Dạy học đọc hiểu văn bản ca dao ở trường THCS theo quan điểm giao tiếp - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

PHAN THỊ KIM DUNG

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CA DAO
Ở TRƯỜNG THCS THEO QUAN ĐIỂM
GIAO TIẾP
Chuyên ngành: LL&PPDH Bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ HUY QUANG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Đỗ Huy Quang đã
tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô trong tổ LL & PPDH bộ môn Văn - Tiếng
việt, khoa Ngữ văn, Phòng sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo
mọi điều kiện trong suốt quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các em HS trường
thực nghiệm trên địa bàn thị xã Phúc Yên đã giúp đỡ tôi khảo sát và thực nghiệm đề
tài này.
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi luôn luôn
nhận được sự động viên, tận tâm giúp đỡ của những người thân trong gia đình và
bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............................11

1.1. Cơ sở lí luận ..............................................................................................11
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ ......................................................................................11
1.1.2. Giao tiếp .........................................................................................13
1.1.3. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp...............................................14
1.1.4. Quan điểm giao tiếp........................................................................16
1.1.2. Cơ sở văn học .........................................................................................17
1.1.2.1. Lý thuyết tiếp nhận văn học ........................................................17
1.1.2.2. Lý thuyết ứng đáp........................................................................18
1.1.2.3. Tiếp nhận theo thi pháp ca dao ...................................................20
1.1.3. Dạy học đọc hiểu văn bản ca dao theo quan điểm giao tiếp ..................28
1.1.3.1 Văn bản ca dao - đối tượng của hoạt động đọc hiểu ...................28
1.1.3.2. Học sinh lớp 7- chủ thể của hoạt động đọc hiểu ........................28
1.1.3.3. Hoạt động đọc hiểu văn bản ca dao trong giờ học Ngữ
văn 7 theo quan điểm giao tiếp ......................................................32
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ..........................................................................38
Tiểu kết chương 1 ...........................................................................................51


CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP VÀO DẠY HỌC ĐỌC
HIỂU VĂN BẢN CA DAO CHO HS LỚP 7 ....................................52

2.1. Hoạt động nhận diện đặc điểm văn bản ca dao.........................................52
2.1.1. Xác định số chữ trên mỗi dòng thơ, xác định thể thơ của bài
ca dao ..............................................................................................52
2.1.2. Xác định hoàn cảnh giao tiếp và nhân vật giao tiếp trong
văn bản ca dao ................................................................................54
2.2. Hoạt động làm rõ nghĩa ngôn từ trong văn bản ........................................59
2.2.1. Yêu cầu đọc phần giải nghĩa từ mới, từ khó sau văn bản ..............59


ĐC

2

Giáo viên

GV

3

Học sinh

HS

4

Hướng dẫn

HD

5

Nhà xuất bản

NXB

6

Phương pháp dạy học

Bảng 3.1. Kỹ năng nhận diện ngôn ngữ của văn bản (số lượng / %) ....................... 93
Biểu đồ 3.1. Biểu đò thể hiện kĩ năng nhận diện ngôn ngữ của văn bản ca
dao của lớp TN và lớp ĐC ........................................................................ 94
Biểu đồ 3.2. Biểu đò thể hiện kỹ năng làm rõ nghĩa trong văn bản của lớp
TN và ĐC.................................................................................................. 95
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ thể hiện kỹ năng thực hiện hành động hồi đáp của lớp
TN và lớp ĐC ........................................................................................... 96


