Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tìn dụng và những vấn đề pháp lí phát sinh - Pdf 49

Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

Mục lục
Trang

Đặt vấn đề……………………………………………………………………….2
Giải quyết vấn đề……………………………………………………………….2
I/ Những vấn đề cơ bản………………………………………………………...2
1. Một số khái niệm………………………………………………………...........2
2. Một số đặc điểm của hoạt động tài chính……………………………………..3
3. Các hoạt động đầu tư tài chính……………………………………………......4
II/ Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của
các tổ chức tín dụng.............................................................................................6
1. Hoạt động góp vốn, mua cổ phần…………………………………………......6
2. Hoạt động đầu tư chứng khoán…………………………………………….....12
3. Các hoạt động đầu tư khác……………………………………………………15
III/ Các giải pháp hoàn thiện…………………………………………………..19
Kết thúc vấn đề………………………………………………………………….20
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………………..........21

1


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

Đặt vấn đề
Trong lĩnh vực về hoạt động đầu tư của các tổ chức tín dụng (TCTD), đầu tư tài chính là
một kênh đầu tư ra bên ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận quan trọng cho chính mình bên cạnh
hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng, và hoạt động đầu tư bên trong (tức đầu tư vào tài

phát sinh

chính thường chỉ nhắm vào mục đích mua bán để sinh lợi chứ ít làm tăng giá trị thực của
công ty mà họ đầu tư vào.

2. Một số đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính
- Nguồn vốn đầu tư: Vậy nên dù là vốn nhiều hay ít nhưng đều bắt buộc phải có khi tổ
chức có nhu cầu đầu tư kinh doanh. Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới
khả năng hoạt động và sự phát triển của TCTD, nhất là hoạt động chi trả tiển gửi của khách
hàng. Vốn của TCTD gồm vốn tự có và vốn vay nợ. Thường thì vốn tự có của TCTD chỉ
chiếm phần nhỏ, là cơ sở để TCTD cho vay, đầu tư, và được dự trữ bắt buộc theo quy định
pháp luật; là bước đệm để TCTD đi vào hoạt động. Còn vốn vay nợ ( huy động từ nguồn
tiền gửi, vay…), các TCTD chỉ đi vay khi có nhu cầu cần thiết, chủ động được lượng tiền
vay một cách phù hợp. Vốn vay nợ của TCTD thường là các khoản vay ngắn hạn, là nguồn
vốn chủ yếu để thanh toán khi nhu cầu của khách hàng tăng cao cao, là nguồn vốn cơ bản để
tài trợ cho hoạt động đầu tư tài chính của TCTD, quyết định đến cả sự tồn tại của TCTD.
- Sử dụng vốn: việc sử dụng vốn như thế nào để đầu tư thì trước hết ta phải biết là nguồn
vốn đó ở đâu ra. Như đã biết, tiền gửi là một nguồn huy động vốn hiệu quả nhưng cũng rất
dễ gặp nhiều rủi ro. Bởi lẽ, có nhiều loại tiền gửi: tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn,
trong khi đó, hoạt động đầu tư tài chính lại chỉ có trung hạn và dài hạn. Vậy thì đối với
những khoản tiền gửi ngắn hạn hay không kì hạn, các TCTD cần phải cân nhắc tính toán
thận trọng bởi dòng tiền gửi ở hai hình thức này rất biến động, luân chuyển liên tục, khó dự
đoán được mức độ tiền được gửi. Và khi TCTD sử dụng nguồn vốn là tiền gửi ngắn hạn thì
sẽ ảnh hưởng tới khả năng chi trả cho khách hàng khi đến hạn hoặc trường hợp khách hàng
bất ngờ rút tiền đối với tiền gửi không kì hạn với số lượng lớn. Từ đó, các dự án đầu tư cũng
bị hạn chế, không được đảm an toàn trước những biến động khó lường như vậy.
Đối với khoản vốn được huy động từ nguồn tiền gửi có kì hạn hay với kì hạn trung, dài
hạn thì dường như các dự án đầu tư được bảo đảm hơn. Các TCTD có thể thoải mới hơn với
quỹ thời hạn đã thỏa thuận với khách hàng để. Dù tất cả các khoản tiền được huy động có
thời hạn, nhưng dẫu sao, với tiền gửi trung, dài hạn, thời gian dài hơn so với ngắn hạn,



