Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng ngành thủy sản – nghiên cứu tại tỉnh bến tre tt - Pdf 49

1

2

GIỚI THIỆU

nghĩa là môi trường càng bất ổn, rủi ro cao thì các tổ chức có xu hướng tăng
cường liên kết (Afuah, 2001; Lui và cộng sự, 2010; Germain và cộng sự, 2008).
Trong khi đó, một số nghiên cứu khác thì xác định quan hệ này là ngược chiều,
rủi ro càng cao, các tổ chức càng không có xu hướng liên kết với nhau, thay vào
đó họ chỉ phát triển quan hệ bình thường với các đối tác để dễ dàng thay đổi khi
môi trường biến động (Zhao và cộng sự, 2013). Do đó, tiếp tục kiểm định và lý
giải về mối quan hệ này là cần thiết.
Sự tác động của chiến lược kinh doanh lên liên kết chuỗi cung ứng cũng
phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ giữa chiến lược, cấu trúc và kết quả kinh

Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng được chú trọng hơn khi mà
các tổ chức nhận thức được lợi ích của việc tham gia liên kết, hợp tác với nhau.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì tính chuyên môn hóa ngày càng tăng
(Lummus và Vokurka, 1999), các tổ chức sẽ có xu hướng tăng cường hợp tác
với các thành viên khác trong chuỗi cung ứng để sử dụng các nguồn lực có chất
lượng của đối tác với chi phí thấp hơn là tự sản xuất nhưng không hiệu quả. Do
đó, các tổ chức ngày càng muốn xích lại gần nhau nhằm quản lý hiệu quả các
nguồn cung cũng như các kênh phân phối để vừa tối ưu hóa chi phí, đồng thời
tăng sự thỏa mãn của khách hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và
cải thiện lợi nhuận của các tổ chức tham gia (Lee, 2000; Anderson và Narus,
1990). Vì vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: sự cạnh tranh
đang diễn ra giữa chuỗi cung ứng với chuỗi cung ứng, không phải diễn ra giữa
doanh nghiệp và doanh nghiệp (Christopher, 1998).
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm kiếm và xác định các điều kiện tiền
đề đối với các tổ chức tham gia liên kết chuỗi cung ứng. Nhiều học giả cho rằng

nghiên cứu và xác định rõ ràng hơn các yếu tố ảnh hưởng cả bên trong và bên
ngoài đến sự liên kết này cũng như sự ảnh hưởng của liên kết đến kết quả kinh
doanh. Nghiên cứu này cũng sẽ kiểm định sự tác động điều tiết của yếu tố văn
hóa tổ chức đến các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi
cung ứng. Cuối cùng, một số biến kiểm soát cũng sẽ được xem xét như các công
đoạn trong chuỗi, loại hình tổ chức tham gia và qui mô các tổ chức này.
Ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng chịu
sự tác động rất lớn của nhiều yếu tố. Trong đó, cũng giống như ngành nông sản
nói chung, rủi ro luôn là vấn đề quan trọng được đặt lên hàng đầu khi tham gia


3

4

vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản và ảnh hưởng
không nhỏ đến sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành trên cả phương
diện liên kết dọc và liên kết ngang. Tuy nhiên, cho đến nay các doanh nghiệp
thủy sản, trong đó có doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bến Tre, vẫn đang còn lúng
túng trong việc xác định các chiến lược và phối hợp chúng như thế nào để có thể
hạn chế các rủi ro cũng như thúc đẩy phát triển liên kết trong chuỗi cung ứng.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài ‘Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi
cung ứng ngành thủy sản - Nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre’ không chỉ cần thiết về
mặt lý luận mà phần nào đem lại sự đóng góp thiết thực đối với vấn đề thực tiễn.

