1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Hiện nay, một trong những ñiểm cơ bản của quá trình ñổi mới phương pháp dạy
học Văn trong nhà trường là người ñọc sáng tạo. Vì thế, cơ chế dạy học Văn ñòi hỏi một
sự thay ñổi lớn về tư tưởng sư phạm, về phương pháp luận khoa học và về phương pháp
thiết kế bài học trên lớp theo ñịnh hướng giáo viên là người tổ chức hướng dẫn; học sinh
là chủ thể, là bạn ñọc ñích thực, trực tiếp tham gia vào việc chiếm lĩnh, khám phá tác
phẩm.
Đề cao vai trò chủ thể học sinh trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Văn
nói riêng chính là tìm một phương hướng cơ bản ñể nâng cao hiệu quả dạy học. Phương
hướng ñó không những phù hợp với yêu cầu của thời ñại công nghệ, khoa học hiện nay
mà còn là quan ñiểm nhân văn trong nhận thức khoa học: xây dựng những con người mới
tích cực, chủ ñộng, sáng tạo, tự tin vào năng lực của mình. Chương trình giáo dục phổ
thông ban hành kèm theo Quyết ñịnh số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ ñộng,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với ñặc trưng môn học, ñặc ñiểm ñối tượng học sinh, ñiều
kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác;
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác ñộng ñến tình cảm, ñem lại niềm
vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS” [24; tr. 8].
Nhiệm vụ của dạy học Ngữ văn không chỉ là cung cấp kiến thức về văn học, trang bị
những ñánh giá, nhận ñịnh về tác gia, tác phẩm, mà còn ñào tạo một năng lực cảm thụ và
khám phá giá trị của tác phẩm văn chương. Học sinh học Ngữ văn không chỉ ñọc hiểu và
viết các loại văn bản thông dụng, nói ñúng phong cách ngôn ngữ, mà còn biết ñọc hiểu, giao
tiếp với loại văn bản phức tạp nhất, là văn bản văn chương nghệ thuật. Với ý nghĩa trên, chỉ
dạy văn học theo lối “giảng văn” truyền thống, thầy giảng, trò nghe một cách thụ ñộng thì
không thể ñào tạo năng lực sử dụng công cụ văn học ñược.
Xuất phát từ mục tiêu dạy học của bộ môn, với chương trình và sách giáo khoa
(SGK) Ngữ văn THPT mới (chương trình môn Ngữ văn của trường Cao ñẳng nghề ñược
1975.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do ñiều kiện khách quan, do quỹ thời gian có hạn, khi thực hiện ñề tài này chúng tôi
chỉ tìm hiểu, thực nghiệm, ñối chiếu việc dạy học ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam
1945-1975 tại một số lớp tại trường Cao ñẳng nghề An Giang. Cụ thể là bốn lớp:
- Lớp T-DNH/09.B; - Lớp T-KXD/09.B;
- Lớp T-MTT/10.B; - Lớp T-ĐTD/10.B.
4. Đóng góp của ñề tài
Về lí luận: tập hợp, hệ thống những vấn ñề chung về lí thuyết ñọc hiểu VBTPVC
nói chung và ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam nói riêng.
Về thực tiễn: bước ñầu thực nghiệm và ñề xuất quy trình dạy học ñọc hiểu VBTP
thơ trữ tình, ñưa ra những tiêu chí ñể ñánh giá hiệu quả của giờ dạy học ñọc hiểu VBTP
thơ trữ tình. Hi vọng sáng kiến kinh nghiệm sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích ñối với giáo
viên khi dạy ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975.
3
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ ĐỌC HIỂU
VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH
1.1. Vấn ñề ñọc hiểu trong dạy học văn bản tác phẩm văn chương (DH VBTPVC)
1.1.1. Vai trò của ñọc hiểu trong dạy học (DH) Ngữ văn
Dưới góc ñộ phương pháp, ñọc hiểu là một hoạt ñộng phân tích, tổng hợp phức tạp
ñược truyền ñạt thông qua nội dung ý thức trong từ ngữ và câu cú ñể diễn tả những mối
quan hệ khác nhau như sự tiếp thu và nắm vững ý nghĩa sâu xa trong VB mà ñã thiếu mất
phương tiện hỗ trợ của người nói, trong ñó người ñọc phải tái hiện lại những ñiều ñã ñọc.
Đọc là một quá trình nhận thức và tự nhận thức của con người.