Các TCTD liên kết, liên doanh với doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực về

quả lí tài sản bảo đảm, kinh doanh ngoại hối, kiều hối, bao thanh toán, phát hành thẻ tín
dụng, thẻ tiêu dùng, … Hoạt động ở hình thức này có ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank) và Cybersource - một trong những công ty dịch vụ quản lý thanh toán thương
mại điện tử lớn nhất thế giới (trực thuộc tổ chức thẻ Visa), hợp tác cung cấp “Cổng thanh
toán trực tuyến Sacombank-ePAY” dành cho các doanh nghiệp tại Việt Nam có nhu cầu triển
khai phương thức thanh toán hóa đơn dịch vụ bằng thẻ ngân hàng qua internet đến các khách
hàng sử dụng dịch vụ…


Các TCTD được góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh

vực khác nhau: bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng,… điển hình là
Ngân hàng Vietcombank tiến hành góp vốn, mua cổ phẩn dưới hình thức đầu tư dài hạn với
công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex có tỷ lệ phần trăm góp vốn là 10%, góp vốn mua cổ
phần với Công ty cổ phần Khoan và dịch vụ Khoan dầu khí chiếm tỷ lệ 4,41% …


TCTD được mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác với điều kiện và trong giới

hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước. Mới đây nhất là Eximbank mua 9,7% cổ phần của
Sacombank sau khi thoái toàn bộ hơn 8% cổ phần tại VietA Bank hồi cuối năm 2011.


TCTD được phép liên doanh với các tổ chức nước ngoài để thành lập các ngân

hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam: Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICBV) liên

và tổ chức cao, chuyên nghiệp hơn với đội ngũ nhân lực có trình độ nhất định; đồng thời
cũng tạo cho các TCTD tác phong và lối làm việc năng động qua việc trao đổi, mua bán các
loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán đầy biến động.
c)

Các hoạt động đầu tư khác

Ngoài những hoạt động đầu tư trên, nếu đảm bảo thỏa mãn đầy đủ các điều kiện mà pháp
luật quy định còn có thể tham gia hoạt động đầu tư vào thị trường tiền tệ. Đây vốn là thị
trường tài chính huy động các nguồn vốn ngắn hạn, giao dịch, mua bán các giấy tờ có giá
ngắn hạn, thường có kì hạn là dưới 1 năm. Thị trường này được đánh giá là khá rộng lớn như
thị trường ngoại hối, thị trường nội tệ, … Cùng với đó là sự đa dạng các công cụ như trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc, các giấy tờ ngắn hạn, chấp phiếu ngân hàng, chứng chỉ
tiền gửi, hợp đồng mua lại và hợp đồng mua ngược, thương phiếu. Nhìn chung, ở thị trường
này, tính thanh khoản cao, giá trị giao dịch lớn (1.000.000 $). Tham gia vào thị trường này
giúp điều hòa vốn ngắn hạn và thanh khoản cho nền kinh tế, góp phần thực hiện chính sách
5


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

tiền tệ quốc gia, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn với chi phí thấp cho Chính phủ, công ty và
các tổ chức trung gian; tạo cơ hội đầu tư vốn nhàn rỗi, tăng thu nhập, và thanh khoản cho các
nhà đầu tư.
Với tình hình nền kinh tế hiện nay, đầu tư vào thị trường ngoại tệ dường như đang là xu
hướng tăng mạnh và nhạy cảm. Ngoại tệ được hiểu theo nghĩa hẹp, không giống như ngoại
hối bao gồm tất cả các đồng tiền khác nhau hay các ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, cá phương
tiện thanh toán quốc tế như hối, phiếu, kì phiếu và các giấy tờ có giá… mà chỉ là các tiền tệ
của các nước khác nhau. Vậy nên, thị trường ngoại tệ cũng phần nào được hiểu là thị trường



Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức
khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức trên.”(Điều 4 - Luật các tổ chức tín dụng năm
2010).
Theo luật định, các TCTD bao gồm các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ
chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó:
Ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, và ngân hợp tác
xã. Tuy nhiên, không phải tất cả những TCTD đều được thực hiện hoạt động đầu tư này.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, trong nhóm ngân hàng thì chỉ có ngân hàng
thương mại (NHTM) được luật định rất rõ tại Điều 103 cho cho phép tiến hành góp vốn, mua
cổ phần:
“1. Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ
phần theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 6 Điều này.
2. Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để
thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây:
a) Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng
chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu;
b) Cho thuê tài chính;
c) Bảo hiểm.
3. Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động
trong lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh
toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín
dụng
4. Ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong
các lĩnh vực sau đây:
a) Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát

3. Công ty tài chính chỉ được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động
trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được Ngân hàng
Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
4. Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc
thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính
thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Trong khi đó, công ty cho thuê tài chính lại quy định rất rõ là: “Công ty cho thuê tài
chính không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dưới mọi
hình thức” . Đối với tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân cũng không có quy
định nào đề cập để họ được hoạt động góp vốn, mua cổ phần. Xét bản chất hoạt động thì quỹ
tín dụng nhân dân cũng như ngân hàng hợp tác xã là do các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình
tự nguyện góp vốn thành lập và chủ yếu tương trợ lẫn nhau cùng sản xuất, kinh doanh… Còn
với tổ chức tài chính vi mô hoạt động chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình có

8


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Thế nên, đầu tư góp vốn, mua cổ phiếu là hoạt động
quá mạo hiểm cho các TCTD này khi mà nguồn vốn đầu tư của họ cũng không ổn định, dồi
dào.
Ngoài ra, một điều đáng lưu ý trong hoạt động đầu tư tài chính này là về giới hạn phạm vi
góp vốn, mua cố phần.
Các giới hạn về góp vốn, mua cổ phần được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng
năm 2010 chặt chẽ hơn, được hình thành dựa trên các văn bản pháp luật khác như: Quyết
định 457/2005/QĐ – NHNN và Quyết định 34/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quy định về các tỷ
lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng kèm theo Quyết định 457/2005/QĐNHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Theo đó, tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua

dụng khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính tổ chức tín dụng đó.
- Điều 135. Góp vốn, mua cổ phần giữa các công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm
soát
1. Công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn, mua
cổ phần của nhau.
2. Công ty con, công ty liên kết của một tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ
phần của chính tổ chức tín dụng đó.
3. Tổ chức tín dụng đang là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không
được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát đó.”

Còn trong Thông tư số 13/2010/TT – NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong
hoạt động của tổ chức tín dụng quy định rất chi tiết tại Mục 4 của thông tư này:
“- Điều 15. Nguồn vốn để góp vốn, mua cổ phần
Tổ chức tín dụng chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo
quy định tại Thông tư này.
- Điều 16. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
1. Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư,
dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh
nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ
phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật.
Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên
doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án
đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ
đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó.
2. Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng:
a) Trong tất cả công ty trực thuộc tối đa không quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ
chức tín dụng.

10


dụng, hùn vốn, góp vốn chéo (góp vốn, mua cổ phần lẫn nhau) giữa TCTD với các công ty
có quan hệ về vốn liếng, tránh rủi ro cho các NHTM do sự can thiệp quá mức của các công
ty kiểm soát:

11


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

- “Điều 134. Quyền, nghĩa vụ của công ty kiểm soát
Công ty đang sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp trên 20% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có
quyền biểu quyết hoặc nắm quyền kiểm soát của một ngân hàng thương mại trước ngày Luật
này có hiệu lực; ngân hàng thương mại có công ty con, công ty liên kết (sau đây gọi tắt là
công ty kiểm soát) có quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Tuỳ thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm soát
thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên góp vốn, chủ sở hữu hoặc cổ
đông trong quan hệ với công ty con, công ty liên kết theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan;
2. Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty kiểm soát với công ty con, công ty
liên kết đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối
với các chủ thể pháp lý độc lập;
3. Công ty kiểm soát không được can thiệp vào tổ chức, hoạt động của công ty con, công
ty liên kết ngoài các quyền của chủ sở hữu, thành viên góp vốn hoặc cổ đông.”
2.

Hoạt động đầu tư chứng khoán

Cũng là một hoạt động đầu tư tài chính có tính mạo hiểm, rủi ro cao. Nhưng lợi nhuận từ
hoạt động này lại khá hấp dẫn cho các nhà đầu tư nói chung chứ không riêng các TCTD.