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi
mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Để có thể tiếp cận với nền giaó
dục tiên tiến trên thế giới và theo kịp đà phát triển thì vấn đề đặt ra đối với nền giáo
dục Việt Nam là phải đổi mới một cách toàn diện từ nội dung chương trình đến
phương pháp dạy học.
1.2. Đọc hiểu là xu hướng mới trong quá trình tiếp nhận văn học.Vấn đề đọc
hiểu văn bản là vấn đề trung tâm của giáo dục thế giới và Việt Nam. Đọc hiểu có
vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Đọc hiểu là hoạt động để tiếp nhận văn học
và rèn kĩ năng vận dụng ngôn ngữ cho học sinh. Xác định rõ vai trò quan trọng của
đọc hiểu, những năm gần đây, việc đưa ra các phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm
văn chương là vấn đề rất được quan tâm trong đó phương pháp giao tiếp được các
nhà giáo dục hết sức chú ý.
1.3. Đổi mới PPDH ở THCS đòi hỏi HS phải tích cực chủ động trong các
hoạt động học tập để các em có khả năng tự khám phá, tự tiếp nhận kiến thức. Đọc
hiểu thơ trong giờ giảng văn chỉ yêu cầu học sinh đọc và trả lời các câu hỏi do giáo
viên đưa ra trong giờ dạy. Những câu hỏi đó thường được xây dựng trong hệ thống
bài học. Điều đó khiến cho học sinh rất thụ động trong việc đọc hiểu văn bản. Khi

văn bản thơ nói riêng, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
2.1. Về phương pháp dạy học đọc hiểu ở THCS
Từ sau năm 2000, chương trình Tiếng Việt và Văn học (Ngữ văn) ở trường
phổ thông, xác định dạy Văn là dạy “đọc hiểu” văn bản, không phải phân tích tác
phẩm như trước nên vấn đề PPDH đọc hiểu được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Sự ra đời của lý thuyết đọc hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết
đó vào Việt Nam những năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương hướng
nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương trong nước.
Viết nhiều về đọc hiểu văn bản văn chương ở trường phổ thông phải kể đến
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng với các cuốn: Hiểu văn - Dạy văn (2000) NXBGD.
Đọc và tiếp nhận văn chương (2002) NXB GD. Đọc hiểu tác phẩm văn chương
trong nhà trường (2008) NXGD. Kỹ năng đọc hiếu văn (2011) NXB ĐHSP. Trong
cuốn kỹ năng đọc hiểu văn GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra, nội dung của


3

việc đọc hiểu tác phẩm văn chương bao gồm: Đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ, đọc
hiểu giá trị, ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật, đọc hiểu giá trị, ý nghĩa
tầng cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm.
GS.TS. Trần Đình Sử, GS.TS. Phan Trọng Luận là tổng chủ biên sách giáo
khoa Ngữ văn THPT sau năm 2000 cũng có nhiều cuốn sách, bài báo viết về đọc
hiểu. GS Phan Trọng Luận viết: Văn chương -bạn đọc sáng tạo (2011) NXB ĐHSP,
Văn học nhà trường, những điểm nhìn (2011) NXB ĐHSP, Phương pháp luận giải
mã văn bản văn học (2014) NXB ĐHSP. GS.TS. Trần Đình Sử có nhiều bài viết in
trong Tài liệu tập huấn giáo viên THPT: Đọc hiếu văn bản - Một khâu đột phá trong
nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay (2003), Đổi mới phương pháp dạy học
môn Ngữ văn (2008), Văn bản văn học và đọc hiếu văn bản (2011).
Bên cạnh đó, SGK và SGV Ngữ văn vừa là công cụ dạy học, đồng thời cũng
là những tài liệu tham khảo khoa học rất hữu ích đối với chúng tôi.

