao thành tích thể thao”.
Ngày nay trong công cuộc đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, xã hội, Thể thao Việt Nam nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng cũng đã
phát triển nhanh, mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ tại các kỳ
SEA Games, các giải thi đấu trong khu vực và Châu Á, Olympic… Hiện nay,
Taekwondo trở thành một trong số các môn Thể thao mũi nhọn của Thể thao Việt
Nam trên đấu trường Quốc tế. Được sự quan tâm và đầu tư đúng hướng của ngành
TDTT nước ta, Thể thao Việt Nam nói chung và môn võ Taekwondo nói riêng đang
ngày một phát triển và bước đầu đã có sự đầu tư về vật chất và nghiên cứu khoa học
mạnh mẽ để tiến tới giành được những thứ hạng cao hơn nữa tại các giải thi đấu trong
khu vực, Châu Á và Thế giới.
Cùng với sự phát triển của ngành TDTT, môn võ Taekwondo đã có những

trường Trần Ngọc Quế, CLB Taekwondo trường tiểu học Lê Bình 1,2 .., phong trào thí
đấu trong trường chào mừng các ngày lễ lớn đều không thiếu sự góp mặt của
Taekwondo nhiều tiết mục biểu diễn kỹ thuật quyền bằng tay của các em đều được
đông đảo mọi người hoan hô chào đón rất nhiệt tình.
Tuy nhiên, qua thực tế, tìm hiểu, trong quá trình quan sát cho thấy chất lượng
kỹ thuật đòn tay khi thực hiện bài quyền cũng như trong đối kháng, vấn đề phòng thủ
tấn công của các em võ sinh còn nhiều hạn chế chất lượng không đồng đều chưa đáp


3

ứng được nhu cầu như mong đợi của các bậc phụ huynh và hội thi cấp tỉnh thành, quốc
gia.
Các CLB Taekwondo trường học là cơ sở, nền tảng tạo ra những thế hệ vàng
cho may sau. Tuy nhiên, theo quan niệm chung của các HLV chỉ muốn các em đến lớp
có một sân chơi lành mạnh chứ chưa định hướng được cho các em ngắm vào mục đích
thi đấu và chú trọng nâng cao kỹ thuật đòn tay trong đối kháng và thi quyền. Cho nên,
đến kỳ kiểm tra thực hành các em còn hạn chế nhiều và không đạt được kết quả tốt.
Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết nêu trên, để góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo của Nhà trường nói chung và của môn Taekwondo nói riêng. Tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:

“NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM PHÁT

TRIỂN KỸ THUẬT ĐÒN TAY CHO VÕ SINH CLB TAEKWONDO TRƯỜNG THCS HƯNG PHÚ, QUẬN
CÁI RĂNG, TPCT. NĂM HỌC 2014 – 2015

”. là việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất

lượng đào tạo của môn Taekwondo.

dụng đầy đủ năng lực của mình”
Sau cách mạng tháng 10 Nga, V.I Lê Nin đã tiếp tục đi sâu và phát triển sáng
tạo Học thuyết về giáo dục toàn diện của Mác và Ăng Ghen. Lê Nin đặc biệt quan tâm
sâu sắc đến tương lai của thế hệ trẻ, đến cuộc sống của họ. Người nhấn mạnh: “Thanh
niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi
lội, tham gia các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần, học tập,
phân tích nghiên cứu và cố gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau”.
Lê Nin còn khẳng định tính biện chứng của sự phát triển hài hòa giữa thể chất
và tinh thần “tinh thần khỏe mạnh phù thuộc vào thân thể khỏe mạnh”
1.1.1. Quan điểm của Bác Hồ - một vĩ nhân của Thế giới, là vị cha già kính
yêu của dân tộc Việt Nam, là một nhà chính trị và văn hóa lỗi lạc. Sinh thời, Bác đã
rất quan tâm đến hoạt động Thể dục thể thao. Sự thật lịch sử đã chứng minh, Bác Hồ
là người khai sinh, người sáng lập nền Thể dục thể thao cách mạng của nước ta. Tư
tưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng Thể dục thể thao là sự
khẳng định có tính chiến lược, là nhu cầu khách quan của xã hội phát triển, là nghĩa
vụ của mọi người yêu nước. Mục tiêu cao đẹp của Thể dục thể thao là bảo vệ, tăng
cường sức khỏe nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh.
Những ý tưởng đó được thể hiện xuyên suốt qua các lời huấn thị, văn kiện, bài viết
của Người.
Tháng 3 năm 1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh, Bác
Hồ đã nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống
thêm khỏe mạnh”. Sau khi nước nhà vừa mới độc lập, chính quyền cách mạng còn non
trẻ, đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn như thù trong, giặc ngoài, nạn đói, xã
hội chưa ổn định... Ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa tháng 2 năm 1946. Bác Hồ mặc dù bận rộn trăm công, nghìn việc, nhưng bác


5

Hồ đã nhìn thấy tầm quan trọng của GDTC. Người đã kêu gọi toàn dân tập thể dục...



