BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VÕ THỊ HỒNG HẠNH
TƢ TƢỞNG NHO GIÁO, PHI NHO GIÁO
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VÕ THỊ HỒNG HẠNH
TƢ TƢỞNG NHO GIÁO, PHI NHO GIÁO
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Ngô Thị Phƣợng
Sơn La, năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi xin được gửi lời cảm
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 6
7. Cấu trúc của khóa luận ...................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................................................ 7
1.1. Nho giáo và phi Nho giáo .............................................................................. 7
1.1.1. Nho giáo và nguyên nhân hình thành Nho giáo ở Việt Nam ...................... 7
1.1.1.1. Nho giáo ................................................................................................... 7
1.1.1.2. Nguyên nhân hình thành Nho giáo ở Việt Nam..................................... 10
1.1.2. Phi Nho giáo .............................................................................................. 12
1.1.2.1. Khái niệm ............................................................................................... 12
1.1.2.2. Nguyên nhân hình thành phi Nho giáo ở Việt Nam .............................. 12
1.2. Khái quát về tác giả Nguyễn Khuyến .......................................................... 15
1.2.1. Cuộc đời .................................................................................................... 15
1.2.2. Con người .................................................................................................. 18
1.2.3. Sự nghiệp sáng tác..................................................................................... 19
1.3. Khái quát về nội dung và nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến ................ 21
1.3.1. Nội dung trong thơ Nguyễn Khuyến ......................................................... 21
1.3.2. Nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khuyến ...................................................... 27
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 29
CHƢƠNG 2: NHO GIÁO, PHI NHO GIÁO TRONG THƠ NGUYỄN
KHUYẾN ........................................................................................................... 30
2.1. Nho giáo trong thơ Nguyễn Khuyến ............................................................ 30
2.1.1. Khí tiết thanh cao ...................................................................................... 30
2.1.2. Tình bằng hữu ........................................................................................... 34
2.1.3. Tình nghĩa phu thê .................................................................................... 37
2.1.4. Tình phụ tử ................................................................................................ 39
2.2. Phi Nho giáo trong thơ Nguyễn Khuyến...................................................... 41
Trong các nhà thơ, nhà văn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền Nho giáo thì
Nguyễn Khuyến là tác giả có những sáng tác mang đậm dấu ấn, giáo lí Nho giáo
và đạt được những thành tựu độc đáo trên văn đàn. Những dấu hiệu hay triết lí
Nho giáo mà ông đưa vào tác phẩm đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng
độc giả. Thêm vào đó, ở buổi xã hội phong kiến xế chiều, cái phi Nho giáo – phi
truyền thống cũng được ông phản ánh. Đó cũng là một trong số những lý do mà
chúng tôi chọn vấn đề "Tư tưởng Nho giáo, phi Nho giáo trong thơ Nguyễn
1
Khuyến" để nghiên cứu và thực hiện khóa luận này.
1.2. Lí do thực tiễn
Nguyễn Khuyến là một trong số những tác giả tiêu biểu được lựa chọn
giảng dạy ở cả bậc THPT và Đại học.
Trong chương trình Ngữ văn 11, tập 1, có hai tác phẩm của Nguyễn
Khuyến được đưa vào giảng dạy và giới thiệu đến các em học sinh đó là Câu cá
mùa thu và Khóc Dương Khuê. Trong chương trình đào tạo Cử nhân Sư phạm
Ngữ văn, từ nhiều năm nay, Nguyễn Khuyến là tác giả được đưa vào giới thiệu,
giảng dạy với thời lượng 5 tiết. Mặc dù vậy, với học sinh THPT cũng như sinh
viên Ngữ văn, tư tưởng Nho giáo và phi Nho giáo vẫn là lĩnh vực còn nhiều mới
mẻ và đòi hỏi cần có thời gian tìm tòi, nghiên cứu.
Xuất phát từ nhu cầu học hỏi, chúng tôi mong muốn tìm hiểu đề tài này
nhằm tăng cường vốn hiểu biết về tác giả cũng như về văn học trung đại ở Việt
Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng hi vọng, khóa luận hoàn thiện sẽ giúp cho các
bạn sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Bắc có thêm nguồn tư liệu
tìm hiểu về Nguyễn Khuyến, phục vụ quá trình học tập.
