ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM NÂNG CAO KỸ THUẬT GIAI ĐOẠN GIỮA QUÃNG CỦA MÔN CHẠY 100M NAM HỌC SINH KHỐI 11 - Pdf 23

ĐỀ TÀI
“ỨNG DỤNG MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ TRỢ NHẰM NÂNG CAO KỸ
THUẬT GIAI ĐOẠN GIỮA QUÃNG CỦA MÔN CHẠY 100M
NAM HỌC SINH KHỐI 11”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài:
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa với mục
đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Thì nhân tố nhân lực
đóng một vai trò hết sức quan trọng, mà thể dục thể thao là một phương tiện cơ
bản nhất để đào tạo và bồi dưỡng nên nguồn nhân lực đó. Nó có liên quan đến
sự nghiệp đào tạo cho đất nước những con người có đầy đủ những phẩm chất về
đức, trí, thể, mĩ Mác và Ăng- ghen từng nói: “Sự kết hợp giữa trí dục và thể
dục với lao động sản xuất không chỉ là phương tiện để nâng cao năng suất mà
còn là phương thức cơ bản nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn
diện”.
Bởi vậy, giáo dục thể chất cho học sinh ở tất cả các cấp học đặc biệt là học sinh
phổ thông là một nhiệm vụ cần thiết không thể thiếu trong chương trình giáo dục
quốc gia. Chương trình giáo dục thể chất trong các trường phổ thông là một hệ
thống các bộ môn thể dục thể thao rất đa dạng và phong phú. Nhưng trong đó
điền kinh được xem là một bộ môn cơ bản nhất, dễ học, dễ phổ biến ở tất cả các
đối tượng học sinh, tham gia luyện tập. Tập luyện điền kinh không chỉ có tác
dụng nâng cao sức khoẻ mà nó còn là phương tiện để phát triển tất cả các tố chất
thể lực giúp con người phát triển toàn diện. Chính vì vậy, mà điền kinh được
xem là môn học chính trong chương trình giáo dục thể chất ở trường phổ thông.
Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu. Trong đó, chạy nói chung và chạy
cự li 100m nói riêng, là môn học được tập luyện và thi đấu khá phổ biến và rộng
rãi ở các trường phổ thông, các hội khoẻ Phù đổng từ trung ương đến địa
phương. Tuy nhiên thành tích chạy 100m của học sinh Việt Nam so với khu vực
và thế giới còn khá khiêm tốn. Bởi vậy mà việc giảng dạy môn chạy cự li ngắn
cho học sinh trong nhiều năm qua đã được chú trọng song vẫn còn phải khắc
phục khá nhiều khó khăn.

Tuy nhiên ở nước ta, việc áp dụng các phương tiện, phương pháp tập
luyện tiên tiến trong giảng dạy và huấn luyện còn hạn chế. Bởi nhiều nguyên
nhân: cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn và khả năng sáng tạo của giáo viên
cho nên hình thức, phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng như cách lĩnh hội
của học sinh chưa đa dạng và phong phú, dẫn đến tinh thần học tập của học sinh
chưa tự giác tích cực làm chất lượng giáo dục thể chất ở trường phổ thông kém.
Để góp phần vào việc giải quyết các tồn tại trên vấn đề đặt ra là phải
nghiên cứu đưa ra một số bài tập bổ trợ sao cho phù hợp với điều kiện thực tế
nhằm nâng cao thành tích môn chạy 100m trong chương trình giảng dạy ở các
trường phổ thông.
Xuất phát từ mục đích trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài ”Ứng
dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật giai đoạn giữa quãng của
môn chạy 100m cho nam học sinh khối 11 trường THPT Cẩm Thuỷ I ,Thanh
Hoá”.
1. Phạm vi nghiên cứu:
Chương trình chạy cự ly ngắn (100m) cho học sinh nam khối 11 Trường
THPT Cẩm Thuỷ 1.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu với mục đích: lựa chọn, sắp xếp các bài tập bổ trợ cùng
phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tốt năng lực thể chất cho học sinh, nâng
cao hiệu quả môn học chạy cự li 100m ở trưởng THPT.
- Thông qua quá trình điều tra sư phạm, áp dụng các bài tập bổ trợ vào đối
tượng nghiên cứu và với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong được đóng góp
vào sự nghiệp khoa học, làm phong phú thêm phương tiện giáo dục thể chất giúp
cho quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh đạt kết quả cao.
II. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Cơ sở lý luận và cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ:
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
2
1.1. Cơ sở lý luận:

kết hợp hài hoà giữa các tố chất kể trên với kỹ thuật tác động là một vấn đề cơ
bản để nâng cao thành tích.
* Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh tốc độ:
+ Tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn chuyền của hưng phấn ở trung
ương thần kinh và bộ máy vận động.
+ Tăng cường phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả
lỏng.
Bởi vậy để phát triển sức nhanh tốc độ cần phải áp dụng các bài tập có
trong lượng nhỏ, tốc độ tần số cao thời gian ngắn. Ngoài ra còn sử dụng phương
pháp lặp lại và biến đổi thì sẽ cải thiện được tốc độ của người tập.
2. Nguyên lý kỹ thuật của môn chạy:
Theo cơ học một vật chuyển động tịnh tiến hợp với mặt phẳng nằm ngang
thì quãng đường (S) được tính theo công thức:
S = V.t (1)
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
3
Trong đó S: là quảng đường (cự li) đơn vị tính bằng (m)
V: là vận tốc chuyển động đơn vị tính bằng (m/s)
t: là thời gian chuyển động của vật tính bằng (s)
Từ công thức này áp dụng vào thực tế có chu kỳ, trong đó thành tích của
chạy được tính bằng thời gian (s) hoạt động trên một cự li nhất định, cho nên từ
(1) ta có:
t =
V
S
(2)
Từ (2) ta thấy (t) và (s) luôn có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau, còn
(t) và (V) thì luôn có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau mà trong chay (t)
càng nhỏ thì thành tích càng tốt, vì vậy để có thành tích tối ưu trong chạy thì tốc
độ phải lớn (V

mạnh.
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để đi
đến hoàn thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệ xương. Cơ to
phát triển nhanh hơn cơ nhỏ, cơ chi phát triển nhanh hơn cơ dưới, khối lượng cơ
tăng lên rất nhanh, đàn tích cơ tăng không đều, chủ yếu là nhỏ và dài. Do vậy
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
4
khi cơ hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi. Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảng
dạy cần chú ý phát triển cơ bắp cho các em.
* Hệ thần kinh:
Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện, hoạt
động phân tích trên võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn. Khả năng
nhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động được nâng
cao. Ở lứa tuổi này học sinh không chỉ học các phần động tác vận động đơn lẻ
như trước mà chủ yếu là từng bước hoàn thiện ghép những phần đã học trước
thành các liên hợp động tác tương đối hoàn chỉnh, ở điều kiện khác nhau, phù
hợp với đặc điểm của từng học sinh. Vì vậy khi giảng dạy cần phải thay đổi
nhiều hình thức tập luyện, vận dụng các hình thức trò chơi thi đấu để hoàn thành
tốt những bài tập đề ra.
* Hệ hô hấp:
Ở lứa tuổi này, phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa đều, khung ngực
còn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và lâu không có sự ổn định của dung tích
sống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần số hô hấp của các em
tăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếu ôxi, dẫn đến mệt mỏi.
* Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển để kịp thời phát triển
toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát triển mạnh, do đó nâng
cao khá rõ lưu lượng máu/phút. Mạch lúc bình thường chậm hơn (tiết kiệm
hơn), nhưng khi vận động căng thì tần số nhanh hơn. Phản ứng của tim đối với
các lượng vận động thể lực đã khá chính xác, tim trở nên hoạt động dẻo dai hơn.

- Giáo trình giảng dạy điền kinh.
- Một số luật điền kinh.
2.2. Phương pháp dùng bài thử:
Để xác định sự biểu hiện về các tổ chức sức nhanh, sức mạnh, sức mạnh
tốc độ của nam học sinh trường THPT Cẩm Thuỷ 1. Chúng tôi dùng các bài thử
sau:
2.2.1. Đo thành tích chạy tốc độ 30m trước và sau thực nhiệm (biểu
hiện sức mạnh):
• Tư thế chuẩn bị: Đối tượng ở tư thế xuất phát cao.
• Cách thực hiện: Đối tượng chạy với tốc độ tối đa.
• Cách đo: Tính thời gian từ lúc xuất phát đến thời điểm chạm đích (đơn
vị thành tích tính bằng giây)
2.2.2. Chạy nâng cao đùi tại chỗ (biểu hiện sức mạnh tốc độ của hai
chân):
• Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng nghiêm, hai tay thả lỏng tự nhiên, mắt
nhìn thẳng.
• Thực hiện: Chạy nâng đùi cao ngang hông song song với mặt đất giữa
cảng chân với đùi tạo thành một góc 90
0
, tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân phía
trước, tay thả lỏng tự nhiên.
• Cách đo: Tính số lần thực hiện động tác trong vòng 30 giây.
2.2.3. Bật xa tại chỗ bằng hai chân (biểu hiện sức mạnh của hai chân):
• Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng chụm vào nhau hoặc là hai chân đứng
rộng bằng vai, tay để tự nhiên.
• Thực hiện:
- Nhịp 1: Hai tay đưa lên cao áp sát mang tai, thân người vươn thẳng,
ngực căng về phía trước.
- Nhịp 2: Hai tay đánh mạnh ra sau chùng gối, trọng tâm dồn vào 1/2 bàn
chân phía trước.

