BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ HỒNG TIẾNG CƢỜI TỰ TRÀO TRONG THƠ
NGUYỄN KHUYẾN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa
Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, Thư viện của
trường, các bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ Ngô Thị Phượng đã
giúp đỡ, chỉ bảo em tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 15 tháng 4 năm 2014
Nguyễn Thị Hồng
K51 ĐHSP Văn - GDCD
2.3 Tiếng cười hóm hỉnh, tươi vui của một tâm hồn giàu cảm xúc yêu thương . 38 2.3.1 Tiếng cười khi cá thể được giải thoát 38
2.3.2 Tiếng cười khi ở bên gia đình, bạn bè và làng xóm 41
Tiểu kết chƣơng 2 45
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TIẾNG CƢỜI TỰ TRÀO CỦA
NGUYỄN KHUYẾN 46
3.1 Nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ độc đáo 46
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 48
3.2.1 Ngôn ngữ 48
3.2.2 Giọng điệu 50
3.3 Thủ pháp tự trào 54
3.3.1 Cách nói ngược nghĩa 54
3.3.2 Cường điệu phóng đại 55
Tiểu kết chƣơng 3 56
PHẦN KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử đã có những thay đổi qua
từng thời kì nhất định. Đặc biệt từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, văn học đã
có sự thay đổi rõ rệt. Dòng văn học trào phúng xuất hiện nhiều tên tuổi: Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…Nguyễn Khuyến là một trong
những nhà thơ tiêu biểu nhất của dòng văn học đó. Ông cũng là một trong
những đại diện cuối cùng và lớn nhất của nền văn học Việt Nam trung đại
chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, tận mắt thấy sự thất
ông đã trở thành một nhà thơ châm biếm lớn, cười mình, cười người. Dùng tiếng
cười châm biếm để phủ định, để đưa ma cái cũ”. [21, tr.50]
Một trong những tác giả viết về Nguyễn Khuyến nhiều nhất phải kể đến đó
là nhà nghiên cứu Vũ Thanh. Trong bài Tâm trạng Nguyễn Khuyến qua thơ tự
trào, nhà nghiên cứu đã chia thơ tự trào của Nguyễn Khuyến thành hai giọng
điệu trào phúng tiêu biểu thể hiện hai loại thái độ với bản thân: Thái độ tự tin
vào bản thân và từ nghi ngờ đi đến phủ định.
Và theo nhà nghiên cứu thì “giá trị tư tưởng nghệ thuật lớn nhất ở đây là sự
phản ánh sâu sắc tâm trạng trữ tình của tác giả qua từng chặng đường đời, qua
những cảnh ngộ của cuộc sống. Những biến đổi của thời cuộc và sự trưởng
thành nhận thức của nhà thơ, từ tin tưởng chờ mong đến gan lì chai sạn, từ tin
tưởng lạc quan đến thất vọng đau khổ, từ khẳng định nhiệt tình đến hoàn toàn
phủ định”. [21, tr.267]
Cũng trong vấn đề nghiên cứu nói trên, nhà nghiên cứu Vũ Thanh đã viết:
“Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến ta thấy những bước phát triển khá lí thú của
tâm trạng tác giả qua những chặng đường đời,… Trước khi về ở ẩn thơ tự trào
Nguyễn Khuyến khác hẳn khi ông đã về Yên Đổ. Nợ thật, nghèo thật nhưng khi
nói đến điều đó chính là để chứng tỏ cái chí của mình, coi khinh vật chất tầm
thường, quyết đạt được vinh quang trên con đường khoa cử. Phần lớn tiếng cười
tự trào của giai đoạn này chưa thật sự sâu sắc, thâm túy. Khi bước vào quan
trường thì thơ tự trào đã có sự biến đổi khác hẳn là một giọng thơ ngang ngạnh
có vẻ như gàn dở (Tự trào) và tất cả như đượm một nỗi buồn triền miên đau
khổ, thất vọng, dằn vặt, đó là nỗi buồn lớn lao, hơn hẳn cái buồn của anh khóa