giới, những thuật ngữ chuyên ngành như ngôn ngữ học giao tiếp, năng lực giao tiếp,
năng lực ngôn ngữ, hành động lời nói…đã trở nên quen thuộc với nhiều người.
Trong cuốn tài liệu Tâm lý học đại cương, của PGS.TS Trần Trọng Thủy và
PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn khẳng định rằng: “Giao tiếp chính là một trong những
cơ sở xã hội của hiện tượng tâm lý người” [42, tr 18]. Nhìn từ góc độ Giáo dục học,
tác giả Nguyễn Hữu Châu trong Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình
dạy học cũng đã đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của giao tiếp đến chất lượng giảng
dạy của người GV trong quá trình dạy học. Trong đó tác giả mô tả quá trình giao
tiếp những rào cản trong giao tiếp mà đặc biệt là sự hạn chế về vấn đề kỹ năng
(nghe, nói, đọc, viết) của học sinh, đối với Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý
học sư phạm, nghiên cứu các hiện tượng và quy luật tâm lý có tính chất chuyên biệt
dưới ảnh hưởng của tác động lứa tuổi, tác động sư phạm để tìm ra nguyên nhân,
động lực của sự phát triển tâm lý qua các thời kỳ khác nhau trong tâm sinh lý của
học sinh phổ thông.
Nguyễn Huy Sinh - Trần Trọng Thủy trong nhập môn khoa học giao tiếp,
Nguyễn Bá Minh trong Nhập môn khoa học giao tiếp, Giao tiếp sư phạm của Nguyễn
Văn Lê hay Nguyễn Văn Lũy - Trần Thị Tuyết Hoa trong giáo trình Giao tiếp với trẻ
em, đều cho rằng ngôn ngữ giao tiếp là con đường quan trọng nhất giúp ta khẳng định
được mình, khẳng định được vị thế trong mối tương giao với mọi người. Ngôn ngữ có


5

tác động rất lớn đến tâm lý, tình cảm của con người thông qua nội dung ngữ điệu và
cách sử dụng ngôn ngữ của chủ thể.
* Các công trình ngôn ngữ học nghiên cứu về hoạt động giao tiếp
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng đề cao chức năng giao
tiếp của ngôn ngữ. Họ cho rằng cần tập trung vào việc phát triển năng lực giao tiếp
hơn là chỉ dạy cho người học cách nắm vững các cấu trúc. Ngôn ngữ vừa là phương
tiện giao tiếp quan trọng, vừa là công cụ để con người nhận thức tư duy. Trong nhà

trong quá hình giao tiếp - nghĩa là học sinh không chỉ được rèn luyện các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết mà qua đó còn có được vốn hiểu biết nhất định để bước vào
thực tế cuộc sống.
* Các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản
theo quan điểm giao tiếp ở trường phổ thông
Xác định rõ vai trò quan trọng của đọc hiểu, những năm gần đây, việc đưa ra
các phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương là vấn đề rất được quan tâm.
Trong đó phương pháp giao tiếp được các nhà giáo dục hết sức chú ý. Có nhiều bài
viết, bài nghiên cứu về phương pháp này. Hầu hết các tác giả đều đánh giá rất cao
về vai trò của phương pháp giao tiếp trong quá trình dạy học. Bởi vì, ngôn ngữ vừa
là phương tiện giao tiếp quan trọng, vừa là công cụ để con người nhận thức, tư duy.
Trong nhà trường, việc giáo dục ngôn ngữ là hết sức cần thiết, Ngữ văn trở thành
môn học có vị trí đặc biệt: nó không chỉ cung cấp những kiến thức và kĩ năng cơ
bản về tiếng mẹ đẻ để phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh, mà còn trang bị cho
các em một công cụ thiết yếu để học tốt các môn khoa học khác.
Trong số các tác giả nghiên cứu về dạy Ngữ văn theo quan điểm giao tiếp có
tác giả quan tâm cụ thể về mặt phương tiện (phương pháp dạy của giáo viên) cũng
có tác giả quan tâm về mặt mục đích của việc dạy văn theo quan điểm giao tiếp.
Trong sách “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên cứu và lý
thuyết về dạy học dành cho các giảng viên đại học và cao đẳng” Wilbrt
J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn phương pháp dạy học hiện nay mà cho
rằng “Theo chương trình dạy tiếng Pháp phải dựa trên thực hành ngôn ngữ trong
và ngoài lớp học tiếng Pháp học sinh phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao
tiếp”. Ở một đoạn khác, tác giả còn đặc biệt nhấn mạnh “Cơ bản là phải đặt học
sinh trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc thông hiểu lời nói”. Điều đó
có nghĩa là dạy học theo quan điểm giao tiếp được áp dụng rộng rãi trong tất cả các