chạy bổ trợ tích cực cho động tác đạp sau khi chạy.
* Biện pháp thực hiện:
+ Tư thế chuẩn bị:Đứng nghiêm nhìn thẳng, thân người thả lỏng tự nhiên.
+ Yêu cầu thực hiện: (Các giai đoạn kỹ thuật)
- Chống trước bằng 1/2 bàn chân phía trên gần với điểm dọi của trọng tâm
cơ thể.
- Đạp sau chân thẳng, nâng trọng tâm cơ thể lên cao góc độ đạp sau lớn.
- Lăng sau không hất gót, chủ yếu nâng đùi lên cao ra trước thân trên
thẳng tự nhiên, cẳng chân thả lỏng.
Yêu cầu: Thực hiện với tần số nhanh tối đa.
* Định lượng: Thực hiện từ 3 – 4 lần/buổi mỗi lần từ 15’’ đến 20’’ thời
gian nghỉ giữa các lần tập là 1 – 1,5 phút.
2.3.3 Chạy đạp sau di chuyển 20m:
* Mục đích:
+ Nâng cao năng lực vận động phối hợp giữa chân đạp và chân lăng, phát
triển sức mạnh cơ đùi, cơ cẳng chân và cơ bàn chân. Tăng cường và phát
huy lực đạp sau, tăng tốc độ khi chạy.
* Biện pháp thực hiện:
+ Tư thế chuẩn bị: Đứng ở tư thế xuất phát cao.
+ Yêu cầu thực hiện: (các giai đoạn kỹ thuật)
- Lăng trước: Đùi nâng cao gần như chạy, cổ chân thả lỏng góc độ giữa
đùi và cẳng chân bằng 90
0
- Chống trước: Tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân phía trên, nhanh chóng
miết về sau.
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
7
- Đạp sau: Nhanh chóng duỗi hết các khớp từ hông đến cổ chân nhất trí
với hướng chạy, góc độ đạp sau khoảng 45
0

Chạy tốc độ
30m, xuất
phát cao
Đối tượng chạy với tốc độ tối đa,
sử dụng 100 % sức, khi chạy
trọng tâm cơ thể không giao
động nhiều sang hai bên.
Thực hiện từ 4-5 lần/
buổi. Thời gian nghỉ từ
các lần là 1- 1,5 phút.
2
Chạy tốc độ
40m, xuất
phát cao
Chạy với tốc độ tối đa, khi chạy
thân người hơi ngả ra sau
khoảng 85
0
Thực hiện từ 4-5 lần/
buổi. Thời gian nghỉ từ
các lần là 1- 2 phút.
3
Chạy tốc độ
50m, xuất
phát cao
Đối tượng chạy với tốc độ tối đa,
sử dụng 100 % sức
Thực hiện từ 3-4 lần/
buổi. Thời gian nghỉ từ
các lần là 1 – 2 phút

5 x x x x x
5
Tại chỗ thực hiện động
tác đánh tay
6 x x x x x x
6
Chạy tốc độ 30m, xuất
phát cao
5 x x x x x
7
Chạy tốc độ 40m, xuất
phát cao
4 x x x x
8
Chạy tốc độ 50m, xuất
phát cao
5 x x x x x
9
Chạy tốc độ 60m, xuất
phát cao
4 x x x x
Sau khi đã lựa chọn được một số bài tập bổ trợ, chúng tôi tiến hành thực
nghiệm trên 60 nam học sinh khối 11 và số học sinh đó được chia thành 2 nhóm
như sau:
+ Nhóm đối chứng (A) gồm 30 nam học sinh tiến hành giảng dạy và tập
luyện theo phương pháp mà giáo viên ở trường THPT Cẩm Thuỷ1,sử dụng.
+ Nhóm thực nghiệm (B) gồm 30 nam học sinh tiến hành giảng dạy và
tập luyện áp dụng các bài tập bổ trợ đã được lựa chọn.
Quá trình thực nghiệm được chúng tôi tiến hành trên đối tượng học sinh
có cùng độ tuổi, cùng giới tính, cùng địa dư và cùng thời gian tập luyện như

