Nghiên cứu tính đa dạng các loài dơi (mammalia chiroptera) ở khu dự trữ sinh quyển cù lao chàm hội an - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN VIẾT THỊNH

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÁC LOÀI DƠI (MAMMALIA: CHIROPTERA) Ở KHU
DỰ TRỮ SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN

Chuyên ngành:
Mã số chuyên ngành:

Động vật học
60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn: TS. Vũ Đình Thống

HÀ NỘI - 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ........................... 3
1.1. TỔNG QUAN ........................................................................................ 3
1.1.1. Khái quát về bộ Dơi (Chiroptera) ..................................................3
1.1.2. Lược sử nghiên cứu dơi ở Việt Nam .............................................3

3.2.5. Dơi nếp mũi xám lớn Hipposideros grandis ...............................53
3.2.6. Dơi nếp mũi xinh Hipposideros pomona.....................................58
3.3. KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI DƠI BẮT GẶP Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................................63
3.3.1. Khóa định loại căn cứ vào đặc điểm hình thái ngoài...................63
3.3.2. Khóa định loại căn cứ vào đặc điểm tiếng kêu siêu âm ..............66
3.4. SO SÁNH TÍNH ĐA DẠNG CỦA CÁC LOÀI DƠI Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN VÀ MỘT SỐ QUẦN
ĐẢO CỦA VIỆT NAM ĐÃ CÓ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ DƠI 67
3.5. NHẬN ĐỊNH VỀ TÌNH TRẠNG BẢO TỒN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HIỆN TRẠNG CỦA CÁC LOÀI DƠI Ở KHU
DỰ TRỮ SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................73
3.6. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN DƠI Ở KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN CÙ LAO CHÀM – HỘI AN ........................................73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................75
Kết luận ..................................................................................................75
Kiến nghị................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................77
Tài liệu tiếng Việt ..................................................................................77
Tài liệu tiếng Anh ..................................................................................79

2


MỞ ĐẦU
Trong lớp thú, chỉ có những loài thuộc bộ Dơi (Chiroptera) có khả năng bay lượn
thực sự và kiếm ăn trong không trung. Về mặt phân loại, bộ Dơi có thành phần loài đa
dạng và phong phú thứ hai (chỉ sau bộ Gặm nhấm Rodentia) trong lớp thú. Cho đến nay,
đã có hơn 1.300 loài dơi thuộc 18 họ được phát hiện trên thế giới [34]. Các loài dơi có vai
trò quan trọng trong các hệ sinh thái, và trong đời sống kinh tế. Ở nhiều nước trên thế

chức ở trong và ngoài nước nhằm phát triển du lịch và dân sinh kinh tế. Đặc biệt, từ năm
2010 đến nay, lượng khách du lịch thăm Cù Lao Chàm tăng đột biến: có những ngày trong
mùa du lịch(từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm), số lượng khách nhiều hơn 3 lần tổng số
nhân khẩu sinh sống trên đảo Hòn Lao. Sự phát triển du lịch dẫn đến áp lực phát triển cơ
sở hạ tầng và từng bước ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường sinh thái và
sinh cảnh sống của các loài động, thực vật; trong đó, có những loài dơi.
Nhận thấy tiềm năng và giá trị đa dạng của khu hệ động vật trên quần đảo Cù Lao
Chàm thuộc Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An; với sự tài trợ về kinh phí bởi
Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 106.112012.02, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong đề tài mã số VAST04.07/1516; chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng các loài dơi
(Mammalia: Chiroptera) ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An”.

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN
1.1.1. Khái quát về bộ Dơi (Chiroptera)
Trong lớp thú, bộ Dơi (Chiroptera) có thành phần loài đa dạng và phong phú thứ hai
(chỉ sau bộ Gặm nhấm - Rodentia)[49]. Cho đến nay, đã có hơn
1.300 loài dơi, thuộc 203 giống và 18 họ được phát hiện trên thế giới [34], [53]. Trong
thành phần loài thú hiện biết ở Việt Nam, bộ Dơi đa dạng và phong phú nhất [2], [60]. Dơi
có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái [45].
1.1.2. Lược sử nghiên cứu dơi ở Việt Nam
Dẫn liệu đầu tiên về dơi ở Việt Nam được công bố bởi Peters (1869) [51]. Sau đó, có
một số ghi nhận về dơi ở Việt Nam từ kết quả điều tra chung về thú và động vật (Van
Peenen 1997) [56 ]. Cho tới năm 1994, đã có 65 loài dơi thuộc
25 giống, 6 họ được ghi nhận tại Việt Nam [1]. Đó là kết quả tổng hợp từ những kết quả
điều tra chung về khu hệ động vật ở một số khu vực và chưa có kết quả nghiên cứu riêng
về dơi [10]. Từ năm 1997 đến nay, công tác nghiên cứu dơi đã được quan tâm hơn trước.
Một số chuyên gia từ các nước như Anh, Đan Mạch, Hoa Kỳ, v.v... đã điều tra dơi ở một số