3
Thắng trước kia. Nếu như trước kia Nguyễn Khuyến tự khẳng định mình thì đến
bây giờ Nguyễn Khuyến phủ định mình, giễu cợt mình một cách chua chát (Vịnh
Tiến sĩ giấy). Nguyễn Khuyến lên án bọn quan lại vô đạo, không biết chăm lo
đến cuộc sống của nhân dân. Tiếng cười ở đây không chỉ mang sắc thái mua
vui, giải trí mà còn mang ý nghĩa sâu cay, thâm thúy (Ông phỗng đá) [12,
thầm để những giọt nước mắt chảy vào trong và đành cười nhạo thân phận
nhơ nháo tỉnh say, say tỉnh của mình”. [21, tr.55]
Và khi nói về nội dung thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, Trần Quốc Vượng
đã nhận định: “Nguyễn Khuyến cáo quan về quê làm một cụ nghè sống cuộc đời
như phỗng đá, anh giả điếc, mù lòa, mẹ mốc, gái góa. Sống như vậy dường như
nhà thơ muốn chạy trốn cuộc đời, chạy trốn giai cấp”. [1, tr.48]
Như vậy, nhìn một cách tổng thể cho đến bây giờ cũng đã có một số học giả
cùng với các công trình nghiên cứu về thơ tự trào của Nguyễn Khuyến. Do
những mục đích nghiên cứu khác nhau nên các tác giả, các công trình nghiên
cứu trên đã phần nào phản ánh những cung bậc, phương diện của tiếng cười tự
trào trong thơ Nguyễn Khuyến. Từ sự kế thừa, tiếp thu những phát hiện của các
học giả, tôi chọn vấn đề: “Tiếng cười tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến” để
nghiên cứu làm rõ đặc điểm, sắc thái của tiếng cười trong mảng thơ tự trào với
hi vọng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu nghiên cứu Nguyễn Khuyến – một
nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những bài thơ tự trào của Nguyễn
Khuyến. Tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến được thể hiện ở nhiều góc độ
và nhiều phương diện khác nhau.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thơ Nguyễn Khuyến có số lượng và nội dung phản ánh cuộc sống khá phong
phú và sinh động. Với thời gian, trình độ và khả năng nghiên cứu có hạn cho nên
chúng tôi chỉ tập trung làm nổi bật tiếng cười tự trào qua những tác phẩm tiêu
biểu trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến - Mã Giang Lân – NXB Giáo dục. 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khóa luận gồm ba chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung
Chƣơng 2: Tiếng cƣời tự trào trong thơ Nguyễn Khuyến
Chƣơng 3: Nghệ thuật biểu hiện tiếng cƣời tự trào của Nguyễn Khuyến 7
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
cử nhân đầu trường Hà Nội. Năm sau thi hội không đỗ ông ở lại Huế, học ở
Quốc Tử Giám chờ khoa thi khác. Năm Tân Mùi (1871), ông thi hội đỗ Hội
Nguyên, rồi thi đình đỗ Đình Nguyên, khi đó ông 37 tuổi. Vì đỗ đầu 3 khoa như
thế nên người ta gọi ông là “Tam Nguyên Yên Đổ”. Ngay trong năm 1871,
Nguyễn Khuyến được bổ làm quan ở nội các Huế. Năm 1973, làm Đốc học
Thanh Hóa, rồi thăng nhanh lên Án Sát tỉnh ấy. Năm 1874, mẹ ông mất tại tỉnh
đường Thanh Hóa, ông xin nghỉ ba năm về quê chịu tang mẹ. Mãn tang ông
vào kinh nhận chức Biện lí bộ Hộ. Năm 1877, ông làm bố chánh Quảng Ngãi.
Năm 1878, ông và các quan đầu tỉnh Quảng Ngãi bị triều đình triệt hồi. Trong
dịp này ông bị giáng phạt và điều về Sử quán. Bốn năm năm làm Quản Tu ở Sử
quán từ 1879 đến 1883, vẫn sống trong cảnh thanh bần, lại thêm đau yếu, ông
đã có tâm trạng chán ngán cảnh quan trường.