định và quyết định mua trái phiếu; trách nhiệm và thẩm quyền của cá nhân, đơn vị trong
việc xét duyệt, quyết định mua trái phiếu; các loại và đặc điểm trái phiếu được tổ chức tín
dụng, chi nhánh nước ngoài mua; điều kiện của trái phiếu doanh nghiệp mà tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua; các chính sách và giới hạn quản lý tín dụng, hệ
thống đo lường và quản trị rủi ro, biện pháp và quy trình xử lý rủi ro; thực hiện các tỷ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh; kiểm soát nội bộ hoạt động mua trái phiếu.”
Việc mua trái phiếu doanh nghiệp cũng phải nằm trong sự cho phép của pháp luật (Điều
7 - Thông tư số 28/2011/ TT – NHNN):
1. Tổng mức đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp được tính vào tổng mức dư nợ cấp tín
dụng đối với một khách hàng, đối với một khách hàng và người có liên quan theo quy định
tại Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định có liên quan của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định cụ thể các giới hạn mua
trái phiếu doanh nghiệp: Mua trái phiếu của một doanh nghiệp phát hành; mua trái phiếu
của một doanh nghiệp phát hành và doanh nghiệp liên quan phát hành; mua trái phiếu
doanh nghiệp có bảo đảm, không có bảo đảm; mua trái phiếu doanh nghiệp với mục đích để
bán, để đầu tư và giữ đến ngày đáo hạn.
3. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được mua trái phiếu chuyển đổi.
Xét về việc sử dụng vốn để đầu tư chứng khoán sẽ không thể bỏ qua tỷ lệ bảo đảm an
toàn về vốn khi tiến hành việc đầu tư do mức độ rủi ro được đánh giá là khá cao so với
những hoạt động đầu tư khác. Vậy nên, Thông tư số 13/2010/TT – NHNN đã đưa ra con số
tỷ lệ an toàn cho vốn tối thiểu:
13


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

“Điều 4. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
1. Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn


Hoạt động đầu tư khác

14


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

Như đã trình bày, các TCTD còn tham gia vào hoạt động đầu tư vào thị trường tiền tệ.
Tham gia vào lĩnh vực này, luật quy định chỉ có ngân hàng thương mại, công ty tài chính là
những chủ thể được phép tham gia.
“Điều 104. Tham gia thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ
chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và
các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ.
Điều 111. Các hoạt động kinh doanh khác của công ty tài chính
2. Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định tại Điều 104 của Luật này.”
Vốn là thị trường ngắn hạn, chứa đựng nhiều rủi ro nên thường thì các TCTD ( đặc biệt là
NHTM) thường sử dụng các công cụ thị trường phái sinh như: hợp đồng kì hạn, hợp đồng
hoán đổi lãi suất, hợp đồng quyền tuyển chọn để làm cân bằng trạng thái luồng tiền và cố
định các tỷ giá và lãi suất giao dịch. Tham gia thị trường tiền tệ là cách mà các NHTM phân
tán các rủi ro cũng như đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách
hàng khác nhau, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hơn nữa, ngân hàng cũng xử lí
linh động hơn trước những biến động của đồng nội tệ. Hoạt động đầu tư kinh doanh ngoại tệ
của NHTM thường tập trung vào 4 hình thức:
+ NHTM mua, bán ngoại tệ cho khách hàng để tài trợ cho thanh toán xuất nhập
khẩu thông qua hình thức tín dụng chứng từ là chủ yếu hoặc thông qua tín dụng cho vay
ngoại tệ.
+ NHTM mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho mình nhằm thực hiện


31/12/2010

Giá trị ròng Tỉ lệ sở
(Triệu đồng) hữu%

Gía gốc

Giá trị ròng Tỉ lệ sở
(Triệu đồng) hữu%

Công ty CP bất động sản
Exim

45.900

47.081

10,99

45.900

45.832

10,99

Công ty CP chứng khoán
Rồng Việt

66.474

Giá trị ghi trên
sổ(Triệu đồng)
Ngân hàng Thương mại
Sài Gòn Thường Tín

17.222

31/12/2010
Tỉ lệ sở hữu
%

110.566

Tỉ lệ sở hữu
%

289.071

8,98

110.566

8,78

0,1

Ngân hàng thương mại
CP Việt Á
Công ty bảo hiểm AAA


Thương Tín.
Sở hữu chéo ở đây là sở hữu của một pháp nhân hay thể nhân kinh doanh ngành chính
phi ngân hàng nhưng đầu tư có cổ phần đa số hay có khả năng chi phối, kiểm soát ngân hàng
đó. Hình thức sở hữu chéo cho phép ngân hàng A giấu nợ xấu của mình bằng cách không
khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (mà ngân hàng A có sở hữu) cho vay, qua đó giảm
được mức nợ xấu phải khai báo và không phải dự phòng rủi ro tương ứng. Đó cũng là một
trong những lý do khiến Ngân hàng Nhà nước khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn
bộ hệ thống ngân hàng.
Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang tồn tại các hình thức sở hữu chéo gồm: Sở
hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại nước ngoài; cổ đông
chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại, cả nhà nước lẫn cổ phần; cổ đông tại
các ngân hàng thương mại là các công ty quản lý quỹ; sở hữu của các ngân hàng thương mại
ngoài nhà nước tại các ngân hàng thương mại cổ phần; sở hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng
thương mại cổ phần; và sở hữu ngân hàng thương mại cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước và tư nhân. Thậm chí, hoạt động đầu tư còn diễn ra rất phức tạp khi mà nhiều ngân