những người khác [63].
Năm 2013, Nguyen Truong Son và những người khác. Công bố một loài
dơi mới Myotis indochinensis cho khoa, phát hiện được ở Việt Nam [47].
Năm 2015, một số loài mới cho khoa học đã được phát hiện ở Việt Nam Murina
lorelieae ngoclinhensis được công bố bởi Vuong Tan Tu và những người khác [69]; Nguyen
Truong Son và những người khác, công bố một loài dơi mới Murina kontumemsis cho
khoa học[48]; đồng thời, một số loài đã được

4


ghi nhận ở Việt Nam trước đây nhưng vị trí phân loại đã thay đổi (Vũ Đình
Thống và Csorba – tài liệu chưa công bố).
1.1.3. Khái quát về phân loại, nghiên cứu đặc điểm sinh thái và tiếng kêu siêu âm của
dơi ở Việt Nam
Cho tới nay, đã có 120 loài dơi thuộc 38 giống, 8 họ được ghi nhận ở Việt Nam
[43]; Vũ Đình Thống và Csorba (tài liệu chưa công bố). Trong đó, có những ghi nhận về
một giống (Nyctalus) và 1 loài (Nyctalus cf. noctula) chưa đủ cơ sở khoa học [43]. Mặt
khác, nhiều loài dơi đã được ghi nhận trong những tài liệu công bố trước đây nhưng
không cung cấp thông tn chi tiết và nguồn mẫu vật. Một số loài hiện được đánh giá là tổ
hợp loài và cần nghiên cứu chi tiết với sự kết hợp tổng thể dẫn liệu về hình thái, tiếng kêu
siêu âm và sinh học phân tử để khẳng định vị trí phân loại của chúng[44], [60]. Trong đó,
đáng kể đến là nhiều loài thuộc các giống: Cynopterus, Hipposideros, Rhinolophus,
Harpiacephalus, Myotis, Pipistrellus, Hypsugo, Ia, Miniopterus và Tadarida. Khi giải quyết
được những vấn đề còn tồn tại về vị trí phân loại của các loài thuộc những giống nêu trên,
thành phần loài dơi ở Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu động vật hoang dã ở Khu Dự trữ Sinh quyển
Cù Lao Chàm – Hội An
1.1.4.1. Tình hình nghiên cứu dơi ở Cù Lao Chàm
Trước khi nghiên cứu này được thực hiện, Kuznetsov (2000) [45] là tài liệu duy

5 loài ếch nhái [15].
Năm 2013, Võ Tấn Phong, Lê Đình Thủy và Đinh Thị Phương Anh tiến hành điều tra
bước đầu về khu hệ chim ở quần đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận được 52 loài [7].

6


Từ năm 2011 đến 2014, Phan Thị Hoa đã tến hành điều tra nghiên cứu hệ lưỡng cư,
bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà. Kết quả điều tra ghi
nhận được 11 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm [3].
Kết quả tổng hợp đó cho thấy: khu hệ động vật rừng của quần đảo Cù Lao Chàm
không phong phú và đa dạng như ở các hệ sinh thái rừng trong nội địa; nhưng với tnh
chất là hệ sinh thái rừng hải đảo và diện tch rừng không lớn thì số loài ghi nhận bước đầu
có ý nghĩa khoa học và giá trị bảo tồn cao. Đồng thời, Cù Lao Chàm cần có những nghiên
cứu tiếp theo để đánh giá đầy đủ hơn về tính đa dạng loài động vật hoang dã trên cạn.
Những kết quả nghiên cứu nêu trên mới chỉ ghi nhận được một số loài động vật có
xương sống thuộc các lớp Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú. Có thể nhận thấy rằng, khu hệ
động vật của quần đảo Cù Lao Chàm cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn trong thời
gian tới.
1.1.5. Đặc điểm tự nhiên và dân sinh kinh tế ở Khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm
1.1.5.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý – Địa hình
Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An được UNESCO công nhận
năm 2009. Quần đảo Cù Lao Chàm nằm cách thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam khoảng 19 km
về phía Đông, tọa độ địa lý: 15°52′30′′- 16°00′00′′N;
108°24′30′′-108°44′30′′E. Quần đảo Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo với tổng diện tch khoảng
2.000 ha. Trong đó đảo lớn nhất là Hòn Lao với diện tích 1.317 ha và là nơi có đỉnh núi cao
nhất (571m). Đây cũng là đảo duy nhất trong quần đảo đang có khoảng 3.000 dân cư sinh
sống. Cụm đảo chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết các đảo nhỏ đều có hình chóp cụt. Độ cao

