Miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của Mó (1961 -1965)
1. Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mó ở miền Nam.
a. Hoàn cảnh ra đời:
- 1-1961, Kennơđi lên nhậm chức. CP Ken đứng trước rất nhiều khó khăn cần giải
quyết:
+ 3 dòng thác CM diễn ra mạnh mẽ, trực tiếp đe doạ đến hệ thống thuộc đòa của CNTB.
+ Phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đơn
phương” của Mó.
- Để đối phó, Kennơđi đề ra chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” với 3 loại hình
chiến tranh: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Chiến tranh tổng lực có chung
mục đích là chóa mũi nhọn vào ptđtgpdt. Ở MN, Mó sử dụng thí điểm loại hình “Chiến
tranh đặc biệt” mục đích tiêu diệt CMMN, làm nơi thí điểm rút kinh nghiệm để đàn áp
CM thế giới.
b. Nội dung và biện pháp thực hiện:
- “ Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành với quân đội tay sai (xương sống của CTĐB),
dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” quân sự Mó và dựa vào vũ khí, trang bò kó thuật,
phương tiện chiến tranh của Mó.
- Âm mưu: “dùng người Việt đánh người Việt”.
- Biệp pháp thực hiện:
+ Mó tăng nhanh viện trợ quân sự cho Diệm, đưa nhiều “cố vấn” quân sự và lực lượng
hỗ trợ chiến đấu sang: 1960: 1.100, 1964: 26.000. Thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mó
(MACV) 2-1962.
+ Tăng cường bắt lính (1961: 170.000, cuối 1964: 560.000), quân ng được trang bò
hiện đại với các chiến thuật mới: “trực thăng vận”, “thiết xa vận”.
+ Liên tiếp hành quân càn quét ở miền Nam và phá hoại miền Bắc.
+ Ráo riết dồn dân lập “Ấp chiến lược” để tách dân khỏi LLCM, dự đònh dồn 10 triệu
nông dân vào 16.000 ấp. Lập ACL được coi đó là “quốc sách”.
- Bằng kế hoạch Stalây – Taylo, chúng dự đònh “bình đònh” miền Nam trong vòng 18
tháng. Đầu 1964, khi kế hoạch Sta – Tay phá sản, Mó thông qua kế hoạch mới: Giôn
xơn- Mác Namara, “bình đònh” miền Nam có trọng điểm trong 2 năm.
2. Miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của Mó
- Mặt trận quân sự giành thắng lợi lớn: trận Bình Giã – Bà Ròa (11-1964), tiêu diệt
17000 tên (60 cố vấn); chiến thắng An Lão (BĐ), Ba Gia (QNgãi), Đồng Xoài (Biên
Hoà) làm tan rã từng mãng ng quân.
3. Ý nghóa
- Giữ vững quyền làm chủ và thế chủ động, phát triển LLCM.
- Phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt, đánh mạnh và tinh thần và ý chí chiến đấu
của ng quân.
- Có ý nghóa quốc tế to lớn: sự thất bại ở VN cho thấy chiến lược này có thể bò thất bại ở
những nơi khác.
- Chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình và đúng đắn của Đảng ta, củng cố quyết tâm lòng tin cho
quân và dân ta vững bước đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bài 29: CẢ NƯỚC TRỰC TIẾP CHIẾN ĐẤU CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1965-1973)
I. Miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ”của Mó (1965 -1968)
1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mó ở miền Nam
a. Hoàn cảnh lòch sử:
- Năm 1965, “Chiến tranh đặc biệt” bò phá sản, sự thống trò của Mó ở MN thông qua hệ
thống ng quân ng quyền bò lung lay.