6

+ Chỉ thị 36 CT/TW nêu rõ: “ Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác Thể dục
thể thao là hình thành nền Thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao
sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân. Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện Thể dục thể thao trở thành
nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên”.
+ Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Thể dục thể thao nước nhà, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/TTg về việc xây dựng quy hoạch phát triển
ngành Thể dục thể thao, trong đó nêu rõ: (Ngành Thể dục thể thao phải xây dựng định
hướng phát triển có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và các
hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi tạo thành
phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng “ khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”...).
1.2.. Khái niệm về hệ thống bài tập
Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp, Mátveép, thì hệ thống các bài tập
được khái niệm như sau “ Những bài tập có cùng mục đích xắp xếp theo trình tự đơn
giản đến phức tạp, từ dể đến khó, từ nhẹ đến nặng….. được gọi là hệ thống các bài
tập” hệ thống bài tập bao gồm hệ thống bài tập bổ trợ giảng dạy, hệ thống bài tập nâng
cao hoàn thiện kỹ thuật , hệ thống bài tập phát triển chung …….Trong đó mỗi loại bài
tập thực hiện nhiệm vụ chung. Ví dụ: hệ thống bài tập phát triển thể lực chung là hệ
thống bao gồm những bài tập phát triển các tố chất chung như bài tập sức nhanh,
mạnh, bền,… của VĐV tạo nền tảng phát triển thể lực chuyên môn.
- Các nhà khoa học trong và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre
(Đức), Điền Mạnh Cửu (Trung Quốc), Nguyễn Văn Trạch, Lê Văn Lẫm (Việt Nam)…
cho rằng: “BTBT là một trong những phương tiện dùng để giảng dạy, huấn luyện
TDTT. Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho VĐV, bài tập mang tính
dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập mang tính tăng cường các tố chất thể

thể lực chung và thể lực chuyên môn giữ vai trò nền tảng.
Huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là vấn đề được quan tâm đặc biệt
của các nhà khoa học, các chuyên gia, các huấn luyện viên.
Huấn luyện thể lực là tiền đề để nâng cao thành tích thể thao. Song, về bản chất
mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo
của nhiều cơ quan và hệ thống cơ thể. Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể
lực cũng chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng giữ vai trò chủ yếu
trong mỗi hoạt động cơ bắp. Theo Philin V.P. [19] , "Các tố chất thể lực phát triển có
tính giai đoạn và không đồng đều , tuỳ thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi". Vì vậy,
người huấn luyện viên không những phải nắm vững các quy luật phát triển tự nhiên,


8

đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tố chất thể lực)
của cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ
tuổi của vận động viên.
Huấn luyện thể lực cho vận động viên là một quá trình giáo dục chuyên môn,
chủ yếu bằng hệ thống các bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo cho
vận động viên đạt thành tích cao nhất trong huấn luyện và thi đấu. [38]
Quá trình huấn luyện thể lực phải căn cứ vào đặc điểm đối tượng, lứa tuổi của
vận động viên và đặc thù môn thể thao, mà sử dụng các phương pháp, phương tiện phù
hợp. Có như vậy, huấn luyện thể lực mới mong đạt hiệu quả cao. [40]
Dưới góc độ Y - sinh học, các nhà khoa học Việt Nam: GS.TS Lưu Quang Hiệp
[9] , GS. Trịnh Hùng Thanh [22].... cho rằng: Nói đến huấn luyện thể lực chung và
chuyên môn trong huấn luyện thể thao là nói tới những biến đổi thích nghi về mặt sinh
học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể vận động viên dưới tác động của tập
luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp.
Tổng hợp các ý kiến trên, chứng tỏ quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn của
vận động viên là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) lên