m dưới mặt đất, trong khe nứt, trong đới phong hóa [3].

8


1.1.5.2. Điều kiện dân sinh – kinh tế
Quần đảo Cù Lao Chàm thuộc xã Tân Hiệp, có 4 thôn với 2.776 nhân khẩu, tỷ lệ
tăng dân số bình quân các năm gần đây là 0,4%. Trong đó có là
1.367 nam, 1.409 nữ. Trên địa bàn số người trong độ tuổi lao động là 1.691 người, sống
chủ yếu ở Hòn Lao[3]. Xã Tân Hiệp có một trường Trung học cơ sở và một trường tiểu
học.
Mạng lưới giao thông trên đảo Hòn Lao chủ yếu là đường mòn, đất đá; trong đó
đường liên thôn có chiều dài hơn 6 km. Đường giao thông nội bộ ở các khu dân cư đã
được bê tông hóa với tổng chiều dài 7 km. Ngoài ra, trên đảo còn có tuyến đường quốc
phòng từ Bãi Làng đến Bãi Hương với chiều dài khoảng 3 km.
1.2. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thành phần loài thú hiện biết ở Việt Nam, bộ Dơi (Chiroptera) có thành phần
loài đa dạng và phong phú nhất [2], [44], [60]. Tuy nhiên, khu hệ dơi Việt Nam còn ít được
quan tâm trên cả phương diện nghiên cứu và bảo tồn. Hầu hết những công trình nghiên
cứu và tài liệu đã công bố trước đây về dơi của Việt Nam chủ yếu tập trung vào đặc điểm
hình thái, vị trí phân loại, tnh trạng bảo tồn. Mặt khác, các công trình nghiên cứu đó cũng
tập trung thực hiện ở những khu vực trong đất liền thuộc hệ thống Khu Bảo tồn Thiên
nhiên và Vườn Quốc gia của Việt Nam [43]. Đáng chú ý, số lượng công trình nghiên cứu về
siêu âm của dơi ở Việt Nam còn rất hạn chế. Borissenko và Kruskop (2003) [24] là tài liệu
đầu tên đề cập đến tần số tiếng kêu siêu âm của một số loài dơi ở Việt Nam. Tuy nhiên,
dẫn liệu về siêu âm trong tài liệu đó chỉ được ghi nhận ở mức sơ bộ. Mặt khác, do thiết
bị nghiên cứu còn hạn chế nên một số dẫn liệu chưa sát thực (Borissenko – thông tin qua
thảo luận cá nhân). Ví dụ: Borissenko và Kruskop (2003) [24] ghi nhận tần số tiếng kêu
siêu âm của loài




trình nghiên cứu có ghi nhận nhưng không chỉ rõ nguồn mẫu vật. Nhằm khắc phục sự
thiếu hụt về dẫn liệu và cũng cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng
sinh học, tôi lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu tnh đa dạng các loài dơi
(Mammalia: Chiroptera) ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An”.
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
 Cung cấp cơ sở khoa học và bộ mẫu đại diện về các loài dơi ghi nhận
được ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An;
 Đánh giá tính đa đạng và hiện trạng của các loài dơi ở khu vực nghiên cứu căn cứ
trên kết quả điều tra thực địa.
 Cung cấp dẫn liệu về tếng kêu siêu âm của các loài dơi ghi nhận được qua các
đợt điều tra thực địa làm cơ sở khoa học cho công tác giám sát và bảo tổn.
1.4. NỘI DUNG
 Điều tra thực địa và thu mẫu đại diện của mỗi loài dơi bắt gặp ở khu vực nghiên
cứu.
 Phân tích và định loại những mẫu vật thu được căn cứ vào đặc điểm hình
thái ngoài, đặc điểm sọ, răng, tiếng kêu siêu âm, ...
 Ghi nhận địa điểm bắt gặp, ước tính số lượng cá thể, đặc điểm sinh cảnh
nơi bẫy bắt, v.v...
 Ghi và phân tích tiếng kêu siêu âm của các loài dơi bắt gặp trên thực địa trong điều
kiện sinh cảnh tự nhiên của chúng và trong điều kiện thí nghiệm.