- Giữa năm 1965, để đối phó, Tổng thống Mó Giônxơn đã đưa ra chiến lược “Chiến
tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam.
b. Nội dung và biện pháp thực hiện:
- Là loại hình chiến tranh thực dân mới, nằm trong chiến lược phản ứng linh hoạt của
Kennơđi, được tiến hành bằng lực lượng quân viễn chinh Mó, quân chư hầu của 5 nước
và quân của chính quyền Sài Gòn, trong đó quân Mó đóng vai trò quan trọng, ngày càng
tăng về số lượng với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại và sức mạnh của đồng
tiền đô la Mó.
- Biện pháp thực hiện:
+ Tăng cường quân Mó và chư hầu: từ 26.000 (64) tăng 200.000 (cuối 1965) và 537.000
(cuối 1967). Ngoài ra còn có lực lượng trên các căn cứ ở TBDương, ĐNA: Guam,
Philippin, Thái Lan và Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương.
+ Mó mở các cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên “Ánh sáng sao” vào căn cứ quân giải
thoái, nội bộ chính quyền phân hoá thành phái chủ chiến và hoà, đặc biệt là mâu thuẫn
trong chuẩn bò cuộc bầu cử 1968.
- Phía ta: sau hai thắng lợi mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, so sánh lực lượng có lợi
cho ta.
Vì vậy ta quyết đònh mở cuộc “Tổng công kích, tổng khởi nghóa” trên toàn miền
Nam để giành thắng lợi quyết đònh.
b. Mục đích của ta:
- Mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghóa bất ngờ trên toàn MN, chủ yếu là các đô thò,
tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân viễn chinh, đánh sập quân ng, giành chính
quyền về tay nhân dân, buộc Mó đàm phán rút về nước.
c. Diễn biến: cuộc Tổng tiến công diễn ra qua 3 đợt.
- Đợt 1 (30-1 đến 25-2):
Đêm 30 rạng 31 (giao thừa tết Mậu Thân) quân dân ta đồng loạt tiến công và nổi
dậy đồng loạt vào các đô thò (37/44 thò xã, 5/6 thành phố, hàng trăm thò trấn, ấp chiến
lược).
Tại Sài Gòn, quân giải phóng tấn công các vò trí đầu não của đòch như Toà đại sứ,
dinh Độc lập, Bộ tổng tham mưu ng…
Kết quả: ta tiêu diệt 150.000 tên (43.000 Mó), phá huỷ một khối lượng lớn vật
chất, phương tiện chiến tranh => chúng nhanh chóng phản công lại.
- Đợt 2 (4-5 đến 18-6) và 3 (17-8 đến 23-9): ta gặp phải khó khăn tổn thất, quân cách
mạng bò đẩy khỏi thành phố, hàng loạt người yêu nước bò bắt và giết. Mục tiêu cuộc
TTC không đạt được đầy đủ.
- Nguyên nhân do ta chủ quan trong đánh giá tình hình, đánh giá thấp đòch, do tư tưởng
nóng vội muốn giành thắng lợi lớn, kết thúc chiến tranh, chỉ đạo không chủ động.
c. Ý nghóa: Tuy có hạn chế, vẫn là thắng lợi của ta và có ý nghóa hết sức to lớn.
- Mở ra bước ngoặc của cuộc kháng chiến chống Mó cứu nước.
- Làm lung lay ý chí của quân viễn chinh Mó, buộc chúng phải tuyên bố “Phi Mó hoá”
chiến tranh xâm lược – thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cucï bộ”.
- Chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chòu đến họp hội nghò Pari
bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
ta.
=> Trong những năm đầu “VNH” chiến tranh, LLCM có những tổn thất và khó khăn to
lớn.
2. Quân dân miền Nam chiến đấu chống “Việt Nam hoá” chiến tranh
a. Trên mặt trận chính trò:
- Thắng lợi mở đầu là sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà MNVN (6-
6-1969), lập tức được 23 nước công nhận.
- 4-1970, Hội nghò cấp cao 3 nước Đông Dương đoàn kết nhân dân trong cuộc đấu tranh
chung.
- Ở các đô thò: phong trào của các tầng lớp nhân dân nổ ra liên tục, rầm rộ: HS, SV, dân
thành thò, đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng phong trào học sinh sinh viên rất phát
triển.