tại tỉnh Bến Tre. Ngoài ra, thông qua nghiên cứu định tính, tác giả đánh giá, so
sánh và lựa chọn các thang đo của các biến được lựa chọn nghiên cứu.
Từ nghiên cứu định tính, tác giả chỉnh sửa và phát triển mô hình mới.
Tiếp theo, tác giả phát triển phiếu điều tra và điều tra thử ở qui mô nhỏ để kiểm
định độ tin cậy của phiếu điều tra. Sau khi kiểm định thử, tác giả thực hiện điều

nhà quản lý về chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam để kiểm tra mô
hình đã phát triển nhằm loại bỏ những biến không phù hợp với đặc thù bối cảnh

Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu được chia làm 5 chương theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về liên kết
chuỗi cung ứng.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu về liên kết chuỗi cung ứng thủy
sản tỉnh Bến Tre.
Chương 3: Phân tích thực trạng chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
giai đoạn 2010 - 2016.
Chương 4: Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng, mức độ
liên kết và kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia trong chuỗi cung ứng
thủy sản tỉnh Bến Tre.
Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh liên kết trong
chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre.


5

6

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ
LIÊN KẾT CHUỖI CUNG ỨNG

Ví dụ, quản lý và liên kết chuỗi cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp và dài hạn đến
kết quả tài chính và marketing của doanh nghiệp (Li và cộng sự, 2006). Liên kết
các hoạt động hậu cần với các nhà cung ứng và khách hàng sẽ cải thiện được kết
quả của cả người bán lẫn người mua (Paulraj và Chen, 2007).

này cũng có thể hàm ý đến mối quan hệ giữa người mua và người bán dưới gốc
độ hậu cần (Paulraj và Chen, 2007). Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều cho
rằng liên kết bên ngoài có sự tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng
Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng sẽ được phân tích
dưới gốc độ lý thuyết về mối quan hệ giữa môi trường và các tổ chức. Aldrich
và Pfeffer (1976) cho rằng các tổ chức không thể tự mình tạo ra tất cả những
nguồn lực và do đó phải phát triển các quan hệ và huy động một số nguồn lực
từ bên ngoài. Khi tính chuyên môn hóa và phân công lao động giữa các tổ chức
càng cao thì mối quan hệ giữa các tổ chức, hay giữa tổ chức với môi trường bên
ngoài ngày càng trở nên quan trọng, bởi vì thông qua mối quan hệ này các tổ
chức mới có được đầy đủ các nguồn lực cần thiết.
Rủi ro trong chuỗi cung ứng
Mối quan hệ giữa sự bất ổn hay rủi ro và liên kết trong chuỗi cung ứng
được kiểm định trong một số nghiên cứu. Ví dụ, rủi ro cung ứng như giao hàng
không đúng hạn, không đáp ứng yêu cầu về mặt số lượng và chất lượng có thể
ảnh hưởng tiêu cực đến liên kết chuỗi cung ứng (Zhao và cộng sự, 2013). Khi
rủi ro cung ứng tăng cao sẽ khiến các nhà sản xuất không muốn đầu tư vốn
cũng như tăng cường cam kết mối quan hệ lâu dài với nhà cung ứng. Thay vì
liên kết và trung thành với một hoặc một số nhà cung ứng, họ sẽ lựa chọn
phương án quan hệ với nhiều nhà cung ứng để giảm rủi ro và tăng sự an toàn
cho việc sản xuất kinh doanh. Do đó:
Giả thiết H3: Rủi ro từ nguồn cung có mối quan hệ ngược chiều với mức
độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H3a); và mức độ liên kết
giữa doanh nghiệp với khách hàng (H3b).
Tương tự, rủi ro do thị trường không ổn định, nhu cầu biến động liên tục,
khó dự báo cũng ảnh hưởng đến sự liên kết của chuỗi cung ứng. Khi rủi ro thị



định hướng tới khách hàng vì quản lý và liên kết chuỗi cung ứng hiệu quả đòi hỏi
sự cân bằng giữa chi phí và dịch vụ khách hàng (Cooper và Ellram, 1993).
Giả thiết H7: Định hướng chiến lược chi phí thấp có mối quan hệ thuận
chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (7a) và mức độ
liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (7b).
Giả thiết H8: Định hướng chiến lược khách hàng có mối quan hệ thuận
chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (8a) và mức độ
liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (8b).