2. Lịch sử nghiên cứu
Nho giáo có tác động mạnh mẽ tới văn học nước ta, vậy nên có rất nhiều
công trình nghiên cứu về sự xuất hiện, ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học
Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại. Đối với tác giả Nguyễn Khuyến, hiện
Về tài liệu sử dụng, khóa luận này chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trong
"Nguyễn Khuyến - tác phẩm và lời bình"- Nxb Văn học (2011), nhiều tác giả
tuyển chọn và biên soạn.
Nội dung nghiên cứu của đề tài này chúng tôi tập trung vào tư tưởng Nho
giáo, phi Nho giáo trong thơ Nguyễn Khuyến, còn các vấn đề khác trong thơ văn
Nguyễn Khuyến, đề tài không đề cập đến.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng tới làm sáng rõ tư tưởng Nho giáo, phi Nho giáo trong
thơ Nguyễn Khuyến.
Đi sâu tìm hiểu vấn đề nhằm phục vụ cho công việc học tập nghiên cứu
của sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, đóng góp vào công việc xây dựng những
tài liệu học tập có ích cho công việc giảng dạy và học tập trong nhà trường.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê, phân loại những tác phẩm có đề cập đến Nho giáo và vấn đề
phi Nho giáo trong thơ của Nguyễn Khuyến.
Phân tích các dấu hiệu đặc trưng, những biểu hiện của Nho giáo và phi
Nho giáo trong thơ Nguyễn Khuyến nói riêng và liên hệ với các tác giả khác
trong văn học Việt Nam nói chung.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài "Tư tưởng Nho giáo, phi Nho giáo trong thơ Nguyễn
Khuyến" chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê, phân loại là thao tác đầu tiên để chúng tôi xử lí khóa luận này.
Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê, phân loại dữ liệu cần thiết, cụ thể
chúng tôi phân tích và tìm ra các biểu hiện Nho giáo, phi Nho giáo trong thơ
Nguyễn Khuyến.
khái niệm về Nho giáo gây tranh cãi về tính trung lập và chính thống trong hầu
hết các bài viết.
Ở đề tài này người viết sẽ tham khảo hai định nghĩa chính về Nho giáo
của các nhà nghiên cứu tiêu biểu. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên thì “Nho giáo là hệ thống các nguyên tắc đạo đức chính trị do Khổng Tử
sáng lập, nhằm duy trì trật tự của xã hội phong kiến” [29;934].
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã
định nghĩa Nho giáo như sau: "Nho giáo là hệ thống giáo lí của các nhà nho
nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả" [33;254]
Như vậy dù có nhiều cách nhận định, đánh giá khác nhau về Nho giáo
nhưng hiểu một cách chung nhất thì Nho giáo là một hệ thống các nguyên tắc,
giáo lý của các nhà nho dựa trên quan điểm của Khổng Tử nhằm duy trì trật tự
xã hội, bảo vệ ngai vàng của thiên tử và giai cấp thống trị.
Hệ thống giáo lý là vấn đề lớn nhất trong Nho giáo. Luân lý và đạo đức
của Nho giáo bao trùm lên toàn bộ cuộc sống của con người, từ chính trị đến các
vấn đề văn hóa - xã hội. Cũng giống như học thuyết chính trị, học thuyết luân lý
và đạo đức của Nho giáo lấy đạo nhân làm gốc. Theo đạo đức và luân lý của
Nho giáo thì cái đạo làm người thông thường trong thiên hạ có năm bậc. Nó
phản ánh năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội loài người. Đó là các mối quan
hệ: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em và bầu bạn kết giao (Quân - thần,
phụ - tử, phu- thê, huynh - đệ, bằng - hữu). Để có thể xử lý tốt năm mối quan hệ
đó, con người cần phải có năm cái đức thông thường - đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín. Vì vậy, vấn đề luân lý, đạo đức của Nho giáo, về thực chất, cũng chính là
7
vấn đề giải quyết năm mối quan hệ đó trong xã hội.
Thứ nhất, trong mối quan hệ vua tôi (quân - thần), đạo đức và luân lý Nho
giáo đòi hỏi phải có sự ứng xử qua lại của cả hai bên. Đó là vua phải biết đối xử
với bề tôi, tôn trọng và quý mến bề tôi; còn bề tôi phải biết giữ đạo trung khi thờ
thực tế người vợ không có một chút quyền hành nào. Họ chỉ là người chịu sự
chỉ bảo, sai khiến của chồng và con. Để được khen là tiết hạnh, là thục nữ, họ
phải tự ép mình tuân theo những quy định khắt khe trong tứ đức tam tòng “Tại
gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” của Nho giáo: khi còn ở nhà thì
chịu sự sai khiến của cha; đi lấy chồng chịu sự sai khiến của chồng; chồng chết
chịu sự sai khiến của con.