- Ở nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven thò xã: nổ ra phong trào phá “ACL”, chống
“bình đònh nông thôn”. Đầu 1971, ta làm chủ thêm 3600 ấp với 3 triệu dân, chia 1,6 ha
rđất cho ndân, vùng giải phóng được mở rộng và phát triển trên mọi mặt kinh tế, văn
hoá, giáo dục.
b. Trên mặt trận quân sự:
- Từ tháng 4 đến 6-1970, quân giải phóng MN + quân dân Campuchia đập tan cuộc hành
quân xâm lược Campuchia của 10 vạn quân Mó - Ng, diệt 17.000 tên, giải phóng 5
tỉnh ĐB và vùng nông thôn 10 tỉnh khác.
- Nửa đầu 1970, quân tình nguyện Việt Nam + quân dân Lào đập tan cuộc hành quân
chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, giải phóng thò xã Atôpơ, Saravan và Nam Lào.
- Đầu năm 1971, VN + Lào đã đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” tại đường 9 –
Nam Lào của đòch, diệt 22000 tên.
3. Cuộc tiến công chiến lược 1972
a. Hoàn cảnh:
- Sau 1971, CMVN giành hàng loạt thắng lợi trên các mặt trận, đẩy đòch vào thế nguy
khốn.
- Để tạo điều kiện cho tổng tuyển cử 1972, Níchxơn tuyên bố chấm dứt vai trò chiến đấu
của Mó ở ĐD.
+ Nông nghiệp:
Chăn nuôi được đưa dần lên thành ngành chính, các hợp tác xã áp dụng khoa học - kó
thuật, thâm canh tăng vụ, lai tạo giống mới.
Sản lượng lương thực năm 1970 tăng hơn 60 vạn tấn so 1968.
+ Công nghiệp:
Các cơ sở công nghiệp TW và đòa phương bò tàn phá được khôi phục, các ngành thuỷ
điện, than, VLXD, cơ khí được ưu tiên đầu tư.
Giá trò sản lượng công nghiệp tăng 142% (1971 so với 1968).
+ GTVT: được khẩn trương khôi phục, nhất là các tuyến đường giao thông chiến lược.
+ Văn hoá, giáo dục, y tế: được khôi phục và phát triển.
=>đời sống nhân dân ổn đònh, những sai lầm bước đầu được khắc phục.
2. Miền Bắc chiến đấu chống “Chiến tranh phá hoại” lần thứ hai, vừa sản xuất vừa
chiến đấu
a. Âm mưu và thủ đoạn của Mó:
- Âm mưu: để cứu nguy cho chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và tạo thế mạnh
trên bàn đàm phán ở Pari.
- Thủ đoạn:
+ Huy động các loại Mbay hiện đại nhất: B52, F111, tàu chiến từ Hạm đội 7..., vì vậy
vượt xa lần thứ nhất về quy mô, tốc độ.
+ 16-4-1972, Mó chính thức tuyên bố tiến hành chiến tranh phá hoại MB: đánh phá,
phong toả cảng Hải Phòng, cửa sông, luồng lạch, vùng biển miền Bắc.
b. Kết quả:
- Do có kinh nghiệm, các hoạt động sản xuất vẫn tiếp tục, gtvt thông suốt, VH, GD, YT
được duy trì.
- Trong chiến đấu: trong 7 tháng đầu (4 đến 10-1972) ta đã bắn rơi 651 máy bay, bắt
sống hàng trăm giặc lái, bắn cháy 80 tàu chiến.
* Trận “Điện Biên Phủ trên không”.
- Không đạt được mục tiêu, Ních xơn thông qua kế hoạch ném bom vào Hà Nội và Hải
Phòng từ ngày 18-12 đến 29-12-1972, 24/24 giờ bằng máy bay chiến lược B52.
=> Đưa MB trở về thời kì đồ đá.