Thông tin là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phối hợp hiệu quả
giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp cũng như giữa các thành viên
trong chuỗi cung ứng (Lee và cộng sự, 1997). Thông tin không đầy đủ là một
trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả. Chia sẻ thông tin và cải
thiện chất lượng nguồn thông tin sẽ làm giảm rủi ro, nâng cao tính chính xác
của các quyết định và tăng sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung
ứng. Do đó, những rủi ro do thiếu thông tin, thông tin chậm trễ, hệ thống thông
tin gặp vấn đề hay tính bảo mật thông tin thấp đều có thể ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động và sự liên kết giữa các thành viên cũng như trong các tổ chức
(Christopher và Lee, 2004).
Giả thiết H5: Rủi ro từ nguồn thông tin có mối quan hệ ngược chiều với
mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H5a) và mức độ liên
kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (H5b).
Rủi ro trong chuỗi cung ứng có thể xuất hiện do sự tác động của môi
trường chính trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên,… và những rủi ro này càng tăng khi
chuỗi cung ứng ngày càng được mở rộng và phức tạp hơn (Khan và Burnes,
2007). Những rủi ro trên thông thường là khách quan và ngoài tầm kiểm soát của
từng thành viên trong chuỗi. Do vậy, các thành viên thường có xu hướng đa dạng
hóa các mối quan hệ để giảm thiểu các rủi ro trên thay vì tăng cường hợp tác, liên
kết chặt chẽ với một số ít các đối tác.
Giả thiết H6: Rủi ro từ môi trường có mối quan hệ ngược chiều với mức


Rủi ro từ môi trường

Văn hóa tổ chức

Chiến lược chi phí thấp

Hướng nội – Hướng ngoại

Chiến lược khách hàng

Chiến lược chi phí thấp kết hợp
Chiến lược khách hàng

Mô hình nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh

9

Một doanh nghiệp có văn hóa hướng ngoại thì thông thường sẽ chấp nhận
rủi ro từ môi trường để điều chỉnh, tương tác và thích ứng với môi trường. Ngược
lại, những doanh nghiệp có văn hóa hướng nội thường sẽ chỉ tập trung củng cố
nguồn lực bên trong và ít mở rộng các quan hệ ra bên ngoài (Denison và Spreitzer,
1991). Như vậy, đối với các tổ chức hướng ngoại sẽ thúc đẩy quá trình liên kết
hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng diễn ra thuận lợi hơn so với các
tổ chức có tính hướng nội. Ngược lại, đối với các doanh nghiệp hướng nội họ sẽ
không sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tăng cường liên kết với các đối tác và thậm chí
họ còn hạn chế sự hợp tác để đảm bảo tính an toàn cho bản thân họ.
Liên kết chuỗi cung ứng cũng là một đặc tính năng động của doanh
nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp năng động và linh hoạt thường có xu hướng
tăng cường hợp tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng. Những doanh nghiệp

THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE

dựa trên tính chất vốn sở hữu và qui mô doanh nghiệp. Phiếu điều tra sẽ được gửi
trực tiếp, qua bưu điện hoặc qua email đến một số tổ chức trong từng nhóm được
phân loại ở trên. Số phiếu phát ra tối thiểu là 156 phiếu và tối thiểu thu về 120
phiếu. Để đảm bảo an toàn, số phiếu phát ra dự kiến khoảng 200 và thu về
mong đợi khoảng 150 phiếu. Thời gian thự hiện điều tra dự kiến khoảng 8 tuần.