Về phương diện này, ñọc văn thực sự là một khoa học, là lao ñộng sáng tạo. Theo
ngôn phong và hình tượng, sự gặp gỡ giao thoa – kế thừa và phát triển, mối quan hệ giữa
cá nhân và cộng ñồng văn hóa… luôn luôn ñặt ra thử thách ñối với những ai có nhu cầu ñi
tìm lời giải ñáp trong mỗi TP của mỗi nhà văn. Bởi vì, trước mắt người ñọc là VB – một
tồn tại cụ thể - trong khi ñó, TPVH là một quá trình. Theo Trần Đình Sử, “mỗi lần ñọc,
mỗi cách ñọc chỉ là một chặng trên con ñường chạy tiếp sức của biết bao ñộc giả ñể ñến
với TP” [21; tr.18]. Đó là một cách nhìn biện chứng về bản chất sáng tạo của hoạt ñộng
tiếp nhận văn chương.
Như vậy, “ñọc” trong khái niệm ñọc hiểu VBTPVC là một quá trình phát hiện và
khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời ñại trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ
của TP ñan xen giữa hoạt ñộng nhận thức, ñánh giá và thưởng thức giá trị ñích thực tồn tại
trong hình thức nghệ thuật ñộc ñáo của TP.
Đọc hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học
văn. Nắm vững khái niệm ñọc hiểu và vận dụng thành thạo nội dung ñọc hiểu VB sẽ góp
phần thay ñổi hệ hình phương pháp DH văn. “Hiểu” trong khái niệm ñọc hiểu TPVC,
trước hết phải gắn liền với VB – một tổ hợp ngôn ngữ mang nghĩa là cấu trúc tầng bậc ý
tưởng tương ứng với những ñơn vị của VB khác nhau có tính chủ ñề và tính liên kết toàn
vẹn. Hiểu là quá trình nhận thức VB toàn vẹn. Trong TPVC, ñó là cấu trúc ngôn ngữ kết
dệt nên bức tranh hiện thực xã hội; cấu trúc hình tượng dựng nên hiện thực giả ñịnh mang
tính thẩm mỹ và cấu trúc ý nghĩa như là thế giới hiện thực tư tưởng. Trong ñó, bức tranh
hiện thực xã hội như là sự giãi bày, còn thế giới hiện thực tư tưởng như là sự mơ ước về
một viễn cảnh tốt ñẹp. Vì thế, trong khi ñọc TPVC, người ñọc cần phải hiểu ba bình diện
cấu trúc ấy – cũng là bình biện nội dung tương ứng với tuần tự từ 1 ñến 3 là: nội dung sự
kiện, nội dung hình tượng, và nội dung quan niệm của tác giả. Nhưng chưa hết, những gì
làm cho nội dung ấy tồn tại một cách có nghĩa lí, ñảm bảo riêng cho từng cấu trúc ấy
chính lại là hình thức mà người ñọc cần hiểu.
Như vậy, hiểu trong ñọc văn về một phương diện nào ñó chính là sự ñồng cảm và
nắm ñược những gì mà nhà văn muốn nói, cảm thụ ñược giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ và
tư tưởng nghệ thuật của nhà văn; là sự vượt qua khoảng cách mơ hồ giữa chủ thể người
ñọc – HS và VBTP ñể khám phá và tình người sâu xa trong cuộc sống và sự ñóng góp của
ngôn ngữ không gì có thể thay thế ñược.
lịch sử VH cũng như những tri thức về PP và cách thức làm việc với TP nghệ thuật cùng
với năng lực vận dụng chúng.
b/ Dạy ñọc hiểu TP thơ trữ tình trong tính chỉnh thể về cấu trúc
Nói ñến TPVC là nói ñến một VB trong tính chỉnh thể. TPVC ñược cấu tạo bằng
ngôn ngữ nghệ thuật nhằm xây dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng ñược kết cấu một
cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tổng thể.
Trong một TPVC, các yếu tố ñều có quan hệ mật thiết với nhau. Trong mỗi TP, bao giờ
cũng nổi bật lên một số yếu tố, tình tiết, chi tiết quan trọng hơn, kết tinh cao nhất tư tưởng
và nghệ thuật của TP. Ta hiểu vì sao người xưa khi bình thơ thường chú ý ñến “thi nhãn”,
“nhãn tự”, “thần cú”, “cảnh cú”… Đọc hiểu TPVC không thể và cũng không nên phân
tích tất cả, ñầy ñủ các chi tiết mà phải biết lựa chọn, tập trung phân tích một số chi tiết tiêu
biểu nhất. Việc tìm hiểu những chi tiết, phân tích những yếu tố, những mặt riêng biệt của
các chi tiết trong TP nhằm phát hiện và khám phá tương quan giữa chúng ñể từ những
hiểu biết riêng lẻ cụ thể ñạt tới sự nhận thức chung sâu sắc hơn về TP.