Tháng 12 - 1883, quân Pháp đánh chiếm Sơn Tây. Tổng đốc Sơn Tây lúc ấy
là Nguyễn Đình Nhuận không chống nổi, đã lên Hưng Hóa cùng Nguyễn Quang
Bích lập căn cứ kháng chiến. Lúc bấy giờ, Nguyễn Hữu Độ, Kinh lược sứ Bắc
Kỳ, nhân danh triều đình cử Nguyễn Khuyến làm Tổng đốc Sơn Tây. Nhưng ông
lấy cớ đau mắt nặng, không đi nhận chức và xin cáo quan luôn. Mùa thu năm
1884 ông trở về Yên Đổ.
Tiếng rằng làm quan với triều Nguyễn từ 1871 – 1884 song trong thời gian
ấy ông đã ở quê chịu tang mẹ ba năm. Còn khoảng mười năm thì đến hai phần
ba thời gian ông chỉ làm học quan và sử quan. Từ 1884 đến khi mất chỉ trừ một vài
năm (khoảng 1891 – 1892) buộc phải lên Thái Hà ấp (Hà Nội) làm gia sư dạy con
cả Hoàng Cao Khải là Hoàng Mạnh Chi. Gần hai mươi lăm năm ông sống ở Yên
Đổ trong cảnh thanh bần. Ông khéo léo khước từ mọi thủ đoạn mua chuộc, chèo
kéo của thực dân Pháp thông qua bọn tay sai, mời ông ra cộng tác với chúng. Một
phần tư thế kỉ về ở Yên Đổ này có ý nghĩa quyết định để nhà thơ trở thành bất tử,
khi ông sáng tác nhiều và hay gấp nhiều lần một nửa thế kỉ trước đó.
Ngày 5 - 2 - 1909 (Tức ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu) ông qua đời tại
làng Yên Đổ, thọ 75 tuổi.
sáng tác tiêu biểu cho tâm trạng nhớ nước và tiếng lòng của nhà thơ đối với quê
hương, đất nước.
10
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
(Cuốc kêu cảm hứng)
Thực ra lấy tiếng kêu con chim cuốc để kí thác tâm tư thì văn học nước
ta không chỉ có Nguyễn Khuyến, nhưng cái nỗi đau quặn thắt, da diết như
trong Cuốc kêu cảm hứng thì không ở đâu có nổi. Chính Nguyễn Khuyến
cũng là một con chim cuốc rỏ máu vì nỗi đau nước mất, tan đàn. Và cho đến
lúc sắp từ giã cuộc đời, ông vẫn nói:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời
(Di chúc)
Xuất phát từ tấm lòng yêu nước sâu nặng, Nguyễn Khuyến thể hiện rõ
thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến bằng cách ông đã
vạch trần tất cả những thói hư tật xấu của đủ mọi hạng người. Trước hết là
đám nho sĩ, quan lại. Ông gọi họ là “tiến sĩ giấy”, là “phỗng đá”, là “ anh hề
chèo”. Ông đả kích thói rởm đời, lố lăng, thứ con đẻ của xã hội thực dân bằng
một thái độ châm biếm, tố cáo sâu sắc. Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến
trở nên chua xót, cay đắng khi ông tả cảnh ngày Hội Tây:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu.
Có thể nói, cũng như các nhà thơ thuộc khuynh hướng hiện thực tố cáo giai
đoạn này, Nguyễn Khuyến đã bám vào hiện tượng cụ thể để đả kích. Từng con
người, từng hiện tượng và những sự việc lố lăng trong xã hội đều bị vạch trần và
thể hiện rõ phong cách độc đáo của ông.
thiên, Nguyễn Khuyến dùng thể văn này hay thể văn khác là tùy theo yêu cầu
của nội dung tư tưởng, của từng đề tài. Khi tự trào ông hay dùng thể thơ thất
ngôn bát cú. Vì nội dung “tự thuật” có thể thích hợp với thể thơ đường luật. Khi
viết những bài “Lời gái góa”, “Lời vợ người hát chèo”, “Khóc Dương Khuê”,
Nguyễn Khuyến lại dùng thơ trường thiên vì chỉ có thể thơ này mới cho phép
ông nói hết được ý nghĩ, tình cảm của mình.