7



8

bày những vấn đề cần truyền đạt). Sau khi trình bày về các vấn đề trên, tác giả nhấn
mạnh: “Tri thức về Tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực sự
vận dụng vào hoạt động giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yểu của ngôn
ngữ”. Có thể nói bài viết này là một gọi ý rất tốt cho việc tổ chức các hoạt động dạy
học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện để dạy Tiếng Việt, đặc biệt là
phần đọc hiểu theo quan điểm giao tiếp.
- Trong tạp chí Ngôn ngữ số 4/2001, Nguyễn Minh Thuyết trao đổi về Mấy
quan điểm cơ bản trong việc biên soạn SGK TV (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc
trung học cơ sở. Bài viết này giới thiệu một số quan điểm cơ bản trong việc biên soạn
hai bộ sách trên: Quan điểm dạy giao tiếp; Quan điểm tích họp; Quan điểm tích cực
hóa hoạt động học tập của HS. Mặc dù bài viết đã được công bố cách đây nhiều năm,
nhưng những quan điểm ấy vẫn còn nguyên giá trị và có thể định hướng cho việc
biên soạn SGK và giảng dạy Ngữ văn trong tương lai đúng với mục tiêu môn học.
Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề dạy đọc hiểu theo quan điểm giao
tiếp, tuy nhiên chưa có những nghiên cứu đi sâu vào vấn đề dạy đọc hiểu thơ theo quan
điểm giao tiếp ở một khối lóp cụ thể. Vì vậy, chúng tôi quyết định triển khai đề tài
“Dạy học đọc hiểu văn bản ca dao ở trường THCS theo quan điểm giao tiếp”
3. Mục đích nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy đọc hiểu văn bản ca dao
theo quan điểm giao tiếp, luận văn đề xuất một số biện pháp góp phần hỗ trợ cho
GV và HS THCS nâng cao khả năng đọc hiểu nội dung, ý nghĩa, giá trị của các văn
bản ca dao trong chương trình Ngữ văn lớp 7, từ đó góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học Ngữ văn THCS theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động dạy và học đọc - hiểu văn bản ca dao cho
học sinh lớp 7 trong giờ học ngữ văn theo quan điểm giao tiếp.
- Phạm vi nghiên cứu:

Yên-Vĩnh Phúc, THCS NGọc Thanh, THCS Đồng Xuân, THCS Nam Viêm..
6.3. Phương pháp thực nghiệm, do mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài,
việc thực nghiệm sẽ được tiến hành song song, vừa tổ chức dạy thực nghiệm theo
giáo án đề xuất, vừa dạy đối chứng theo giáo án thông thường để kiểm nghiệm khả
năng ứng dụng và tính hiệu quả của việc dạy học đọc hiểu văn bản ca dao theo quan
điểm giao tiếp trong môn Ngữ văn trường THCS.


10

6.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được dùng để xem xét lại những
thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho
thực tiễn và cho khoa học.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu chuyển một số câu hỏi tìm hiểu bài trong sách giáo khoa theo hình thức
mới, vận dụng lý thuyết giao tiếp, giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc bằng các
thao tác giao tiếp với nhân vật, với tác giả, với các sự việc trong bài đọc thì học sinh
sẽ được nâng cao về nhận thức cũng như kỹ năng giao tiếp. Giờ học đọc hiểu sẽ hào
hứng, thú vị , phát huy được vai trò chủ động sáng tạo của học sinh và góp phần
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục… có kết
cấu ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2. Hướng dẫn học sinh lớp 7 đọc hiểu văn bản ca dao theo quan
điểm giao tiếp
Chương 3 .Thực nghiệm sư phạm