6
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1945 – 1975
2.1. Thực trạng DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 - 1975
Trong chương trình môn Văn ở trường PTTH, cũng như trường Cao ñẳng nghề
An Giang, mảng thơ trữ tình hiện ñại Việt Nam chiếm một vị trí ñặc biệt quan trọng. Đây
là một bộ phận văn học có tác dụng to lớn trong vấn ñề giáo dục truyền thống cũng như
bồi ñắp tâm hồn, tình cảm cho học sinh (HS). Tuy nhiên, vấn ñề dạy học các VBTP thơ
trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 trong trường Cao ñẳng nghề trong những năm qua, chúng
tôi gặp nhiều hạn chế và vướng mắc.
2.1.1. Về phía học sinh
Thứ nhất, nhìn chung, HS có năng lực cảm nhận thơ sâu sắc, biết cách ñọc diễn
cảm VBTP thơ trữ tình. Trong quá trình ñọc hiểu VBTP thơ, HS tỏ ra có hứng thú và tâm
thế học tập tốt. Tuy nhiên, những trường hợp này không nhiều. Đa số, HS ít hứng thú,
Thứ ba, dạy tách rời nội dung và hình thức. Khi tổ chức cho HS ñọc hiểu VBTP
thơ, chúng tôi thường có khuynh hướng ñi sâu vào phân tích nội dung bài học còn chi tiết
nghệ thuật chỉ ñưa ra sơ sài. Cuối bài học thay vì hướng dẫn cho HS tổng kết từ những gì
ñã phân tích, chúng tôi yêu cầu HS ñọc Ghi nhớ trong SGK. Giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ
tình với cách dạy này chưa ñáp ứng ñược với các chuẩn kiến thức và kĩ năng DH ñọc
hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945-1975 trong chương trình Ngữ văn.
Thứ tư, trong giờ ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, chúng tôi chưa khai thác ñược một
cách hiệu quả nhạc ñiệu của những câu thơ trong các VBTP thơ, ít giảng từ ngữ khó cho
HS cũng như không thường xuyên kiểm tra việc ñọc các chú thích trong SGK của HS. Có
lẽ vì vậy mà HS dưới sự áp ñặt của GV, chỉ nắm ñược bài học trên những nét lớn, nét
chung mà chưa thực sự hiểu và “cảm” ñược cái hay, cái ñặc sắc của câu thơ, bài thơ.
2.2. Nguyên nhân của thực trạng DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945
– 1975
Dạy học ñọc hiểu VBTPVC nói chung, DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình là hoạt
ñộng hướng về hoạt ñộng của người ñọc HS. Trong hoạt ñộng DH này, GV là người
tổ chức, hướng dẫn; HS phải tự mình ñọc tiếp cận với VBTP, ñọc hiểu VBTP. Muốn
vậy, HS phải ñược trang bị các tri thức ñọc hiểu VBTB (thể loại, thi pháp,…). Trong
chương trình Ngữ văn 3 hiện hành tại trường Cao ñẳng nghề An Giang, phần lớn HS
vẫn chưa ñược trang bị và tiếp cận với các tri thức ñọc hiểu VBTP. Vì thế, HS thường
không biết cách tự ñọc, tìm hiểu VBTP.
Về phía GV, có thể nói rằng, sự thay ñổi về nhận thức và quan niệm DH TPVH
của GV hiện nay vẫn chưa thích ứng kịp với yêu cầu ñổi mới cải tiến PPDH: GV vẫn
chưa xem dạy học TPVH là dạy ñọc văn. Các GV dạy học Ngữ văn hiện nay vẫn chưa
ñược trang bị các kiến thức lí luận về DH bộ môn theo hướng ñọc hiểu do chưa có
khái niệm ñọc cho nên chưa có hệ thống biện pháp dạy ñọc văn hữu hiệu và hoàn
chỉnh. Ngoài việc ñọc thành tiếng và ñọc diễn cảm, chúng ta hầu như chỉ có khái niệm
giảng bình, phân tích, bình chú, nêu câu hỏi…
Mặt khác, tiếp cận những bài học về thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975, GV và
HS còn phải ñối diện với một khó khăn khác là khoảng cách về không gian, thời gian,
8
tiết ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, GV cũng thực hiện thảo luận nhóm, giải quyết tình
huống… và GV phải “gồng mình” thực hiện công việc này, chạy ñua với thời gian ñể
chuyển tải khối lượng kiến thức và ñể khỏi cháy giáo án. Chính vì buộc phải vận dụng
những PP mới một cách máy móc mà giờ dạy VBTP thơ trữ tình vốn ñầy cảm xúc trở
nên nặng nề, mệt mỏi cho cả GV và HS. GV không còn thời gian ñể tạo cảm xúc, và
tiết học không còn không còn chỗ trống ñể cảm xúc có thể thăng hoa.