Chương 2 sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
luận án. Phần đầu của chương sẽ đề cập đến các phương pháp luận nghiên cứu.
Tiếp theo là các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập và
phân tích dữ liệu. Cuối cùng, kết quả kiểm định thử bảng hỏi và thang đo được
phân tích ở cuối chương.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế bảng câu hỏi
Các thang đo được tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu. Sau đó chúng được
phân tích và so sánh để lựa chọn những thang đo phù hợp nhất với mục tiêu và
bối cảnh nghiên cứu. Bảng câu hỏi điều tra bao gồm 56 thang đo (phụ lục 1).
Phần A bao gồm các thang đo về kết quả và tiền đề của liên kết chuỗi cung ứng;
phần B chứa những nội dung đo lường văn hóa doanh nghiệp; phần C là những
thông tin cá nhân và tổ chức của người trả lời đang công tác.
Nghiên cứu thí điểm
Nghiên cứu thí điểm là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu
với mục tiêu kiểm tra bảng câu hỏi để phát hiện ra những vấn đề cần chỉnh sửa
trong bản phác thảo và cách thức nghiên cứu (Cooper và Schindler, 1998; Fink,
2003) và để đảm bảo không có vướng mắc khi trả lời bảng câu hỏi và ghi lại dữ
liệu (Saunders, Lewis và Thornhill, 2000). Phần mềm SPSS được sử dụng để
kiểm tra số liệu, kiểm định độ tin cậy của các thang đo và mối tương quan giữa
các nhân tố nghiên cứu. Căn cứ vào nghiên cứu thí điểm này sẽ có thể có một
vài sự thay đổi đối với bảng hỏi.

đạt trung bình khoảng 9,94% trong 7 năm trở lại đây cho thấy một lượng lớn
sản lượng được thu mua đem ra khỏi Tỉnh..
Nhìn chung, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Tỉnh Bến Tre còn
nhiều tiềm năng để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu vào các khu vực EU, Châu
Á, Bắc Phi và Trung Đông. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sẽ giúp các doanh
nghiệp phân loại được sản phẩm theo chất lượng phù hợp với quy định của thị
trường và yêu cầu của đối tác nhập khẩu nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh doanh.

Phần phân tích thực trạng chuỗi cung ứng sẽ bao gồm 3 phần. Phần đầu
phân tích chuỗi cung ứng thủy sản Bến Tre gồm 3 công đoạn: đầu vào, nuôi
trồng và chế biến, xuất khẩu; phần 2 phân tích mối quan hệ, mức độ liên kết giữa
các thành viên trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre; phần 3 phân tích
thực trạng các nhân tố có thể ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng: rủi ro trong
chuỗi cung ứng, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và văn hóa tổ chức.
Phân tích chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2016
Đầu vào
Con giống là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của
quá trình nuôi vì chất lượng con giống ảnh hưởng đến chi phí nuôi và chất
lượng của thủy sản thành phẩm khi xuất khẩu.
Chi phí thức ăn cho các loài thủy sản rất cao nhưng kết quả khảo sát của
tác giả cho thấy rất ít hộ gia đình ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh
nghiệp chế biến thủy sản hoặc bất kỳ hình thức cam kết nào khác về vấn đề thu
mua sản phẩm đầu ra nên trong trường hợp không tìm được nguồn thu mua,
người nuôi có nguy cơ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
Nuôi trồng
Trong những năm qua, ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản của Tỉnh
Bến Tre không ngừng phát triển với diện tích nuôi trồng thủy sản được mở rộng
qua hằng năm từ 43.000 ha lên 46.800 ha từ năm 2011 đến năm 2016. Tốc độ
tăng trưởng bình quân về sản lượng tăng khoảng 5%/năm, tuy nhiên, đến năm
2016 thì có sự suy giảm khoảng 2.877 tấn do tình trạng xâm nhập mặn.

