1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN VIẾT SƠN
THỰC TRẠNG DINH DƢỠNG CỦA TRẺ VÀ KIẾN
THỨC, THỰC HÀNH VỀ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ
MẸ CÓ CON DƢỚI 5 TUỔI BỊ TIÊU CHẢY ĐIỀU TRỊ
NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI VĨNH PHÚC
NĂM 2016
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60 72 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Hoàng Năng Trọng
2. TS. Phạm Thị Dung
THÁI BÌNH - 2017
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC/T
Tổ chức y tế thế giới
WAZ (Weight Age Z-Score)
Cân nặng/Tuổi
HAZ (Height Age Z-Score)
Chiều cao/Tuổi
WHZ (Weight Height Z-Score)
Cân nặng/Chiều cao (Weight
Height Z-Score)
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là bệnh phổ biến, có tỉ lệ mắc cao, là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới, đặc biệt là ở
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo WHO, hàng năm trên
thế giới có khoảng 750 triệu trẻ mắc bệnh tiêu chảy, trong số đó có 5 triệu trẻ
chết. Theo công bố của Quỹ Nhi Đồng Liên hợp quốc mỗi ngày thế giới có
5000 trẻ nghèo dưới 5 tuổi chết vì tiêu chảy. Tiêu chảy là vấn đề y tế toàn
cầu, là gánh nặng kinh tế đối với các nước đang phát triển [58],[65].
Tại Việt Nam, trên 50% bệnh nhi nhập viện liên quan đến tiêu chảy
[42]. Vì vậy, chi phí y tế, thời gian, công sức của gia đình bệnh nhân đối với
bệnh tiêu chảy rất tốn kém. Do đó, tiêu chảy không những gây suy yếu tình
trạng sức khoẻ, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ, mà còn là gánh nặng cho nền kinh tế
giá thực trạng dinh dưỡng của trẻ bị tiêu chảy và kiến thức, thực hành của bà
mẹ về bệnh tiêu chảy đối với trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị tại bệnh viện.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Thực trạng dinh dƣỡng của trẻ và
kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dƣới 5 tuổi bị
tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016".
Nhằm mục tiêu:
1.
Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị
nội trú tại Bệnh viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016.
2.
Đánh giá kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về bệnh tiêu
chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị tiêu chảy điều trị nội trú tại Bệnh
viện Sản - Nhi Vĩnh Phúc năm 2016.
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tiêu chảy cấp ở trẻ em
1.1.1. Định nghĩa bệnh tiêu chảy
Theo định nghĩa của WHO: Tiêu chảy cấp là tình trạng trẻ đi ngoài
nhiều lần trong ngày (≥ 3 lần trong 24 giờ) phân lỏng, nhiều nước hoặc
phân sống.
Theo hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em của Bộ Y tế (2009) [4], [5],
[6]. Một trẻ bị tiêu chảy cần được đánh giá về:
trạng mất nước và ghi nhận là đợt tiêu chảy mới.
- Tiêu chảy trẻ em có thể dẫn tới 2 hậu quả nghiêm trọng là:
+ Trẻ có nguy cơ cao mắc bệnh suy dinh dưỡng.
+ Trường hợp nặng, không xử trí kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Tử vong
của trẻ bị tiêu chảy thường gặp ở các trường hợp cấp tính, bệnh nặng là do
mất quá nhiều nước và điện giải mà không được hồi phục kịp thời.
1.1.3. Nguyên nhân tiêu chảy
Có rất nhiều nguyên nhân gây nên bệnh cảnh lâm sàng về tiêu chảy trẻ
em dưới 05 tuổi được đề cập đến. Sau đây một số nhóm chính được coi là
trọng tâm như nhóm vi sinh vật gây bệnh, bản thân đứa trẻ giảm sức đề kháng
và một số nguyên nhân chưa rõ.
* Virus
Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe dọa đến tính mạng
trẻ em, nhất là trẻ dưới 02 tuổi, một phần ba trẻ em dưới 02 tuổi ít nhất bị một
đợt tiêu chảy do Rotavirus. Ngoài ra còn nhiều virus khác như Adenovirus
Norwlkvirus cũng gây bệnh tiêu chảy.
7
* Vi khuẩn:
Có rất nhiều chủng loại khác nhau là tác nhân gây ra bệnh tiêu chảy cấp
ở trẻ em, sau đây là một số vi khuẩn đóng góp phần lớn gây ra tiêu chảy.
- Ecoli: (Escherichia coli) quan trọng là Ecoli sinh độc tố ruột (ETEC)
gây tiêu chảy ở trẻ em dưới 3 tuổi, nhất là ở các nước đang phát triển, ở trẻ
lớn và người lớn ít gặp.