9
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU TP THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1945 – 1975
3.1. Những giải pháp về DH ñọc hiểu TP thơ trữ tình Việt Nam 1945 -1975
3.1.1. Tiếp cận ñúng quan ñiểm DH VBTP thơ trữ tình trong nhà trường
THPT
Lâu nay, dạy thơ trong chương trình Ngữ văn ñược quan niệm như dạy cảm xúc,
gợi cảm hứng, dạy nhận thức cuộc sống, con người mà trong cuộc sống, con người thì
chính trị - ñạo ñức là cái trục lớn. Người ta cũng kết hợp cả tâm lý, triết học, lịch sử và
nói chung toàn bộ các kiến thức khoa học xã hội và nhân văn vào giờ giảng nếu có ñiều
kiện và có chỗ liên hệ, dung nạp. Điều này là không sai.
Thế nhưng, một trong những luận ñiểm cơ bản của quá trình ñổi mới PPDH văn
trong nhà trường hiện nay là luận ñiểm “Học sinh là bạn ñọc sáng tạo trong quá trình
dạy học văn.”. Sự thay ñổi căn bản quan niệm về vai trò người dạy và người học so với
PPDH truyền thống là tư tưởng nổi bật của lí luận DH hiện ñại. Việc DH VB TPVC,
trong ñó có VBTP thơ trữ tình không còn gọi là giảng văn, mà gọi là ñọc hiểu VBVH.
Đọc, viết, nghe, nói là các hoạt ñộng cơ bản của HS trong môn học Ngữ văn. Các hoạt
ñộng này phải ñược GV tổ chức cho HS thực hiện trên lớp và trong các hoạt ñộng học
tập. Riêng việc quy ñịnh ñọc là một hoạt ñộng cơ bản của HS trong bài học ñọc hiểu
VB TPVC, trong ñó có DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình ñã ñem lại sự thay ñổi trong
nhận thức và quan niệm trong việc DH TPVC. Thế nhưng, trong thực tế DH, không
buộc với những lý do bên ngoài TP mà chỉ có thể khuyến khích, ñộng viên, tạo ra môi
trường cảm thụ phù hợp ñể kích thích quá trình tìm tòi, phát hiện của HS.
3.1.2. DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình trong tính chỉnh thể cấu trúc và
ñặc ñiểm thể loại
Trong tiếp nhận thi ca, nhiều khi người ñọc bị cuốn hút, ám ảnh bởi ñộ ngân
vang của từ ngữ, của nhịp ñiệu câu thơ ngay cả khi chưa kịp hiểu nội dung, ý nghĩa mà
chúng biểu ñạt. Chi phối âm ñiệu thơ bao giờ cũng là tâm trạng, cảm xúc của thi sĩ…
Bám sát ñặc trưng loại thể, tổ chức giờ DH ñúng ñặc trưng loại thể là một ñiều kiện tiên
quyết làm nên sự thành công cho một giờ DH ñọc hiểu VB TPVC, trong ñó có VB TP
thơ trữ tình.
Mặt khác, ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình không ñơn giản chỉ là việc chia tách TP ra
từng phương diện, ra từng khía cạnh, từng yếu tố ñể xem xét mà chủ yếu là phải chỉ ra
ñược ý nghĩa, chức năng thể hiện nội dung, tư tưởng TP của từng yếu tố, từng phương
diện ñó. Vì thế, trong quá trình ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, người ñọc cần tranh luận,
ñối thoại với TP như là một chỉnh thể nghệ thuật. Khi ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình, cần
tôn trọng tính chỉnh thể của TP. Tuy nhiên, trong quá trình ñọc hiểu VBTP, người ñọc
không nhất thiết phải phân tích toàn bộ TP mà chọn lọc những ñiểm sáng thẩm mỹ,
những yếu tố then chốt ñể khởi phát quá trình tiếp nhận TP.
3.1.3. Vận dụng linh hoạt các PPDH trong quá trình DH ñọc hiểu VBTP
thơ trữ tình
Chúng tôi cho rằng, ñổi mới PPGD ở môn Ngữ văn là sự vận dụng linh hoạt các
nguyên tắc, các thao tác giảng dạy khác nhau nhằm phát huy tối ña tinh thần chủ ñộng
tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em tự tìm tòi, tự khám phá ra chân lí. Đáp ứng mục
tiêu phát triển toàn diện cho HS, giúp các em có thể thích ứng với những yêu cầu ña
dạng phong phú của cuộc sống. Bởi vì, theo chúng tôi không có PP thuần túy. Một tiết
11
dạy tốt, trước hết và nhất thiết phải là tiết dạy giúp HS có ñược những kiến thức chính
xác, giúp các em khôn lớn lên về mặt trí tuệ. Vì thế trong quá trình tổ chức cho HS ñọc
3.2.1. Mục ñích thực nghiệm
Thứ nhất, ñánh giá hiệu quả giờ DH ñọc hiểu VBTPVC theo ñặc trưng loại thể
khi sử dụng thiết kế bài học dạy ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975
trong chương trình Ngữ văn 3 tại trường Cao ñẳng nghề An Giang.