cận được nhiều thông tin về yêu cầu đối với sản phẩm đầu ra; trong khi đó, khi mua
cá tra để phục vụ chế biến, doanh nghiệp chỉ mua sản phẩm của các hộ nuôi đạt yêu
cầu. Sự khác biệt giữa nhận thức của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản và yêu cầu của
doanh nghiệp rất dễ xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh thị trường xuất khẩu luôn đặt ra
những quy định mới theo hướng khắc khe hơn đối với thủy sản Việt Nam.
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu với khách hàng
Sự cạnh tranh về giá là rất căng thẳng, việc hợp tác giữa các doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản về giá là bất khả thi vì sự tôn trọng cam kết vào lợi ích
chung không được các doanh nghiệp quan tâm nên gây thiệt hại cho toàn
ngành. Đặc biệt, thời gian qua, do những bất ổn về tình hình tài chính công
trong khu vực, thị trường các nước EU chịu áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, do
đó các thương nhân nhập khẩu thủy sản tại EU gây áp lực về giá, nếu doanh
nghiệp không đáp ứng họ sẽ thay đổi đối tác; đây là khó khăn rất lớn cho các
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Tỉnh Bến Tre.
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Rủi ro trong chuỗi cung ứng
- Rủi ro từ nguồn cung
- Rủi ro từ thị trường
- Rủi ro từ thông tin
- Rủi ro từ môi trường
Chiến lược kinh doanh của các tổ chức sản xuất kinh doanh tỉnh Bến Tre
Hiện nay, các cơ sở sản xuất còn hoạt động và kinh doanh tốt đều phải
định hướng đến khách hàng cũng như kết hợp với chiến lược chi phí thấp. Qua
quá trình tồn tại và phát triển, các cơ sở có chiến lược kinh doanh tốt đã tạo ra
sự liên kết và hình thành nên chuỗi cung ứng
Văn hóa tổ chức của các tổ chức sản xuất kinh doanh tỉnh Bến Tre
Đặc thù của các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bến Tre là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, do đó khả năng chịu đựng sự tác động của thị trường là không cao.
Theo các nhà quản lý doanh nghiệp thì các doanh nghiệp có sự cạnh tranh
không lành mạnh; tình trạng mua sản phẩm chất lượng thấp, cố tình bán dưới

phân tích tiếp theo.
Phân tích nhân tố các biến nghiên cứu
Phần này tập trung vào phân tích nhân tố. Các nhóm nhân tố được phân tích
bao gồm: các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến liên kết giữa các tổ chức trong chuỗi
cung ứng, mức độ liên kết, kết quả kinh doanh và văn hóa tổ chức. Kết quả cho


17

thấy hầu hết các biến quan sát đều hội tụ về nhân tố theo như lý thuyết.
Phân tích độ tin cậy các nhân tố
Độ tin cậy của các thang đo được xác định bằng Cronbach’s Alpha. Kết
quả từ nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các biến đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn
hơn 0.7 và các hệ số tương quan biến-tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total
Correlation) đều lớn hơn 0.3. Do vậy, có thể kết luận là các thang đo của các
nhân tố có độ tin cậy cao.
Kiểm định giả thiết
Phần này kiểm định các giả thuyết đã đề xuất trong Chương 1. Cụ thể là kiểm
định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ liên kết giữa các thành viên trong chuỗi
cung ứng thủy sản tại tỉnh Bến Tre và kết quả của việc tham gia liên kết. Phương
pháp phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định các mô hình
và mối quan hệ giữa các biến.
Tổng hợp kết quả nghiên cứu
Bảng Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết
Giả thiết H1: Liên kết với nhà cung ứng có ảnh hưởng tích Chấp nhập
cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Giả thiết H2: Liên kết với khách hàng có ảnh hưởng tích cực Chấp nhận
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Giả thiết H3: Rủi ro từ (a) mức độ liên kết giữa doanh Chấp nhập
nguồn cung có mối nghiệp với các nhà cung ứng

Giả thiết H8: Định
hướng chiến lược khách
hàng có mối quan hệ
thuận chiều với

(a) mức độ liên kết giữa doanh Không chấp nhận
nghiệp với các nhà cung ứng

Giả thiết H9: Sự kết hợp
hiệu quả giữa định
hướng chiến lược chi phí
thấp và định hướng
chiến lược khách hàng
có mối quan hệ thuận
chiều với