- Shigella: Shigella là tác nhân quan trọng nhất gây bệnh lỵ, được tìm
thấy 60% các trường hợp mắc lỵ, có 4 nhóm huyết thanh đó là S. dysenteria,
S.flexnery, S. boydi, S. sonnei.
cận Sahara [49]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo trong khu vực
châu Phi, bệnh tiêu chảy vẫn đang là nguyên nhân dân đầu gây tử vong và tỷ
lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới năm tuổi [48],[59]. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng
mỗi đứa trẻ trong khu vực có năm đợt tiêu chảy mỗi năm và 800.000 trẻ chết
mỗi năm vì bệnh tiêu chảy và mất nước [58]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế
Thế Giới (WHO), năm 2003 có khoảng 1,87 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do
tiêu chảy, trong đó 80% là trẻ ở nhóm tuổi từ 0 - 2 tuổi. Trung bình, trẻ dưới 3
tuổi mắc từ 3 đến 4 đợt tiêu chảy, thậm chí có những trẻ bị 8 - 9 đợt bệnh mỗi
năm [57].
Tiêu chảy chiếm 9% nguyên nhân gây tử vong của trẻ dưới 5 tuổi trên
thế giới năm 2015, nghĩa là có 14000 trẻ nhỏ tử vong mỗi ngày, 530.000 trẻ
tử vong một năm mặc dù đã có phương pháp điều trị hiệu quả và đơn giản
hơn [47],[57].
Ở các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương, tổng số trẻ tử vong dưới 5
tuổi xấp xỉ 700000 trẻ năm 2010, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân
gây ra gần 10% tổng số tử vong [61].
9
1.1.4.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tình hình tiêu chảy cũng tương tự như ở các nước đang
phát triển, tiêu chảy vẫn còn là một bệnh phổ biến ở nước ta với tỷ lệ mắc cao
và nhóm đối tượng có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi.
Theo thông báo dịch bệnh truyền nhiễm khu vực miền Bắc năm 2013,
tiêu chảy vẫn đứng hàng thứ 2 trong 5 bệnh có số người cao nhất mắc sau
bệnh cúm. Hàng năm tỷ lệ tiêu chảy cấp do vi rút Rota chiếm trên 50% từ
(44% đến 62%) tổng số trẻ em bị tiêu chảy nhập viện.
Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả về kiến thức, thực hành của
bà mẹ trong phòng chống tiêu chảy cho trẻ dưới 5 tuổi ở các tỉnh thuộc vùng
thường ngay sau khi trẻ mới bị tiêu chảy, nếu trẻ còn bú hãy cho trẻ bú nhiều
hơn bình thường, nếu mẹ thiếu sữa hãy cho trẻ uống thêm sữa bò pha loãng
gấp đôi. Cho trẻ uống các loại dịch sẵn có tại gia đình hoặc dùng ORS pha
đúng theo hướng dẫn trên bao bì cho uống dần dần trong 24 giờ nếu không
hết đổ đi, pha gói khác [4].
Lượng dịch bù cho trẻ: Nếu trẻ < 2 tuổi cho uống bằng thìa 50 - 100 ml
(1/4 - 1/2 cốc) sau mỗi lần đi ngoài. Nếu trẻ > 2 tuổi cho uống nhiều gấp đôi
(100 - 200ml), trẻ lớn cho uống tuỳ theo nhu cầu. Lưu ý dung dịch ORS
không phải là thuốc điều trị tác nhân gây bệnh.
Nếu không có sẵn ORS có thể dùng nước cháo muối thay thế và cũng
cần nhớ rằng nước cháo muối không phải là thức ăn của trẻ, không thể thay
thế cho bữa ăn bình thường được. Nếu nước cháo muối không dùng hết trong
4 giờ (mùa hè) hoặc 6 giờ (mùa đông) thì phải đổ đi vì cháo hỏng. Ngoài ra có
thể dùng một số dung dịch thay thế như: Dung dịch muối đường, dung dịch
cháo muối, nước trái cây...