12
Nguyễn Khuyến có học vấn uyên thâm. Ông có tài sử dụng ngôn ngữ
để xây dựng hình tượng nhưng các câu thơ vẫn đối nhau một cách nghiêm
chỉnh đúng với yêu cầu của thể thơ Đường:
Tứ canh thoan liệt chân vi khổ,
Vạn thặng thô sơ thử diệc nan
(Vịnh Lương Vũ Đế)
Hay: Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô Tửu cáo
Thương chu chi hậu hữu Tân Diên
(Tửu)
Nguyễn Khuyến là một nhà nho, tiếp xúc chủ yếu với nền Hán học nên
cũng có sự ảnh hưởng của văn thơ chữ Hán. Trong những sáng tác của mình, khi
cần phải nói hết tư tưởng thì Nguyễn Khuyến chú trọng nội dung hơn là hình
thức nghệ thuật. Do đó ở thơ văn ông, bên cạnh những câu có chữ đối chữ chan
chát, lại có những câu mà chữ với chữ không cần đối chọi nhau cho lắm. Đây
cũng là nét độc đáo của thơ văn Nguyễn Khuyến:
Tuyết hoa hữu ý tô dân mịch
Thạc thú hà cừu thực ngã miêu
(Miễn nông phu)
Nguyễn Khuyến không phải là một nhà văn viết theo cảm hứng, viết theo
một chủ đề hay một đề tài đã được định sẵn nào đó mà ông chủ yếu viết về
những đề tài tiêu biểu nhất. Hơn nữa qua một số tác phẩm chữ Hán, có bài ông
thể hiện niêm luật chặt chẽ, nghiêm chỉnh, có bài ông lại chú ý đến nội dung mà
Cha đời con đĩ cầu nôm.
(Đĩ cầu Nôm)
Những yếu tố của ca dao, tục ngữ làm cho thơ văn Nguyễn Khuyến gần gũi
với người dân, qua đó thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm của nhà thơ đối với
những kẻ đi “làm đĩ”, kiếm tiền một cách không chính đáng.
Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng thể hiện tư tưởng tình cảm của chính tác giả và
được tác giả chọn lọc rất tinh tế. Nguyễn Khuyến đã chọn ngôn ngữ có tính xác
thực gợi tả để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Đó là tình cảm chân thành,
thắm thiết: 14
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
(Khóc Dương Khuê)
Về hình ảnh, Nguyễn Khuyến thường sử dụng những hình ảnh đơn sơ,
khêu gợi thể hiện qua những chi tiết thật bình dị, sống động. Hình ảnh hoa nở,
trăng trôi, chiếc thuyền thấp thoáng, ngõ trúc quanh co, đóm lập lòe… đầy sức
sống cùng với âm thanh của tiếng muỗi, tiếng dế, tiếng ngỗng, tiếng sóng vỗ
có giá trị làm cho các câu thơ tăng sức biểu cảm:
Bóng thuyền thấp thoáng vờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà
(Vịnh lụt)
Đặc biệt, màu sắc trong thơ ông có khả năng gợi tả cao: Màu xanh của
nước, xanh của trời, xanh của ngọc, xanh của tre, màu sương chiều, màu sáng
của trăng… đã tạo nên màu sắc đậm nhạt, mờ ảo:
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Thu ẩm)
trào lộng của sự vật. Vì vậy, thơ trào phúng thường sử dụng lối nói ví von, lối
chơi chữ dí dỏm hay lời nói mát mẻ, sâu cay.