Thứ tư, trong mối quan hệ anh em (huynh- đệ), Nho giáo đòi hỏi phải có
"Lễ". Điều đó có nghĩa là, anh em trong một nhà phải có tình thân mật. Là anh
thì phải biết bao bọc, chở che cho em, phải biết nhường nhịn em; là em thì phải
biết kính trọng anh, nghe lời anh. Bởi lẽ, xã hội của Nho giáo là xã hội của
quyền huynh thế phụ. Trong xã hội đó, anh là người có quyền thay cha giải
quyết mọi công việc đối nội cũng như đối ngoại của gia đình.
Thứ năm, trong mối quan hệ bạn bè (bằng - hữu), Nho giáo đề cao đức
"Tín" và đòi hỏi mọi người phải giữ chữ tín trong giao tiếp. Nho giáo quan niệm
đức tin là nền tảng của trật tự xã hội.
Như vậy, học thuyết luân lý, đạo đức của Nho giáo tuy nói là phản ánh
năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội, nhưng về thực chất và suy đến cùng, nó
chỉ phản ánh hai mối quan hệ. Đó là mối quan hệ trong gia đình (bao gồm các
mối quan hệ: cha con; vợ chồng; anh em) và mối quan hệ ngoài xã hội (bao gồm
các mối quan hệ: vua tôi; bạn bè) [21;12].
Từ những mối quan hệ đã phân tích ở trên, chúng tôi nhận thấy giáo lí
Nho giáo được hình thành dựa trên các hệ thống tư tưởng và mối quan hệ trong,
ngoài xã hội như: tư tưởng trung quân ái quốc; tư tưởng trọng sự hay nói cách
khác là lối sống thanh cao, khí tiết của nho sĩ; tình bằng hữu; tình vợ chồng nghĩa phu thê và tình phụ tử. Tất cả những mối quan hệ này lại bị chi phối bởi
những giáo lí, tiết điều Nho giáo thống nhất như những giá trị thuần phong mỹ
tục, quy chuẩn về cái đẹp trong xã hội phải dựa vào khuôn vàng thước ngọc,
muốn nói về cái đẹp thì người ta thường ví von hay so sánh với vẻ đẹp của tùng,
cúc, trúc, mai, nói về người con trai thì phải đủ cả năm yếu tố: nhân, nghĩa, lễ,
9
học đầu tiên với tên gọi "Thi minh kinh bác học" và "Nho học tam trường",
10
chính thức khai sinh cho lịch sử thi cử Nho giáo lâu dài ở Việt Nam. Năm 1076,
nhà Lý cho lập Quốc Tử giám ngay giữa kinh thành và "chọn quan viên văn
chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử giám". Từ đây, con em quý tộc họ
Lý chính thức được đào tạo chủ yếu theo Nho giáo. Cũng từ đây, nền đại học
Việt Nam được khai sinh. Năm 1156, nhà Lý cho lập miếu riêng thờ Khổng Tử
(trước đó, Văn Miếu thờ chung cả Chu Công và Khổng Tử). Với việc tổ chức
khoa cử, nhà Lý đã mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam kéo dài hơn 800 năm,
qua đây tuyển chọn những nhân tài cho bộ máy nhà nước, nêu cao vị trí nho học,
thúc đẩy việc truyền bá và phát triển nho học. Tuy vậy, ở thời Lý, việc học tập
và thi cử chưa được tổ chức thường xuyên và chưa có quy chế rõ ràng [5].
Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo phát triển mạnh, chiếm ưu thế trong cung đình
và đi sâu vào sinh hoạt tinh thần của Đại Việt trên nhiều mặt. Giáo dục nho học
giữ vị trí chủ đạo trong nền giáo dục đất nước. Tầng lớp nho sĩ trở nên đông đảo
và tích cực tham gia các công việc chính trị của đất nước, phấn đấu cho lý tưởng
của Nho giáo, phát triển những quan điểm về các mặt chính trị, xã hội, đạo đức,
làm cho sinh hoạt tư tưởng và văn hóa nước nhà khá náo nhiệt.