12
Thứ hai, xem xét tính khả thi các quy trình hướng dẫn HS ñọc hiểu VBTP thơ
trữ tình theo ñặc trưng thể loại.
3.2.2. Đối tượng thực nghiệm và ñối chứng
Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 lớp. Cụ thể là lớp T-DNH/09.B (Khoa Nữ công)
và lớp T-ĐTD/09.B (Khoa Điện tử).
Bên cạnh lớp thực nghiệm (TN), chúng tôi chọn lớp T-MTT/09.B (Khoa Nữ
công) và lớp T-KXD/09.B (Khoa Xây dựng) làm lớp ñể ñối chứng (ĐC). Đây là hai
lớp có trình ñộ học tập môn Văn ngang tầm với hai lớp thực nghiệm. Kết quả ñầu
vào và kết quả bài thi kiểm tra Văn 2 ñã nói ñiều ñó.
Chúng tôi có kết quả bài thi kiểm tra học kì II (Văn 2) của hai ñối tượng thực
nghiệm và ñối chứng như sau:
LO
ẠI
LỚP
GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU
Thực nghiệm
(56 HS)
3 HS, 5.1% 10 HS, 16.9% 43 HS, 73,9% 3 HS, 5.1%
Đối chứng
(48 HS)
thảo luận nhóm, phát biểu ý kiến, gợi tìm và bình giảng; sử dụng tranh ảnh.
Trong giáo án, chúng tôi hướng dẫn HS ñọc và cảm nhận ñúng cảm xúc và tâm
trạng của nhân vật trữ tình. Trên cơ sở ñó ñặt câu hỏi ñịnh hướng giúp HS từng bước
ñọc hiểu VBTP. HS có thể làm việc theo nhóm hoặc làm việc cá nhân tùy theo các vấn
ñề ñặt ra. Các hình thức học tập này sẽ giúp HS phát huy tính tích cực, chủ ñộng và
sáng tạo của mình. Bên cạnh ñó, dưới sự hướng dẫn, gợi tìm của chúng tôi, HS sẽ có PP
tiếp cận TP một cách ñúng ñắn, có thể cắt nghĩa, lí giải vấn ñề một cách thấu ñáo.
Vai trò chủ yếu của chúng tôi là tổ chức cho HS ñọc hiểu VBTP trên cơ sở nắm
bắt ñặc ñiểm thể loại của VBTP. Chúng tôi là người ñịnh hướng, nêu vấn ñề cho HS
thảo luận, tìm hiểu, lí giải vấn ñề, khám phá nội dung ý nghĩa của VBTP trong tính
chỉnh thể cấu trúc của nó. Sau mỗi nội dung, chúng tôi bình thêm ñể giúp HS cảm nhận
sâu thêm bài học.
Giáo án sử dụng phối hợp các PPDH như: PP ñọc sáng tạo, PP gợi tìm, PP tái
tạo, PP nghiên cứu có mục ñích… Hệ thống câu hỏi trong bài dạy ñọc hiểu TP thơ trữ
tình ñược chúng tôi ñặt ra trong GATN cũng gắn liền với ñặc ñiểm thể loại TP thơ trữ
tình hiện ñại. Hê thống câu hỏi trong giáo án ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình phải “kích
thích HS từng bước thuộc câu thơ hay, cảm nhận ñược cao trào vận ñộng xúc cảm, tiến
tới hiểu ñược những tầng nghĩa sâu xa” [3; tr.65]. Các nhóm câu hỏi ñược sử dụng
trong giáo án gồm: câu hỏi cảm xúc; hình dung tưởng tượng; hiểu; nhớ; phân tích chi
tiết, cấu trúc… Tất cả các câu hỏi ñược ñặt trong mối quan hệ tương hỗ và kết thành
một hệ thống.
Với những quan ñiểm vừa trình bày, chúng tôi ñã tiến hành TKGA thực nghiệm
DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975. Và chúng tôi thiết kế giáo án
với tên gọi GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM.
Chúng tôi xin giới thiệu GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM tiêu biểu bài Tây tiến
của Quang Dũng, nhưng chỉ trích mục Hoạt ñộng dạy học của giáo án.14
thành Tây Tiến. Anh chị hãy
cho biết có mối liên hệ nào
giữa nội dung bài thơ và chữ
Nhớ Tây Tiến? Tây Tiến có
gợi ra nỗi nhớ không? Chữ
Tây Tiến trong bài thơ gắn
với sự kiện nào? - HS ñọc, trả lời
câu hỏi và gạch
chân các ý chính ở
phần Tiểu dẫn.
nỗi nhớ của tác giả về Tây Tiến.