(a) mức độ liên kết giữa doanh Chấp nhập
nghiệp với các nhà cung ứng

Giả thiết H10: Văn hóa
tổ chức là biến điều tiết
mối quan hệ giữa rủi ro
từ nguồn cung với mức
độ liên kết với nhà
cung ứng. Điều này
hàm ý

(a) doanh nghiệp có văn hóa hướng Chấp nhập (tác
đến sự linh hoạt thì sự tác động của động toàn phần)
rủi ro từ nguồn cung lên mức độ

(a) doanh nghiệp có văn hóa hướng Chấp nhập (tác
đến sự linh hoạt thì sự tác động của động bán phần)
rủi ro từ thị trường lên mức độ liên
kết với khách hàng sẽ thấp hơn so
với các doanh nghiệp có văn hóa
kém linh hoạt
(b) Tương tự, doanh nghiệp có văn Chấp nhập (tác
hóa hướng ngoại thì sẽ làm giảm động bán phần)
mức độ tác động của rủi ro từ thị
trường lên mức độ liên kết với
khách hàng so với các doanh
nghiệp có văn hóa hướng nội

20

CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT
CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE
Chương 5 sẽ tập trung đánh giá và phân tích các kết quả của nghiên cứu này
so với các nghiên cứu đã thực hiện. Phần tiếp theo sẽ đề xuất các giải pháp và kiến
nghị nhằm đẩy mạnh sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng thủy
sản tỉnh Bến Tre.
Mối quan hệ giữa rủi ro, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến rủi ro trong chuỗi cung ứng có ảnh
hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng, bao gồm các rủi ro từ nguồn cung ứng và rủi
ro từ thị trường, rủi ro từ nguồn thông tin. Cụ thể, rủi ro từ nguồn cung ứng có
quan hệ ngược chiều với liên kết với nhà cung ứng. Điều này thống nhất với quan
điểm với các nghiên cứu đã thực hiện (Frohlich, 2002; Zsidisin, 2003; Zhao và
cộng sự, 2013) nhưng nó trái ngược với lý thuyết về mối quan hệ giữa môi trường
và tổ chức. Trong khi lý thuyết này cho rằng: môi trường càng bất ổn định thì

lên kết quả kinh doanh được ủng hộ trong nghiên cứu này. Kết quả này cũng cố
thêm sự đúng đắn của lý thuyết về mối quan hệ giữa chiến lược, cấu trúc tổ chức
và kết quả kinh doanh (SSP). Chiến lược chi phí thấp có tác động đến mức độ
liên kết giữa các tổ chức sản xuất kinh doanh với các nhà cung ứng và với khách
hàng. Điều này cũng đã được khẳng định trong các nghiên cứu trước như của
Grant (1991). Tuy nhiên, chiến lược định hướng theo khách hàng chỉ tác động
đến sự liên kết với khách hàng, phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lambert
(2004), Lee (2004), Day và Wensley (1998). Điều này cũng dễ hiểu bởi chiến lược
định hướng theo khách hàng cũng đồng nghĩa với việc thực hiện nhiều hoạt động
nhằm thỏa mãn khách hàng; một trong những hoạt động quan trọng đó là phải
hiểu và gắn chặt với khách hàng, từ đó có chiến lược và hành động phù hợp thông
qua sản xuất và cung cấp đúng sản phẩm, dịch vụ mà khách hàng cần. Những kết
quả trên chỉ đúng với các tổ chức chỉ theo từng chiến lược kinh doanh đơn lẻ.
Nhưng trong thực tế, các doanh nghiệp hầu như sử dụng kết hợp các chiến lược
kinh doanh khác nhau. Nghiên cứu này đã phân tích sự tác động của chiến lược
mang tính kết hợp giữa định hướng theo chi phí thấp và định hướng theo khách
hàng đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng. Như vậy, có thể thấy một khi có sự phù
hợp giữa chiến lược, cho dù là chiến lược đơn lẻ (chiến lược định hướng chi phí
thấp hay định hướng theo khách hàng) hay chiến lược phối kết hợp với hình thái
cấu trúc liên kết phù hợp trong chuỗi cung ứng (liên kết với người cung ứng hay
liên kết với khách hàng) sẽ làm thúc đẩy hình thức liên kết đó và cuối cùng sẽ cải
thiện kết quả kinh doanh của các thành viên tham gia vào chuỗi cung ứng.
Tác động của văn hóa tổ chức đến mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi
cung ứng
Văn hóa trong nghiên cứu này chỉ giới hạn trong 2 cặp phạm trù đối lặp
là: (1) văn hóa kiểm soát và linh hoạt; (2) văn hóa hướng nội và văn hóa hướng