Trong xã hội thế kỷ XVI, thời Mạc, Nho giáo không còn ở giai đoạn cực
thịnh như thời Lê Thánh Tông, nó đã bắt đầu có sự rạn nứt, thoái hóa cùng với
bối cảnh đang rối ren, loạn lạc của xã hội lúc này. Khuôn khổ lễ giáo phong kiến
cũng đã đến lúc bắt đầu rạn vỡ, lung lay, nhiều tín điều của Nho giáo đã không
còn đủ ý nghĩa tôn nghiêm, quan hệ tự do nam nữ luyến ái đã có phần phóng
khoáng, luân thường đạo lý trong xã hội đã bắt đầu chao đảo, ngả nghiêng.
Chính cái bối cảnh xã hội đó có lẽ đã tác động mạnh làm thay đổi cá nhân sinh
quan lẫn thế giới quan của nhà nho.
Đến thời nhà Nguyễn, chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng, Nho
giáo không ngừng củng cố và phát triển cho đến vào giữa thế kỷ XIX. Nho giáo
Phi Nho giáo hình thành và xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau,
nhưng chủ yếu dựa trên hai nguyên nhân chính là do du nhập luồng tư tưởng
mới, văn hóa phương Tây từ khi thực dân Pháp xâm lược và thay đổi chữ viết
(từ chữ Hán, chữ Nôm sang sử dụng chữ quốc ngữ).
Trong đó quá trình truyền đạo, các luồng tư tưởng, văn hóa phương Tây
vào nước ta ảnh hưởng nhiều nhất đến việc hình thành các biểu hiện của phi
Nho giáo.
12
Biểu hiện sớm nhất của sự giao lưu, tiếp xúc và ảnh hưởng văn hóa
phương Tây và thế giới là sự truyền giáo vào Việt Nam của các giáo sĩ phương
Tây.
Do chính sách bế quan toả cảng của nhà nước phong kiến nên mặc dù văn
hoá Việt Nam đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây từ khoảng thế kỷ XVI, song
phải đến nửa sau thế kỷ XIX, sự tiếp xúc và ảnh hưởng đó mới mạnh mẽ. Văn
hoá Việt Nam tiếp xúc và giao lưu với văn hoá phương Tây trước hết thông qua
ảnh hưởng Kitô giáo và văn hoá Pháp.
Việt Nam đã tiếp xúc với văn hoá phương Tây từ thế kỉ thứ XVI, đời hậu
Lê. Việc tiếp xúc này nằm trong quá trình thực dân hoá các nước Đông Nam Á
của phương Tây. Trong quá trình này, các cố đạo đi truyền giáo và mở rộng
quốc gia của Chúa, nhà tư bản đi tìm kiếm nguyên liệu thị trường, còn tên thực
dân đi chiếm đất.
Từ năm 1533- 1593 tại một số vùng của Nam Định, Nghệ An ngày nay đã
xuất hiện các cuộc tiếp xúc của các giáo sĩ phương Tây với cư dân. Họ giảng
đạo, tuyên truyền, lôi kéo và đào tạo nhiều tu sĩ, lập nhiều làng công giáo toàn
tòng. Đây là giai đoạn thứ 2 trong quá trình tiếp xúc văn hoá Tây – Đông trên
giải đất Việt Nam.
Giai đoạn thứ 3, từ thế kỉ XVII –XIX, lúc đầu các giáo sĩ và thương nhân
phương Tây tiếp xúc một cách hoà bình, hòa hợp với cư dân Việt Nam. Nhưng
thay thế giáo sĩ người Bồ Đào Nha truyền đạo vào nước ta. Lúc đầu chữ quốc
ngữ chỉ được sử dụng trong quá trình truyền đạo, về sau do chính sách văn hóa
của người Pháp dần dần mới được sử dụng rộng rãi, có thời kì các nho sĩ lần
lượt từ bỏ viết bút lông và chuyển sang viết bút chì, bút mực sau này là bút máy
do sự du nhập văn hóa phương Tây và đến sau 1945 được sử dụng trong cả
nước.
Chữ quốc ngữ xuất hiện cùng với chính sách văn hoá của Pháp về sau này
đó được thể hiện trên nhiều phương diện như: Sự phát triển của đô thị, giao
thông vận tải, nhà cửa, kiến trúc, trang phục, ẩm thực và quan trọng nhất là hệ
thống chữ viết.