- Nhan ñề Tây Tiến thể hiện vẻ
ñẹp hàm súc của bài thơ: nỗi nhớ
lặn xuống tầng sâu trong tâm hồn
ñể chỉ còn hiển hiện một mối
quan tâm, một ánh mắt ñau ñáu
hướng ñến một Tây Tiến của lòng
15
mình. Không nói nhớ mà vẫn da
diết nhớ, chơi vơi nhớ, xôn xao và
ước hẹn trong nhung nhớ.
Hoạt ñộng 2: Đọc và tìm
hiểu mạch cảm xúc của bài
thơ
- Thao tác 1: Đọc văn bản
GV ñọc mẫu, sau ñó hướng
dẫn HS ñọc thể hiện mạch
cảm xúc, giọng ñiệu và âm
hưởng của từng ñoạn trong
bài thơ: Bốn câu ñầu mang
cảm xúc hoài niệm, giọng ñọc
nhẹ nhàng, trữ tình, ngân dài
trong các vần bằng vừa liên
tiếp vừa gián cách. Những câu
tiếp theo có sự phối hợp giữa
những câu thơ mạnh mẽ và
những câu thơ mềm mại, chủ
yếu sử dụng thanh bằng ñể tạo
- HS tìm hiểu,
nắm bắt mạch
cảm xúc của cái
tôi trữ tình, và lí
giải vấn ñề do GV
ñặt ra.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Đọc
- Giọng ñọc phải diễn cảm ñể thể
hiện ñúng nỗi niềm nhớ thương,
tự hào và kiêu hãnh của nhà thơ
về cuộc sống, con người, cảnh sắc
thiên nhiên mà ñoàn quân Tây
Tiến ñã ñi qua…
nhiên cảnh vật và con người
miền Tây, theo anh (chị) ñiều
ñó ñã tạo ra hiệu quả nghệ
thuật gì cho tác phẩm?
- Trên cơ sở câu trả lời của
HS, GV bổ sung, khái quát lại
vấn ñề
mơ.
+ Cách khắc họa tượng ñài người
trên cái nền cảnh sắc và cuộc
sống khắc nghiệt ñã làm cho
người lính Tây Tiến càng nổi bật
vẻ ñẹp bi tráng.
+ Lời khẳng ñịnh sẽ mãi gắn bó
lòng mình với Tây Tiến.
Hoạt ñộng 3: Đọc và tìm
hiểu cấu trúc hình tượng
của tác phẩm
- GV yêu cầu HS ñọc thầm
ñoạn thơ.
- GV gợi dẫn ñặt câu hỏi:
Hãy trình bày cảm nhận của
em về hai câu thơ mở ñầu của
bài thơ Tây Tiến?
- GV khái quát lại nội dung
cảm xúc của ñoạn thơ:
Bằng cảm xúc bâng khuâng,
hoài niệm, ñoạn thơ ñã ñưa
tác giả và người ñọc từ thực
tại trở về cùng kỷ niệm ñể
- HS tưởng tượng,
tái tạo bức tranh
nghệ thuật trong
bài thơ và cắt
nghĩa, lí giải.
3. Khung cảnh núi rằng Tây
Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ
- Nỗi nhớ chơi vơi về sông Mã,
và Tây Tiến
+ Sông Mã: như là một sinh thể
sống có linh hồn, gắn bó với ñoàn
quân.
+ Tiếng gọi TâyTiến ơi: tha thiết
như gọi một người bạn
+ Vần ơi - chơi vơi: hiệp vần,
nằm cuối mỗi câu thơ → diễn tả
ñộ ngân vang, ngân dài, ngân xa
của nỗi nhớ.
+ Điệp từ nhớ: nhấn mạnh cảm
- GV ñặt câu hỏi: Giữa khung
cảnh hùng vĩ, dữ dội hoang sơ
của núi rừng Tây Bắc, hình
ảnh ñoàn quân Tây Tiến ñã
hiện ra như thế nào?
- Liên hệ câu nói của tác giả,
khắc sâu kiến thức cho HS:
“Chúng tôi hành quân bằng
ñôi chân thật sự ñã nếm mùi
Tây Tiến. Chúng tôi mở rừng,
ăn rừng, ngủ rừng”
ñể ñặc tả sự gian nan trùng ñiệp:
Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút,
dốc khúc khuỷu…
+ Hình ảnh Súng ngửi trời vừa
thực vừa ñậm chất lính: tếu táo,
vui ñùa, hóm hĩnh.
- Hình ảnh ñoàn quân Tây Tiến
dãi dầu không bước nữa/ Gục lên
súng mũ bỏ quên ñời → cái chết
kiêu hùng trong tư thế hành quân
Sơ kết: vẻ ñẹp hùng vĩ, dữ dội,
hoang sơ của núi rừng miền Tây
trải theo chặng ñường hành quân
của người lính Tây Tiến. Bút
pháp lãng mạn và thủ pháp ñối
lập ñã tạo ra những mảng vẽ ñậm,
chắc, táo bạo nhưng cũng rất
mềm mại, trữ tình làm nổi bật
chân dung tinh thần người lính.