Có thể chia thơ trào phúng ra làm hai: Thơ châm biếm và thơ đả kích. Thơ
châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng nụ cười
nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc. Nụ cười đó bao hàm cả việc phê phán
lẫn tinh thần xây dựng. Thơ đả kích nhằm lột mặt nạ kẻ thù, sát phạt kẻ thù bằng
nụ cười có sức công phá mãnh liệt.
Trong bài viết Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan, tác giả Lê Thị Đức Hạnh đã chia tiếng cười trào phúng ra làm ba
loại chính:
Loại thứ nhất thường dừng ở mức khôi hài.
Loại thứ hai ở dạng mỉa mai, giễu cợt.
Loại thứ ba thuộc loại châm biếm, tố cáo, lên án.
16
Như vậy, trào phúng có nghĩa là mượn lời nói bóng gió để tạo ra tiếng cười để
kích thích người khác khiến họ nhìn ra vấn đề để tự đi đến hoàn thiện mình.
Có thể chia thơ trào phúng theo ba cung bậc sau:
- Khôi hài: Tiếng cười hiền lành, vui đùa, thường là tự trào.
- Châm biếm: Thường là chế giễu, giễu cợt với mục đích phê phán.
- Đả kích: Lên án, tố cáo mạnh mẽ, đánh thẳng vào kẻ thù.
1.2.2 Tự trào
Theo từ điển Hán Việt, “tự” là tự nhiên, tự mình không kiên cưỡng, “trào”
là cười giễu [4,tr.478].
Trong tác phẩm của Nguyễn Khuyến có hai mảng sáng tác quan trọng là kết
quả của hai nguồn cảm hứng chính: trữ tình và trào phúng. Có thể xem tự trào là
một mảng của thơ ca trào phúng việt Nam. Tuy chưa có một khái niệm nào rõ
ràng và chính xác về tự trào nhưng qua nghiên cứu và tìm hiểu có thể đưa ra
khái quát chung nhất. Tự trào là thơ làm ra để tự cười mình, đem những tâm tư,
cảm nghĩ, thói xấu của mình ra để cười nhạo chế giễu.
x
3
Uống rượu ở vườn Bùi
x
4
Về nghỉ nhà
x
5
Nghe hát đêm khuya
6
Tự trào
x
7
Tự thuật
x
8
Ngày xuân dặn các con
x
9
Lên lão
x
10
Ông phỗng đá 1
x
11
Ông phỗng đá 2
x
12
Lời gái góa
23
Chợ Đồng 18
24
Chơi chợ trời Hương Tích
25
Chơi núi Non Nước
26
Than mùa hè
27
Vịnh mùa hè
28
Thu vịnh
x
29
Thu điếu
x
30
Thu ẩm
31
Thầy đồ ve gái góa
42
Than nợ
x
43
Nước lụt Hà Nam
44
Vịnh lụt
45
Bạn đến chơi nhà
x
46
Lụt hỏi thăm bạn
x
47
Tặng bà Hậu Cẩm
48
Khóc Dương Khuê
49
Cảnh trong nhà
x
50
Khai bút
x
51
Kiều bán mình
Phú đắc
62
Đại lão
x
63
Di chúc
64
Than nghèo
x
Tổng số
64
27
Tỉ lệ (%)
100
42.2
1.3.2 Thơ chữ Hán
Số thứ tự
Tác phẩm thơ chữ Hán
Tác phẩm có xuất
hiện tiếng cƣời tự
trào
1
Thu sơn tiêu vọng
2
Thu dạ hữu cảm
Điệu quyên
13
Cảm tác
x
14
Túy ngâm
x
15
Tửu
16
Túy hậu
17
Bài muộn
x
18
Kí Châu giang Bùi Ân Niên
x
19
Thu nhiệt
x
20
Thoại tăng
21
Xuân nhật thị chư nhi
22
Úy thạch lão nhân
x
33
Trừ tịch
34
Tự thuật
x
35
Xuân nhật
36
Thủy tiên
37
Kính
38
Lão thái
x
39
Tái vị nhân đại nghĩ kỉ công bi văn,
cánh vô sở đắc, nhân phú dĩ thị