Ứng dụng các bài tập bổ trợ vào thực tế môn chạy 100m cho nam học
sinh khối 11 trường THPT Cẩm Thuỷ1,và rút ra kết luận.
Như đã phân tích kết quả nghiên cứu ở nhiệm vụ 1 và qua khảo sát tình
hình thực tế ở trường THPT Cẩm Thuỷ1. Đây là một trường có bề dày kinh
nghiệm nhưng do trường vừa là trường học vừa là công trường xây dựng cho
nên còn khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt: Cơ sở vật chất, sân bãi đội ngũ giáo
viên trẻ… Tuy nhiên việc giáo dục thể chất cho học sinh cũng được nhà trường
quan tâm, nhưng đến nay việc đưa các phương pháp giảng dạy mới đa dạng
phong phú về các hình thức tập luyện còn ít được sử dụng. Sự phát triển thể lực
của các em hiện nay chủ yếu dựa vào các bài tập thể dục thể thao đơn điệu và
điều kiện sống tự nhiên, và đôi khi áp dụng đó đến phân cuối của bài tập mới
được tập luyện một số bài tập đơn giản, quen thuộc như: Trò chơi chạy thoi tiếp
sức, nhảy lò co tiếp sức… và việc tập luyện kể trên chỉ diễn ra mỗi tuần hai
buổi, mỗi buổi 10 – 15 phút. Cho nên sự tác động của lượng vận động lên cơ thể
là rất ít, bởi vậy các tố chất thể lực nói chung của các em còn rất ít phát triển và
phát triển không đồng đều ở các năm học, đặc biệt là các tố chất về sức nhanh,
sức mạnh, sức mạnh tốc độ. Cho nên trường THPT Cẩm Thuỷ 1 cần phải tìm
kiếm những phương pháp nội dung tập luyện mới đa dạng phong phú hơn, để
ứng dụng vào thực tế cho học sinh tập luyện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng
giáo dục thể chất nói chung và thành tích chạy 100m nói riêng.
Để đạt được mục đích đó bước đầu trong nghiên cứu khoa học tôi đã vận
dụng một số bài tập bổ trợ cho kỹ thuật giai đoạn “giữa quảng” của môn chạy
100m để các em tập luyện (đó là hệ thống các bài tập đã được trình bày ở phần
phương pháp thực nhiệm sư phạm). Trong quá trình đó chúng tôi tiến hành thực
nghiệm trên 60 học sinh nam của 2 lớp 11ca3 và 11ca4, 60 học sinh này được
chia thành 2 nhóm: Nhóm đối chứng A thuộc lớp 11ca3 và nhóm thực nghiệm B
thuộc lớp 11ca4 mỗi nhóm gồm 30 em. Trong khi tập luyện các bài tập bổ trợ
yêu cầu người tập phải thực hiện đầy đủ lượng vận động của bài tập.
Tương tự như thế chúng tôi tiến hành kiểm tra thành tích và điểm kỹ
thuật của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm, kết quả kiểm tra được trình bày

nhóm thực nghiệm B là 12’10. Khi chúng ta đem so sánh thành tích của hai
nhóm sẻ thấy rõ nhóm thực nghiệm B tăng lên rất nhiều so với nhóm đối chứng
A.
Bảng 5: Kết quả kiểm tra điểm kỹ thuật chạy 100m, trước thực nghiệm của nam
học sinh khối 11 trường THPT Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá .
(N=30)
Kết quả
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Số HS % Số HS %
Học sinh đạt điểm giỏi: 9 – 10 3 10 1 3,3
Học sinh đạt điểm khá: 7 – 8 10 33,3 9 30
Học sinh đạt điểm TB: 5 – 6 13 43,3 14 46,6
Học sinh đạt kém 4 13,3 6 20
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
12”54
12”56
12”39
12”10
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