- GV cho HS ñọc lại và hướng
dẫn ñể HS nhận ra vẻ ñẹp bi
tráng của người lính Tây Tiến
trong ñoạn thơ.
- Bức chân dung người lính
- HS ñọc ñoạn thơ
- HS tìm hiểu,
cảm nhận và lí
giải vấn ñề do GV
4. Hình ảnh người lính Tây
Tiến - Qua những phân tích về
chân dung của người lính,
anh chị hãy xác ñịnh bút pháp
ñịnh hướng.
- HS trình bày
nhận xét, lí giải.
- HS trình bày ấn
tượng và cảm xúc
của mình về
những câu thơ nói
ñến sự hi sinh của
người lính
+ Áo bào: hình ảnh không có
thực → cái nhìn trân trọng →
hình ảnh cổ kính → một cách
sang trọng hóa sự hy sinh của
người lính Tây Tiến.
+ Về ñất là sự tựu nghĩa của
những người anh hùng, thanh
thản và vô tư sau khi ñã làm tròn
nhiệm vụ.
+ Vẻ ñẹp bi tráng còn ñược thể
hiện qua khí phách của người lính
(chiến trường ñi chẳng tiếc ñời
xanh) và tiếng gầm của Sông Mã
như một khúc ñộc hành (Sông Mã
19
nghệ thuật của nhà thơ? của nhà thơ. gầm lên khúc ñộc hành).
- Cảm nhận của em khi ñọc
khổ thơ cuối của bài thơ?
Nhà thơ khẳng ñịnh ñiều gì
khi ñã xa Tây Tiến?
Anh chị hiểu mùa xuân mà tác
giả nói tới ở ñây như thế nào?
- Yêu cầu HS ñọc lại ñoạn thơ
cuối và hỏi: Âm hưởng ñược
chia phôi
→
láy lại ý thơ cổ: nhất
khứ bất phục hoàn
→
tư thế lên
ñường ñầy quyết tâm.
- Mùa xuân: thời ñiểm thành lập
ñoàn quân Tây Tiến (mùa xuân
1947), mùa xuân của ñất nước,
mùa xuân của các chiến sĩ TT.
- Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
→
nhấn mạnh lí tưởng xả thân
quên mình.
III. Tổng kết
- NT: bút pháp thơ vừa hiện thực
vừa lãng mạn; giàu chất hội họa;
ngôn ngữ tinh tế giàu nhạc tính…
- Nội dung: ca ngợi vẻ ñẹp bi
tráng, lãng nạm, kiêu hùng của
người lính Tây Tiến trong thời
kháng chiến chống Pháp.
3.2.6. Phương pháp thực nghiệm
Sau khi ñã thiết kế Giáo án thực nghiệm, chúng tôi tiến hành tổ chức dạy thực
nghiệm như sau:
Bước 1: Chuẩn bị dạy TNSP
Tiến hành bài giảng theo quy trình DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình với mục ñích
là rèn luyện cho HS PP ñọc hiểu một VBTPVC theo ñặc trưng loại thể và hình thức
kiểm tra ñánh giá kết quả TN, ĐC.
TB: 56%
Yếu: 5.8%
Kết quả tổng hợp bài kiểm tra ñược trình bày dưới dạng biểu ñồ sau:
- Bảng 3: Kết quả kiểm tra bài cuối ñợt thực nghiệm của hai lớp
Lớp Thực nghiệm Đối chứng
Kết quả
Giỏi: 20.5 %
Khá: 36.3 %
TB: 43.1%
Yếu:
Giỏi: 2%
Khá: 24.4%
TB: 61.2 %
Yếu: 12.3%
0
10
20
30
40
50
60
70
Trung bình 28 bài - 63.6% 35 bài – 71.4%
Yếu 5 bài - 11,3% 11 bài – 22.4%
- Kết quả bài thi HKI (phần Làm văn) ñược trình bày dưới dạng biểu ñồ:
Bảng tổng kết ñiểm kết quả bài thi cho thấy sự vượt trội ñáng kể về chất
lượng dạy thực nghiệm. Mặc dù không có bài loại giỏi, nhưng có ñến 25% bài ñạt
loại khá, còn lớp ñối chứng chỉ có 6.1%. Như vậy, tỉ lệ bài loại khá lớp thực nghiệm
gấp 4 lần bài loại khá của lớp ñối chứng. Đối với bài loại dưới trung bình, lớp thực
nghiệm chỉ có 11,3%, còn lớp chứng ñến 22,4% (cao gấp ñôi). Chúng tôi cho rằng
ñây là kết quả thuyết phục nhất trong tất cả các kết quả mà chúng tôi thu ñược.