17


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

hàng thực hiện đầu tư, sở hữu chéo nhằm “thâu tóm” các ngân hàng khác. Vấn đề này hiện
nay đang rất nhức nhối. Các ngân hàng có quy mô nhỏ cả về vốn lẫn tổ chức thường dễ bị
chèn ép, áp đảo bởi các ngân hàng lớn mạnh hơn. Điển hình là vụ thâu tóm ngân hàng
Sacombank của Habubank.
Mặc dù pháp luật đã đưa ra quy định hạn chế tỉ lệ sở hữu giữa các ngân hàng với nhau
cũng như yêu cầu các tập đoàn nhà nước phải thoái vốn khỏi các tổ chức tài chính, tín dụng
nhưng dường như NHNN vẫn chưa động chạm gì được nhiều đến mối quan hệ giữa các ngân
hàng với các doanh nghiệp tư nhân.

phát sinh

riêng cũng sẽ là đòn bẩy tích cực, là “chiếc nút” góp phần hiệu quả cho sự điều khiển của
“chiếc điều khiển” đó. Luật các TCTD 2010 khắc phục được những bất cập của Luật các
TCTD năm 1997 như vấn đề về quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm của các
TCTD; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực ngân hàng cũng như nhu cầu đa
dạng hóa, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các TCTD… Luật mới
cũng đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập và xây dựng hệ thống các TCTD hiện đại,
phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật các TCTD và
các luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh,
Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản.
- Nên mở rông hơn đối tượng của hoạt động đầu tư tài chính bên cạnh hai TCTD mà
pháp luật đã cho phép là NHTM VÀ CTTC.
- Sửa đổi pháp luật về tỷ lệ bảo đảm an toàn cho hoạt động đầu tư của TCTD một cách
phù hợp với thực tế và tình hình phát triển kinh tế của đất nước, tránh để việc các TCTD lách
luật, chui luật thực hiện các hoạt động đầu tư giao dịch vượt quá giới hạn cho phép, làm
“méo mó” nền kinh tế.
- Đưa ra quy chế kiểm soát chặt chẽ về hoạt động đầu tư của các TCTD nhằm hạn chế
tình trạng lách luật gây lũng loạn thị trường.
- Nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho hoạt động đầu tư
chứng khoán của các TCTD. Hiện nay, hoạt động này đang bị điều chỉnh tản mạn ở nhiều
văn bản khác nhau khiến cho việc tiến hành hoạt động đầu tư vào lĩnh vực này gặp nhiều hạn
chế, khó khăn: Luật TCTD, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và
Luật chứng khoán. Một khi hoàn thiện được cơ sở pháp lí đối với hoạt động đâu tư chứng
khoán, ổn định thị trường kinh tế vĩ mô sẽ tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư tham gia thị
trường chứng khoán một cách sôi động.
Ngoài ra, pháp lụât cũng cần hoàn thiện một số vấn đề khác nhằm đảm bảo hơn
nữa độ an toàn của hoạt động đầu tư chứng khoán: thành lập cơ quan chuyên môn đánh giá
các loại chứng khoán, đưa ra các quy định chặt chẽ về vấn đề hình sự hay các tội danh trên
thị trường chứng khoán như mua bán nội giá, vi phạm giấy phép phát hành, mua bán cổ


Đề 10: Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí
phát sinh

+ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
+ Thông tư số 13/2010/TT – NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
+ Thông tư số 28/2011/TT – NHNN Quy định việc tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp.
+ Quyết định 457/2005/QĐ – NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
- Các trang web:
+http://google.com
+http://www.indovinabank.com.vn/vi/gioithieu/gioithieutongquat
+http://www.sacombank.com.vn/tapdoan/Pages/Cong-ty-thanh-vien.aspx
+http://tapchitaichinh.vn

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status