11


12

hệ với ngữ cảnh có thể được xem là cách hiểu phổ biến nhất.
* Ngữ cảnh
Khi nghe một câu nói, muốn hiểu chính xác nội dung, chúng ta phải biết sở
chỉ của các thành tố trong câu. Muốn vậy phải đặt câu vào ngữ cảnh phát ngôn.
Điều đó cho thấy ngữ cảnh là một khái niệm đóng vai trò quan trọng trong ngữ
dụng học.
Có nhiều quan điểm khác nhau về ngữ cảnh, nhưng hiểu một cách khái quát
ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó một yếu tố ngôn ngữ được sử dụng hoặc
được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ nhưng có tác dụng chi phối ý nghĩa
của câu, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố: người nói, người nghe, thời điểm
nói, địa điểm nói, mục đích nói.
* Các vấn đề cơ bản của ngữ dụng học
Cho đến nay, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất là ngữ dụng học
tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:
- Chiếu vật và chỉ xuất:
+ Chiếu vật là vấn đề thứ nhất của ngữ dụng học. Tự bản thân mình, từ ngữ
không chiếu vật. Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa sự vật hiện tượng mình định
nói tới vào diễn ngôn bằng các từ ngữ, bằng câu. Chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể
hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn. Phương thức chiếu vật là cách thức để
thực hiện hành vi chiếu vật, có ba phương thức lớn: dùng tên riêng, dùng miêu tả
xác định và dùng chỉ xuất.
+ Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ
trỏ. Tất cả các ngôn ngữ đều có hệ thống từ chuyên chiếu vật theo phương thức chỉ
xuất. Đó là các từ chỉ xuất thuộc các từ loại như đại từ, tính từ, v.v... Tổ hợp có từ
chỉ xuất là một loại biểu thức chỉ xuất. Ba phạm trù chỉ xuất trong các ngôn ngữ là
phạm trù ngôi, phạm trù chỉ xuất không gian, phạm trù chỉ xuất thời gian.
- Lý thuyết hội thoại: Về lý thuyết hội thoại, ngữ dụng học chủ yếu tìm hiểu


Lĩnh
Ngôn bản

(Ngườiviết)
Lập

Hội

Người nghe
(người đọc)

- Văn bản (hay ngôn bản) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hành động
giao tiếp.
- Tạo lập văn bản là hoạt động của người phát tin một văn bản (nói và viết)


14

ra đời nghĩa là một thông điệp đã được người phát “mã” hóa bằng ngôn ngữ. Lĩnh
hội văn bản là một hành động giải mã ngôn ngữ do người nhận tin thực hiện. Có
được tín hiệu ngôn ngữ từ người phát tin, người nhận tin phải dựa vào năng lực
ngôn ngữ cùng với thói quen giao tiếp trong một hoàn cảnh cụ thể mà chiếm lĩnh
được nội dung, ý nghĩa của văn bản. Hiệu quả của việc chuyển tải thông điệp phụ
thuộc chính vào những loại “mã” hóa thông tin của người phát và giải “mã” thông
tin của người nhận.
- Việc lĩnh hội thông tin từ văn bản ngôn ngữ nhiều khi không giản đơn, nhất
là đối với các văn bản nghệ thuật có nhiều tầng ý nghĩa, các nhân vật giao tiếp lại
khác nhau về văn hóa, đặc điểm tâm lí lứa tuồi, thói quen sử dụng ngôn ngữ... Muốn
hoạt động nghe đạt hiệu quả thì người nghe phải có sự chú ý, hứng thú với vấn đề