0
10
20
30
40
50
60
70
Giỏi Khá TB Yếu
Lớp thực nghiệm
Lớp ñối chứng
Phần trăm
hợp, khai thác tốt nội dung, nghệ thuật tác phẩm…; và ñặc biệt là có nội dung, phương
pháp thực nghiệm phù hợp với ñối tượng học sinh trường chuyên nghiệp, những ñiều
này ñã thật sự mang lại hiệu quả cao trong việc Dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm thơ
trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 tại trường Cao ñẳng nghề An Giang.
3.3.2. Nhận xét ñánh giá
Qua các tiết dạy và học ở các lớp TN và các lớp ĐC, chúng tôi nhận ñược kết
quả khả quan.
Phần lớn các em HS tỏ ra có hứng thú, tích cực tham gia các hoạt ñộng của giáo
viên thiết kế trong quá trình ñọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình Việt Nam 1945 – 1975.
Kĩ năng ñọc hiểu của HS từng bước ñược nâng lên. Phần lớn các em ñều biết
dựa vào ngữ cảnh ñể xác ñịnh ý nghĩa của VBTP, khắc phục ñược cách ñọc cắt xén
VB: ñọc vội vàng, chỉ nắm chi tiết mà chưa thấy ñược mối quan hệ giữa chi tiết trong
tính chỉnh thể của TP; hiểu sai lệch ý nghĩa tư tưởng của TP. Nhiều em ñã có những
phát hiện và cảm nhận hết sức tinh tế trong quá trình ñọc hiểu TP.
Kết quả ấy cũng chứng tỏ các giờ DH ñọc hiểu VBTP thơ trữ tình cũng ñã ñạt
ñược mục tiêu ñề ra của ñề tài: góp phần nâng cao hiệu quả giờ DH ñọc hiểu VBTP thơ
trữ tình Việt Nam 1945 – 1975; chứng tỏ các giả thiết và mô hình dạy ñọc hiểu TP thơ
trữ tình Việt Nam 1945 – 1975 ñã mang lại hiệu quả. Điều này cũng ñã chứng minh
ñược tính khả thi của ñề tài.
23
KẾT LUẬN
Đề tài Nâng cao chất lượng dạy học ñọc hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình Việt
Nam 1945 – 1975 tại trường Cao ñẳng nghề An Giang ñược chúng tôi thực hiện trong
tình hình chất lượng dạy và học môn Văn trong nhà trường Cao ñẳng, Trung học
chuyên nghiệp (cũng như các trường trung học phổ thông) ñang có những biểu hiện sa
sút: người dạy ít quan tâm ñến vấn ñề ñặc trưng thể loại, vấn ñề ñọc hiểu văn bản ;
người học tỏ ra thờ ơ lạnh lùng với những vấn ñề ñặt ra trong tác phẩm, bài văn, ít có
sự ñồng cảm ñối với tiếng nói tâm tình thiết thân của nhà thơ, những vấn ñề nhà thơ
Đề tài của chúng tôi ñã thu ñược những thành công ñáng kể. Dù vậy, chúng tôi
vẫn tiếp tục nghiên cứu, bổ sung cũng như ñiều chỉnh ñể ñạt ñược kết quả cao hơn.
Chúng tôi tin rằng ñề tài sẽ tiếp tục có giá trị cao trong tương lai.
Hạnh phúc lớn lao của người giáo viên ñứng trên bục giảng không chỉ là ñược
thấy học sinh của mình có ñạo ñức tốt, chăm ngoan, mà còn là ñược thấy học sinh của
mình ñạt kết quả tốt trong các kỳ thi, kiểm tra. Và chúng tôi ñã làm ñược ñiều ñó. Một
lần nữa, xin ñược nhắc lại câu nói của nhà giáo dục học Uyliam Batơ Dit: “ Học
sinh không phải là cái hũ ñể bạn ñổ nước cho ñầy mà là ngọn ñuốc, bạn phải ñốt lên
cho cháy rực…”. Chúng tôi sẽ nhớ mãi câu nói này trong sự nghiệp giáo dục của
mình!
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa Ngữ
văn 9, NXBGiáo dục, Hà Nội.
2. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn là dạy cái hay cái ñẹp, NXB Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Viết Chữ (2006), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo Loại
thể), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
4. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản ñến tác phẩm văn học, NXB Giáo dục, HN.
5. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình Lí luận văn học, phần Tác phẩm văn học, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Hồ Ngọc Đại (2002), Tâm lí học dạy học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
7. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Trần Thanh Đạm (chủ biên), (1978), Vấn ñề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại
thể, NXB Giáo dục, Hà Nội.
9. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn ñề lịch sử và lí luận,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
10. Phạm Văn Đồng (1973), “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, Tạp chí