11


CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thời gian

2.1.2.2. Xử lý số liệu và mẫu vật
Tất cả mẫu vật và số liệu đã thu thập trong thời gian thực hiện luận văn này được
xử lý và bảo quản ở Phòng Bảo tàng Động vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
Thông tin chi tiết về các mẫu vật thuộc mỗi loài bắt gặp ở Cù Lao Chàm trong thời
gian thực hiện luận văn này được mô tả khái quát dưới đây:
Dơi chó mũi ống Cynopterus horsfieldii
IEBR-T.090613.1, đực, trưởng thành; IEBR-T.090613.2, đực, trưởng thành; IEBRT.090613.1.2, đực, trưởng thành. Cả 3 mẫu vật này nêu trên được thu ngày 09 tháng 6
năm 2015, tại Hang Tò Vò thuộc đảo Hòn Lao.
Dơi lá đuôi Rhinolophus affinis
+ IEBR-T.080515.4, đực, trưởng thành; IEBR-T.080515.7, đực, trưởng thành; IEBRT.mRaf01h, đực, trưởng thành; IEBR-T.mRaf09h, đực, trưởng thành; IEBR-T.mRaf04h,
đực, trưởng thành; IEBR-T.mRaf05h, đực, trưởng thành; IEBR-T.mRaf 06h, đực, trưởng
thành. Cả 7 mẫu này thu ngày 08 tháng
5 năm 2015 tại đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.100515.4, đực, trưởng thành; thu ngày 10 tháng 5 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.140715.2, đực, trưởng thành; IEBR-T.140715.4, đực, trưởng thành; IEBRT.140715.3, đực, trưởng thành; thu ngày 14 tháng 7 năm 2015 tại đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.4, đực, trưởng thành; thu ngày 15 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ Ngoài những mẫu nêu trên, có 2 cá thể cái mắc bẫy ngày 15 tháng 7 năm
2015 được thả ngay sau khi do dài cẳng tay và định loại trên thực địa.

14


Dơi lá mũi nhỏ Rhinolophus pusillus
+ IEBR-T.140715.1, đực, trưởng thành; thu ngày 14 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
+ IEBR-T.150715.3, đực, trưởng thành; thu ngày 14 tháng 7 năm 2015 tại
đảo Hòn Lao.
Dơi nếp mũi nâu Hipposideros galeritus

+ Bẫy thụ cầm
+ Vợt cầm tay
2.2.1.2. Thiết bị và hóa chất xử lý mẫu
+ Panh, kẹp, kéo, kim nhọn, ghim, đĩa petri
+ Kính lúp, máy đo siêu âm
+ Dụng cụ chứa mẫu: bình nhựa hoặc bình thủy tinh
+ Thước kẹp dùng để đo kích thước dơi và sọ dơi
+ Máy ảnh
+ Sổ tay và dụng cụ ghi chép
+ Hóa chất: cồn tuyệt đối, dung dịch cồn 70°, …
+ Tuýp thu mẫu cơ và màng cánh phục vụ xử lý DNA
+ Một số thiết bị phụ trợ khác: máy định vị tọa độ địa lý (GPS), đèn chiếu
sáng, máy đếm số lượng cá thể dơi tại cửa hang động, v.v…

16


2.2.1.3. Mẫu vật nghiên cứu
Luận văn này là công trình nghiên cứu về khu hệ dơi ở Khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm. Do vậy, tất cả những mẫu vật nghiên cứu trong luận văn này được thu qua các đợt
điều tra thực địa từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2015.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1. Quan sát
Phương pháp quan sát dơi có thể áp dụng khi gặp những đàn dơi sinh sống trong
hang động hoặc dưới tán cây. Trong phạm vi của đảo Hòn Lao, chúng tôi không tìm thấy
đàn dơi nào đậu dưới tán cây trong suốt quá trình điều tra thực địa. Cho đến nay, đã có
10 hang động được phát hiện trong phạm vi quần đảo Cù Lao Chàm. Trong đó, có 5 hang
thuộc đảo Hòn Lao, 5 hang còn lại thuộc các đảo khác. Đáng chú ý: trong số 10 hang động
hiện biết ở quần đảo Cù Lao Chàm, chỉ có 1 hang (Hang Tò Vò) có dơi sinh sống cùng với
Chim yến và một số loài động vật khác. Do đặc thù của công tác quản lý nơi sống và khai

mờ căn cứ vào các điều kiện thực tế của sinh cảnh. Lưới mờ được giăng trước cửa các
hang có dơi cư trú, các lối mòn, các khe núi hoặc căng ngang mặt nước (kênh, suối, hồ).
Lưới mờ có thể sử dụng động lập (Hình 4) hoặc kết hợp với bẫy thụ cầm tùy thuộc vào địa
hình và sinh cảnh của địa điểm thu mẫu.