đặc điểm của môi trường mà hoạt động giao tiếp diễn ra (hoàn cảnh giao tiếp hẹp).
Đó còn là hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá... của dân tộc, của đất nước
(hoàn cảnh giao tiếp rộng). Các nhân tố trong hoàn cảnh giao tiếp luôn luôn chi phối
các phương diện của hoạt động giao tiếp: từ việc lựa chọn nội dung đến cách thức
thể hiện, và cả những nghi thức trong giao tiếp. Nhân tố hoàn cảnh trả lời cho câu
hỏi: nói (viết) trong hoàn cảnh nào, tình huống nào? Khi nào, ở đâu?
*. Nội dung giao tiếp
Đây là hiện thực được nói tới trong văn bản. Nó bao gồm những sự kiện, hiện
tượng, sự vật trong thực tế khách quan và cả những tình cảm, tâm trạng của con người.
Hiện thực được nói tới tạo thành đề tài và nội dung của hoạt động giao tiếp.
Nhân tố này cũng luôn luôn ảnh hưởng đến những hình thức và đặc điểm của
hoạt động giao tiếp, của ngôn ngữ và trả lời các câu hỏi: nói (viết) về cái gì/ về vấn đề
gì? Chẳng hạn, nếu nói về một vấn đề khoa học thì ngôn ngữ, cách diễn đạt, cách cấu
tạo ngôn bản có nhiều điểm khác với việc nói về tình cảm, cảm xúc của con người.
*. Mục đích giao tiếp
Giao tiếp có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau, có thể nhằm mục đích làm
quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một tư tưởng, một nhận
thức, đưa ra một lời mời, hay một yêu cầu đòi hỏi người nghe phải thực hiện, đặt ra
một câu hỏi về một vấn đề mà mình chưa rõ để người nghe giải đáp,.. .Với cuộc
giao tiếp có nhiều mục đích thì có mục đích chính và mục đích phụ. Mục đích của
giao tiếp nhằm tác động đến các nhân vật tham gia giao tiếp ở 3 phương diện: tác


16

động về nhận thức (thuyết phục), tác động về tình cảm (truyền cảm), tác động về
hành động
Khi đạt được mục đích đã đặt ra thì hoạt động giao tiếp cũng đạt được hiệu
quả. Nhân tố mục đích giao tiếp trả lời các câu hỏi: nói (viết) để làm gì?
*. Phương tiện và cách thức giao tiếp

trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng đọc - hiểu một văn bản.
+ Về phương pháp dạy học, các kĩ năng được hình thành cho học sinh thông qua
nhiều bài tập mang tính tình huống, phù họp với những tình huống giao tiếp tự nhiên.
Dạy học đọc hiểu theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục đích
giao tiêp, dạy về giao tiếp, dạy trong giao tiếp
Khi dạy theo quan điểm giao tiếp, GV phải dạy cho HS được học, được tập
đọc, được tập giao tiếp ở trong bài học ở lớp để rồi biết cách đọc đúng, đọc hay, đọc
diên cảm; biết nói năng sử dụng ngôn từ đúng vai trò và mục đích đối với những
người xung quanh, biết nhận xét, đánh giá, biết cảm thụ được một văn bản khác
ngoài chương trình... Đó chính là nhiệm vụ dạy học đọc hiểu văn bản theo quan
điểm giao tiếp.
Dạy học đọc hiểu Quan điểm giao tiếp quán triệt tư tưởng, giao tiếp vừa là
điểm xuất phát lại vừa là đích hướng tới, vừa là nội dung lại vừa là định hướng
phương pháp và môi trường tổ chức dạy học của tất cả các đơn vị kiến thức
1.1.5 Cơ sở văn học
*Lý thuyết tiếp nhận văn học
Đọc hiểu văn bản theo quan điểm giao tiếp cũng là đọc hiểu theo lý thuyết
tiếp nhận.Theo SGK Ngữ văn 12 tập 2 (nâng cao), tiếp nhận là hoạt động nắm bắt
thông tin trong quá trình giao tiếp. Trong giao tiếp văn học từ trước đến nay , quan
hệ giữa người đọc với tác phẩm thường được gọi bằng các từ “ đọc”, “cảm thụ”,
“phê bình”... Lý thuyết tiếp nhận đề xuất khái niệm “ tiếp nhận văn học” với ý thức
đề cao vai trò người học, người đọc bằng một hoạt động đó là hoạt động đọc. Điều
đó đã biến văn học trở thành một tác phẩm. Ở đây người đọc có vai trò “đồng sáng
tạo”. Hoạt động đọc là hoạt động giao tiếp im lặng, thầm lặng giữa chủ thể đọc với
nhà văn, với thế giới nghệ thuật trong văn bản. Tác giả Đỗ Đức Hiểu cho rằng: Đọc
trước hết phải phát hiện ra trong văn bản và từ văn bản một thế giới khác, những


18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status