ngoại. Văn hóa được xem là yếu tố tình huống hay là hoàn cảnh trong trường
hợp này. Kết quả nghiên cứu đã thống nhất với quan điểm của lý thuyết ngẫu
nhiên hay tình huống. Văn hóa tổ chức có tác động đến mối quan hệ giữa rủi ro


24

hướng liên kết, phát triển quan hệ với nhau để tăng hiệu quả và năng lực cạnh
tranh không chỉ cho từng cá nhân mà cả chuỗi cung ứng.

lược kinh doanh của tổ chức phù hợp với bối cảnh chuỗi cung ứng hiện tại để
xác định hình thức và mức độ liên kết có thể đem lại kết quả kinh doanh tối ưu.

Làm rõ mối quan hệ giữa chiến lược, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả
kinh doanh cũng góp phần xác định tính đúng đắn của lý thuyết về mối quan hệ
chiến lược, cấu trúc tổ chức và kết quả kinh doanh (Chandler, 1962; William,
1975) trong chuỗi cung ứng. Như vậy, sự thay đổi về mặt tổ chức không chỉ do
sự thay đổi của môi trường, các biến động và rủi ro từ bên ngoài mà còn xuất
phát từ yêu cầu bên trong, trong đó chiến lược kinh doanh là một trong những
yếu tố tiền đề quan trọng. Nghiên cứu này đã góp phần giải thích thêm sự tác
động của các chiến lược kết hợp đến mức độ liên kết cũng như cải thiện kết quả
kinh doanh của các tổ chức.

Cuối cùng, việc kiểm định sự tác động điều tiết của biến văn hóa cũng
góp phần giúp các nhà quản lý có định hướng hơn trong việc xây dựng văn hóa tổ
chức. Văn hóa hướng ngoại và linh hoạt là hai loại hình thúc đẩy sự liên kết chuỗi
cung ứng. Văn hóa hướng ngoại được đặc trưng bởi nhấn mạnh về kết quả, sự
cạnh tranh và hợp tác. Do đó, các nhà quản lý phải tập trung thúc đẩy các giá trị
trên và tăng cường hợp tác với các đối tác bên ngoài. Việc xây dựng các quan hệ
với nhà cung ứng cũng như với khách hàng không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Vì
vậy, các nhà quản lý cần phải thực hiện các cam kết mạnh mẽ, nỗ lực xây dựng
niềm tin, chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu chiến lược của tổ chức với các đối tác.

Cuối cùng, luận án cũng đóng góp thêm vào lý luận qua việc kiểm định

kiếm các giải pháp nhằm hạn chế sự tác động của các rủi ro này.

Cuối cùng, nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Bến Tre và kết quả
luận án có thể vận dụng đối với một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà
bối cảnh tương tự tỉnh Bến Tre trên gốc độ phát triển ngành thủy sản và các
dạng liên kết chuỗi cung ứng thủy sản. Nghiên cứu này khó có thể vận dụng
cho các tỉnh ở các vùng, miền khác ở Việt Nam. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp
theo nên thực hiện ở những vùng, miền khác để có sự so sánh tổng quan và bao
quát hơn về nội dung của nghiên cứu đến ngành thủy sản Việt Nam.

Tiếp theo, luận án cũng chỉ ra tầm ảnh hưởng của chiến lược kinh doanh
đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng. Các nhà quản lý cần xác định rõ chiến




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status