Thay thế cho những phong tục tập quán lâu đời về ăn, mặc, ở và những
phong tục truyền thống là những luồng văn hóa, luồng tư tưởng mới từ phương
Tây du nhập vào nước ta. Từ những yếu tố khách quan bên ngoài đó đã hình
14
thành lên những tầng lớp mới trong xã hội, những con người với những biểu
hiện đi ngược lại với thuần phong mỹ tục đã tồn tại trước đó rất nhiều năm như:
Me Tây, gái điếm, quan lại ăn tiền...Sau một thời gian ngắn, văn hóa tư bản
phương Tây đã nhanh chóng du nhập vào nước ta với những quan niệm sống
phóng túng, thoải mái, dung tục. Bắt đầu từ giai đoạn này tình cảm cá nhân, nam
nữ luyến ái, chuyện nam nam nữ nữ, chăn chăn gối gối, tình cảm lãng mạn được
nhắc đến nhiều hơn là vấn đề chính trị - xã hội. Chính vì điều này mà các biểu
hiện lệch lạc về tư tưởng, suy nghĩ trong tầng lớp nho sĩ xuất hiện ngày một dày
đặc và đó cũng chính là những biểu hiện của phi Nho giáo.
1.2. Khái quát về tác giả Nguyễn Khuyến
1.2.1. Cuộc đời
Như một hiện tượng lạ xuất hiện trên văn đàn văn học trung đại thời bấy
giờ, Nguyễn Khuyến là một cái tên nổi bật lên với tài năng xuất chúng, cuộc đời
thăng trầm và phong cách nghệ thuật văn chương độc đáo.
Lê mạt. Cụ gả con gái thứ tư cho ông Liễn và tạo điều kiện cho con rể mở
trường học ngay ở Hoàng Xá. Chính Nguyễn Khuyến đã cất tiếng chào đời từ
trong một ngôi nhà hướng đông, trông thẳng ra núi Quế, cách vài ba dặm đường
chim bay.
Bà mẹ Nguyễn Khuyến, theo như nhà thơ kể lại trong Gia phả, đáng là
một bậc nữ lưu mẫu mực trong khuôn khổ xã hội cũ, "tính đoan trang, trầm tĩnh,
thuận hòa" lại rất mực thương người, mọi việc nữ công gia chánh đều thông
thạo. Cả một đời bà chịu thương chịu khó phụng dưỡng bố mẹ chồng, chăm chỉ
lam làm, có lúc phải bán cả tư trang, may thuê vá mướn kiếm sống, để khuyến
khích và nuôi chồng, con ăn học, thi cử [17;40].
Năm 17 tuổi (1852), Nguyễn Khuyến dự kì thi Hương đầu tiên trong đời.
Nguyễn Khuyến tham gia nhiều cuộc thi Hương, nhưng lại lận đận trên con
đường khoa cử nên ông thi trượt nhiều năm liền. Ba khoa thi Hương liên tiếp
(1855, 1858, 1861), ông đều bị trượt. Ông đã có những câu thơ tức cảnh vào độ
ấy:
Nghĩ tôi lại gớm cái mình tôi,
Tuổi đã ba mươi kém một thôi…
… Bốn khoa hương thí không đâu cả,
Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi
16
Nguyễn Khuyến phải lận đận gần ba mươi năm trời đèn sách, với chín
khóa lều chõng, thông thường mỗi khóa cách nhau ba năm. Trong hoàn cảnh
Nguyễn Khuyến, đó là một cố gắng phi thường. Đâu phải là con đường khoa
bảng là hanh thông đối với ông. Mãi tới năm 1871, ông mới nhận cờ biển Tiến sĩ
do chính vua Tự Đức ban tặng.
Nguyễn Khuyến làm quan 12 năm: mở đầu bằng chức Đốc học rồi làm Án
sát tỉnh Thanh Hóa, Bố chánh Quảng Ngãi, được cử làm phó cho Lã Xuân Oai
trong đoàn sứ bộ qua nhà Thanh kêu xin viện binh đánh Pháp và kết thúc bằng
đời mình đầy xót xa, cay đắng:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời
(Di chúc)
Tất cả những yếu tố trên đã làm nên một cuộc đời Nguyễn Khuyến đầy
sóng gió, bất trắc nhưng cũng đầy ý nghĩa.
1.2.2. Con người
Con người Nguyễn Khuyến không chỉ tài năng, đức độ mà ông còn là một
hình mẫu nhà nho lý tưởng của xã hội phong kiến giai đoạn này.