tay kết hợp với đòn chân thực hiện một cách liên tục...
- Khắc phục những điểm yếu trong việc phát triển thể lực, có ảnh hưởng xấu
đến việc tiếp thu kỹ thuật đúng.
- Những bài tập chuẩn bị thể lực chuyên môn là những bài tập có cấu tạo thần
kinh - cơ hoặc có tính chất tương đồng với các bài tập thể lực chung, nhằm chủ
yếu phát triển và hoàn thiện những nhóm cơ làm việc chính và những chức
năng chủ yếu.
1.3.2. Các tố chất thể lực:
Các mặt khác nhau của hoạt động thể lực được gọi là các tố chất thể lực hay
còn gọi là tố chất vận động. Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh,
sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động). Dựa trên cơ sở sinh lý, lý
luận, và phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể lực, đề tài tiến hành phân tích đặc
điểm của từng tố chất.
1.3.2.1. Sức mạnh:
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài, hoặc đề kháng lại nó
bằng sự nỗ lực cơ bắp [23] [21]. Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như:
Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục),
tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ). Trong chế độ hoạt động như vậy cơ bắp sản ra
các lực cơ học, các trị số khác nhau cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ
sở phân biệt các loại sức mạnh. Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã
đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh.


10

Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị
số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường. Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh
lực của các cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh. Trong
các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ. Khả năng sinh lực trong
các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối


- Giai đoạn tăng tốc độ
- Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối
Đặc điểm của giai đoạn thứ nhất là chuyển động nhanh dần hay chuyển động có
gia tốc. Khi tốc độ không tăng thêm được nữa thì chuyển sang giai đoạn hai, giai đoạn
chuyển động đều.
Theo quan điểm sinh lý, về thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồm
năm thành phần:
- Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ
- Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương
- Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm
- Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ
- Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tích cực.
Trong các giai đoạn thì giai đoạn thứ 3 chiếm nhiều thời gian nhất. Những động
tác được thực hiện với tốc độ tối đa khác với động tác chậm về đặc điểm sinh lý.
Nguyên do của sự khác biệt thể hiện cơ bản ở chỗ: Khi thực hiện với tốc độ tối đa thì
khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác sẽ gặp nhiều
khó khăn. Do đó với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác trong các
động tác rất nhanh và thực hiện với tần số cao. Trong động tác với tốc độ lớn, hoạt
động của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế
cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường. Người ta thừa nhận rằng tần số động tác phụ
thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ luân
chuyển giữa trạng thái hưng phấn và ức chế ở trung khu vận động [9].
1.3.2.3. Sức bền:
Sức bền là năng lực thực hiện lâu bền một hoạt động với cường độ cho trước,
hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể
chịu đựng được [23].
Để có sức bền, vận động viên phải khắc phục mệt mỏi, nên sức bền còn có thể
nói là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [23].
Như vậy khái niệm sức bền luôn luôn liên quan đến khái niệm mệt mỏi. Sức

tất yếu trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, trước hết đó là
hệ thống thần kinh trung ương, cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp.
1.3.2.4. Mềm dẻo :
Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn. Biên độ tối đa của
động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo [23].
Năng lực mềm dẻo được chia làm 2 loại: Mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ
động.
Mềm dẻo tích cực là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp
nhờ sự nỗ lực của cơ bắp.


13

Mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp
nhờ tác động của ngoại lực như: Trọng lượng của cơ thể, lực ấn ép của huấn luyện
viên hoặc bạn tập...
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng
động tác. Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến những hạn
chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao.
Mềm dẻo rất cần thiết cho vận động viên Taekwondo để hoàn thành các bài tập
với biên độ động tác lớn. Nhờ các bài tập chuyên môn, vận động viên đạt được độ
mềm dẻo tốt hơn, từ đó đáp ứng được đòi hỏi khi thực hiện các động tác trong thi đấu
đối kháng hay đi quyền, nhất là khi phải sử dụng nhiều đòn tay và chân. Tố chất mềm
dẻo giúp vận động viên Taekwondo thực hiện các đòn đá với biên độ lớn dễ dàng hơn,
nhanh hơn, mạnh hơn, chính xác hơn. Tố chất mềm dẻo đóng một vai trò quan trọng
và quyết định đến thành tích thi đấu của vận động viên Taekwondo. Nếu không có dự
trữ về khả năng mềm dẻo thì không thể đạt được sức mạnh tối đa trong động tác cũng
như không đạt được hiệu qủa tốt, nhẹ nhàng trong động tác.
1.3.2.5. Phối hợp vận động:
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên

hoặc phức tạp).
. Năng lực phân biệt vận động: đó là năng lực thực hiện động tác một cách
chính xác cao và tinh tế từng hoạt động riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình đó.
Năng lực này thể hiện sự phân biệt có ý thức và chính xác các thông số về thời gian,
không gian và dùng sức trong quá trình thực hiện động tác.
. Năng lực thích ứng: đó là năng lực của vận động viên chuyển nhanh chóng
chương trình hành động này sang chương trình hành động khác dựa trên cơ sở tri
giác những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán có các thay đổi đó.
Như vậy, đánh giá trình độ tập luyện thể lực đòi hỏi phải xem xét nhiều mặt cấu
thành của nó: sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, sức bền và năng lực phối hợp vận động.
1.4. Đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi 12-15 (Trung học cơ sở: THCS).
1.4.1. Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi 12 - 15:
Cấu trúc tâm lý các môn thể thao là một hình thức biểu hiện hoạt tính tâm lý
Vận động viên, trong đó phản ánh sự tổng hợp của các hoạt động gắn liền với các ý
nghĩa nội dung cụ thể với logic xây dựng các cấu trúc vận động.
Đối với Taekwondo, hoạt tính tâm lý hai chiều thể hiện tương đối rõ nét. Vận
động viên không những chỉ cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động kỹ, chiến thuật của
mình, đồng thời phải chống đỡ và làm giảm hiệu lực hành động kỹ, chiến thuật của đối
phương. Song song với việc đặt kế hoạch hành động của mình và dự đoán hành động


15

của đối phương, phản ứng trả lời nhanh, hợp lý, hành động quyết đoán và hạn chế các
hành động tương tự của đối phương. Tất cả những cái đó phản ánh nên quy luật chung
nhất về hoạt tính tâm lý hai chiều của vận động viên Taekwondo.
Trong hoạt động thi đấu Taekwondo những yêu cầu tâm lý đối với các vận
động viên có liên quan tới: Những khó khăn liên quan đến điều kiện chung của hoạt
động thi đấu như khán giả, sân bãi, luật thi đấu và đặc biệt sự luân chuyển nhanh giữa
thành công và thất bại, khả năng chuyển ưu thế bất ngờ về đối phương là yếu tố tác

triệt các đặc điểm sinh lý lứa tuổi mà các đặc điểm tâm lý cũng đóng vai trò không kém
phần quan trọng. Vì vậy trong khoa học thể dục thể thao khái niệm tâm sinh lý tồn tại.
Tâm sinh lý lứa tuổi được xem một cách hữu cơ trong toàn bộ quá trình huấn luyện, nhất
là huấn luyện thể thao cho thiếu niên.
Trong huấn luyện thể thao thiếu niên cần phải đặc biệt lưu ý đến sự phù hợp
giữa lượng vận động tập luyện và thi đấu với mức độ phát triển tâm - sinh lý của các
em. Lượng vận động cực đại không đảm bảo phát triển các phản ứng thích nghi cần
thiết cho sự phát triển trình độ thể thao. Ngược lại, lượng vận động quá sức có thể làm
cạn kiệt khả năng dự trữ của cơ thể, dẫn đến những hiện tượng rối loạn bệnh lý.
Đối với cơ thể thiếu niên, tập luyện nóng vội, rút ngắn giai đoạn, sử dụng
những bài tập chuyên môn hạn hẹp cũng có thể gây nên ảnh hưởng xấu. Vì vậy những
bài tập phát triển toàn diện, với số lượng vận động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng
trong các chương trình huấn luyện thể thao thiếu niên. khả năng vận động của cơ thể
thiếu niên cũng tuân theo những đăc điểm lứa tuổi. giai đoạn thích nghi với vận động
của thiếu niên ngắn hơn so với người lớn. Tuy nhiên, vận động viên lứa tuổi này vẫn
cần phải được khởi động đủ và kỹ để phòng chấn thương và đảm bảo phát huy hết dự
trữ chức năng.
Trạng thái ổn định của vận động viên tuổi này nói chung ngắn hơn của người
lớn. Ví dụ, khi thực hiện bài tập có công suất trung bình (30 - 40 phút trên xe đạp lực
kế), trạng thái ổn định của các em 12 - 15 kéo dài 15 đến 20 phút, trong khi của vận
động viên 25 - 26 tuổi kéo dài 30 đến 32 phút. Dự trữ đường (đường huyết). Của vận
động viên trẻ giảm sớm hơn so với người lớn.
Quá trình mỏi mệt của các vận động viên thiếu niên cũng phụ thuộc vào đặc
điểm của lứa tuổi và được thể hiện ở 2 mặt:
- Thứ nhất, trong giai đoạn mỏi mệt, khả năng vận động nói chung cũng như
những chỉ số riêng như tần số động tác, sức mạnh, độ chuẩn... giảm rõ rệt hơn nếu so
sánh với người lớn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status