tỉ lệ 43,3%. Còn số học sinh đạt điểm trung bình của nhóm thực nghiệm B là 14
học sinh chiếm tỉ lệ 46,6%.
+ Số học sinh đạt điểm kém của nhóm đối chứng A là 4 học sinh, chiếm tỉ lệ
13,3%. Còn số học sinh đạt điểm kém của nhóm thực nghiệm B là 6 học sinh
chiếm tỉ lệ 20%.
Nhìn vào bảng 5 và phân tích kết quả ta thấy thành tích của nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm tương đối đồng đều nhau và số học sinh đạt điểm
yếu còn đang chiếm một tỉ lệ nhất định.
* Sau thực nghiệm: Sau 7 tuần chúng tôi áp dụng các bài tập bổ trợ cho kỷ
thuật giai đoạn giữa quãng của môn chạy 100m vào cho nhóm thực nghiệm B
tạp luyện. Chúng tôi tiến hành kiểm tra thành tích và điểm kỹ thuật của môn
chạy 100m, xuất phát thấp của cả hai nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Nhìn vào bảng 6 ta thấy sau thực nghiệm không những nhóm thực nghiệm
B tăng rõ lên về thành tích mà điểm kỹ thuật của nhóm thực nghiệm B cũng tốt
hơn nhóm đối chứng rất nhiều. Cụ thể là:
+ Số học sinh đạt điểm giỏi của nhóm đối chứng A là 4 học sinh, chiếm tỉ lệ
10,33%. Còn số học sinh đạt điểm giỏi của nhóm thực nghiệm B là 6 học sinh
chiếm tỉ lệ 20%.
+ Số học sinh đạt điểm khá của nhóm đối chứng A là 12 học sinh, chiếm tỉ lệ
40%. Còn số học sinh đạt điểm khá của nhóm thực nghiệm B là 15 học sinh
chiếm tỉ lệ 50%.
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
12
+ Số học sinh đạt điểm trung bình của nhóm đối chứng A là 13 học sinh, chiếm
tỉ lệ 43,3%. Còn số học sinh đạt điểm trung bình của nhóm thực nghiệm B là 9
học sinh chiếm tỉ lệ 30%.
+ Số học sinh đạt điểm kém của nhóm đối chứng A là 1 học sinh, chiếm tỉ lệ
3,33%. Riêng nhóm thực nghiệm B không còn học sinh nào bị điểm kém.
Như vậy sự tăng lên rõ rệt về thành tích và điẻm kỹ thuật của môn chạy
100m của nhómn thực nghiệm B đã cho chúng ta thấy rằng việc áp dụng các bài

chung và trong môn chạy cự li 100m nói riêng, giúp học sinh có thể đạt hiệu quả
tập luyện tốt nhất.
2. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu ở trường THPT Cẩm Thuỷ1 ,
chúng tôi thấy đây là một trường có điều kiện vật chất phục vụ cho môn học thể
dục thể thao còn hạn chế và hư hỏng nhiều, điều này đã làm ảnh hưởng đến một
phần không nhỏ kết quả học tập của học sinh. Do đó nhà trường cần phải tạo
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
13
điều kiện, bổ sung thêm cơ sở vật chất để quá trình học tập và rèn luyện của các
em đạt hiệu quả cao hơn.
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, đề tài mới chỉ là những nghiên cứu
bước đầu trong phạm vi hẹp, nên kết quả nghiên cứu không tránh khỏi thiếu sót.
Chúng tôi mong được sự góp ý của Hội đồng Khoa học ngành Giáo dục Thanh
Hoá để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cẩm Thuỷ, ngày 15 tháng 05 năm 2011
Người viết
Nguyễn Thị Hằng
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT Tên sách Tác giả Nhà
xuất bản
Năm
xuất bản
1 Lý luận và
phương pháp giáo
dục thể chất
Nguyên Toán
Phạm Danh Tôn
TDTT 1993

1.1Nhiệm vụ 1 Trang 7
1.2Nhiệm vụ 2 Trang 7
2. Phương pháp nghiên cứu Trang 7
2.1Phương pháp đọc tài liệu Trang 7
2.2 Phương pháp dùng thử Trang 7
2.3 Những bài tập bổ trợ phát triển kỷ thuật………………………… Trang 8
2.4 Hệ thống các bài tập phát triển……………………………………Trang10
II. Phân tích nhiệm vụ Trang13
C. KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ
I. Những kết luận Trang17
II. Kiến nghị Trang17
Giáo viên: Nguyễn Thị Hằng - Môn TD - THPT Cẩm Thuỷ1.
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status