"Nguyễn Khuyến là một học trò xuất sắc của nhà trường phong kiến, một
nhà nho ưu tú về phẩm hạnh và học vấn, nhưng ông cũng là nạn nhân của tư
tưởng Nho giáo khi nó đã lâm vào tình trạng phá sản. Bi kịch của đời ông chính
là ở chỗ đã ý thức được một cách sâu sắc cảnh ngộ bản thân trước thời cuộc.
Trong ông luôn diễn ra nỗi mặc cảm về sự bất lực trước thời cuộc, sự lỗi thời
của vai trò mình đang sắm". [38;294]
Trước bước ngoặt của lịch sử dân tộc, Nguyễn Khuyến đã quyết định cho
mình một sự lựa chọn dứt khoát: treo ấn từ quan, về làng ở ẩn. Lúc đầu Nguyễn
Khuyến gọi đó là "dũng thoái" (Rút lui một cách dũng cảm – trong bài Vũ hậu
xuân tủy cảm thành). Nhưng rồi dần dà, chính Nguyễn Khuyến cũng không còn
đánh giá quá cao hành động đó của mình. Ông tự giễu mình:
Cờ đang giở cuộc không còn như nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng!
Nguyễn Khuyến đã thú nhận cái bất lực của bản thân, và qua đó, bộc lộ
cái bất lực của một giai tầng, Nguyễn Khuyến còn cảm nhận được cả cái vô
dụng trong sở học của mình:
18
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già!
Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc nhất, ông chính là
nhà thơ của làng quê, nông thôn Việt Nam. Đọc những tác phẩm thơ ca của
Nguyễn Khuyến, chúng ta thấy được niềm băn khoăn, tâm sự của chính tác giả.
Trải qua biết bao thời đại nhưng các sáng tác của ông vẫn luôn làm người đọc
cảm thấy xót xa dù trong câu chữ luôn là những vần thơ vui tươi, yêu đời.
Nguyễn Khuyế n chủ yế u sáng tác văn chương bằ ng chữ Hán . Với mảng
thơ văn chữ Hán, Nguyễn Khuyế n đã chứng tỏ đươ ̣c sức ho ̣c phi thường, tri thức
uyên bác của min
̀ h . Song điề u hơn đời của ông la ̣i ở chỗ không chỉ là bâ ̣c túc
học, thâm nho, am tường kinh sử , Nguyễn Khuyế n còn kiêm mô ̣t tài thơ Nôm
xuấ t chúng. Thơ Nôm của ông có thể sánh với bấ t kì thi si ̃ tài danh nào trong
lịch sử văn học.
Ở tác phẩm của Nguyễn Khuyến có hiện tượng song trùng trong diễn đa ̣t
về mô ̣t hin
̀ h tươ ̣ng thơ (vừa bằ ng chữ Hán , vừa bằ ng chữ Nôm). Có thể xem đây
là những cặp tác phẩm toàn bích của một nghệ sĩ bậc thầy . Xét ở phương diện
hình thức, Nguyễn Khuyế n đã thử sức và thành công trên nhiề u loa ̣i thể : văn, thơ
luâ ̣t, hát nói, câu đố i . Ông đươ ̣c coi là người làm câu đố i cự phách nhấ t trong
làng văn học Việt Nam xưa nay [24;295].
Sự nghiệp của Nguyễn Khuyến được quan tâm và biết đến ở hai mảng lớn
đó là con đường làm quan (hay sự nghiệp trên lĩnh vực quan trường) và sự
nghiệp văn chương. Nhưng đáng chú ý hơn cả vẫn là sự nghiệp văn chương của
ông.
Điểm lại di sản thơ văn Nguyễn Khuyến hiện còn lưu truyền thì phần Hán
vẫn nhiều hơn phần Nôm. Ở Nguyễn Khuyến còn có hiện tượng đặc biệt là có
một số bài vừa có văn bản Hán, vừa có văn bản Nôm. Có thể suy đoán rằng:
Nguyễn Khuyến đã sáng tác bằng chữ Hán rồi tự mình lại dịch ra chữ Nôm,
nhưng cũng không loại trừ có bài được sáng tác trước bằng chữ Nôm, rồi thoát
dịch ra chữ Hán. Hiện tượng này chứng tỏ nhà thơ thành thạo trong việc sử dụng