19


Hình 4: Lưới mờ được giăng ngang suối Bãi Bìm thuộc đảo Hòn Lao
Vợt cầm tay
Vợt cầm tay là thiết bị hữu hiệu để thu mẫu dơi trong không gian hẹp như hẻm núi
hoặc hang động nhỏ. Trong thời gian thực hiện đề tài nay, vợt cầm tay đã được sử dụng
để bắt dơi ở hang động nhỏ gần Bãi Hương.
2.2.2.3. Xử lý mẫu trên thực địa
Trong số những cá thể bắt được bằng lưới hoặc bẫy hay vợt cầm tay, chúng tôi chỉ
giữ lại một số cá thể để làm mẫu vật để xử lý và phân loại trong bảo tàng. Những cá thể
cái đang trong thời kỳ mang thai hoặc cho con bú được thả ngay sau khi ghi tiếng kêu siêu
âm (đối với những loài thuộc Phân bộ Dơi nhỏ
- Microchiroptera), chụp ảnh và đo một số kích thước hình thái ngoài cần thiết đối với việc
định loại: dài cẳng tay (FA), cao tai (EH), dài xương chày (TIB), dài bàn chân sau (HF), và
dài đuôi (Tail). Trong nhiều tài liệu đã công bố và

20


nội dung của luận văn này, kích thước cao tai (EH) còn có tên gọi khác là dài tai. Khi bắt
gặp những cá thể cái đang trong thời kỳ sinh sản (mang thai, cho con bú) bị mắc lưới hoặc
bẫy, chúng tôi chỉ đo kích thước dài cẳng tay, chụp ảnh, lấy mẫu màng cánh trước bằng
khoan chuyên dụng với đường kính 3-5 mm tại ví trí màng cánh có thể phục hồi rồi thả
ngay tại sinh cảnh đặt bẫy hoặc lưới đó.

bẫy thụ cầm hoặc lưới mờ hay vợt cầm tay sẽ được ghi tiếng siêu âm trong màn bay có
kích thước 4m x 4m x 2m ở những tình huống khác nhau: cầm tay, bay lượn và đậu. Kết
quả ghi tiếng kêu trong màn bay cung cấp một số cơ sở về đặc điểm tiếng kêu của loài và
làm cơ sở cho việc định loại những tếng kêu ghi được trong môi trường sống tự nhiên.
Đối với những cá thể không giữ làm mẫu, tiếng kêu siêu âm của chúng cũng được ghi
trong tình huống khi thả về môi trường sống tự nhiên tại địa điểm bẫy bắt.
Tất cả tiếng kêu siêu âm nêu trên được xử lý bằng phần mềm Selena tại Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật. Hệ thống PCTape, phần mềm Batman và phần mềm Selena
được sáng chế và đăng ký độc quyền bởi Đại học Tổng hợp Tuebingen, CHLB Đức. Kết quả
xử lý tiếng kêu siêu âm được kiểm định bởi TS. Vũ Đình Thống trong sự hợp tác với
GS.TSKH. Hans-Ulrich Schnitzler và TS. Annette Denzinger thuộc Đại học Tổng hợp
Tuebingen, CHLB Đức.
Trong tổng số 7 loài dơi ghi nhận được ở Cù Lao Chàm qua điều tra thực địa, có 6
loài thuộc phân bộ Dơi nhỏ (Microchiroptera) sử dụng siêu âm. Trong đó, có 3 loài thuộc
họ Dơi nếp mũi (Hipposideridae), 2 loài thuộc họ Dơi lá mũi (Rhinolophidae), 1 loài thuộc
họ Dơi muỗi (Vespertilionidae). Theo hệ thống phân loại tn hiệu siêu âm của Vu Dinh
Thong (2011) [60], tất cả các loài thuộc các họ Dơi nếp mũi và Dơi lá mũi đều sử dụng
tiếng kêu siêu âm với tín hiệu

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status