Kể từ năm 2004, UNICEF và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến
cáo điều trị tiêu chảy ở trẻ em bằng cách bù dịch bị mất thông qua liệu pháp
11
bù nước đường uống. Cùng với tiếp tục nuôi ăn, dung dịch điện giải
(ORESOL) và bổ sung kẽm là những phương pháp được khuyến cáo cho điều
trị tiêu chảy. Tính sẵn có khả năng tiếp cận của các loại thuốc này để tất cả trẻ
em, đặc biệt là những người dân nghèo, nông thôn và vùngsâu, có thể cứu
sống hàng trăm ngàn trẻ em mỗi năm. Những biện pháp này đã chứng minh
hiệu quả chi phí, giá cả phải chăng và tương đối đơn giản để thực hiện. Tuy
nhiên, trên toàn thế giới, chỉ có hơn 40 phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu
chảy được điều trị bằng các liệu pháp uống bù nước và tiếp tục nuôi ăn. Vùng
áp dụng của phác đồ điều trị này thấp nhất ở vùng cận Sahara châu Phi và
Điều trị tiêu chảy đúng cách giảm nguy cơ tử vong, nhưng không làm
giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy. Cơ sở y tế là nơi tốt nhất để điều trị trẻ bị tiêu
chảy và gia đình trẻ thực hiện các biện pháp phòng bệnh tiêu chảy.
1.1.6.1. Nuôi con bằng sữa mẹ
Trong 6 tháng đầu đời, trẻ cần được bú mẹ hoàn toàn. Nên cho trẻ bú
mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi. Cho trẻ trẻ bú mẹ càng sớm càng tốt ngay sau sinh
mà không cho ăn bất cứ loại thức ăn nào khác.
1.1.6.2. Cải thiện nuôi dưỡng bằng thức ăn bổ sung (ăn sam)
Thức ăn bổ sung nên cho ăn khi trẻ 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, có thể cho
trẻ ăn thức ăn bổ sung vào bất cứ thời gian nào sau 4 tháng tuổi nếu trẻ phát
triển kém. Thực hành ăn sam tốt bao gồm lựa chọn thức ăn giầu chất dinh
dưỡng và chế biến hợp vệ sinh. Lựa chọn thức ăn bổ sung dựa vào chế độ ăn
và thực phẩm an toàn sẵn có tại địa phương. Cùng với sữa mẹ hoặc sữa khác,
phải cho trẻ ăn thức ăn nghiền nhỏ và bổ sung thêm trứng, thịt, cá và hoa quả.
Những thức ăn khác phải nấu nhừ, có rau và cho thêm dầu ăn (5 -10ml/bữa).
13
1.1.6.3. Sử dụng nước sạch
Có thể giảm nguy cơ tiêu chảy bằng sử dụng nước sạch:
- Chọn nguồn nước sạch nhất có thể.
- Không được tắm, giặt và đại tiện gần nguồn nước. Xây hố xí cách
nguồn nước ít nhất 10 mét ở phía đất thấp hơn.
- Không cho động vật đến gần nguồn nước.
- Chứa nước trong chum, vại được rửa sạch hàng ngày, có nắp đậy.
- Nếu sẵn chất đốt thì sử dụng nước đã đun sôi cho trẻ uống và chế biến
thức ăn.
1.1.6.4. Rửa tay thường quy
Dự phòng và Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.
1.2. Suy dinh dƣỡng
1.2.1. Định nghĩa suy dinh dưỡng
- Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ cân đối các
thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng
của cơ thể đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt
động xã hội [39].
- Tình trạng dinh dưỡng (TTDD): Là các đặc điểm chức phận, cấu trúc
và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng
của một cá thể là kết quả của sự ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của
cơ thể. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng
của con người khác nhau tuỳ theo giới, tuổi, tình trạng sinh lý và mức độ
hoạt động thể lực và trí lực. TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn
vào và tình trạng sức khoẻ. Tình trạng dinh dưỡng của mỗi cá thể phản ánh
15
một mức độ mà trong đó các nhu cầu sinh lý về các chất dinh dưỡng được
thoả mãn. Cân bằng giữa khẩu phần dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng cho
một trạng thái sức khoẻ tốt [37], [41].
- Suy dinh dưỡng: Là trạng thái dinh dưỡng trong đó sự thiếu hụt hoặc
dư thừa (mất cân bằng) năng lượng, protein và các chất khác gây ra hậu quả
bất lợi đến cấu trúc cơ thể/ tổ chức (hình dáng cơ thể, kích thước và thành
phần), chức phận của cơ thể và bệnh tật. Suy dinh dưỡng xảy ra khi trạng thái
cân bằng dinh dưỡng của cơ thể bị phá vỡ [43].
- Nguyên nhân suy dinh dưỡng: Do chế độ ăn thiếu về số lượng và chất
lượng, làm cho tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi
và viêm đường hô hấp cấp nặng lên. Các bệnh này làm tăng nhu cầu năng
được ăn đủ số bữa tối thiểu, trẻ 12-15 tháng không được tiếp tục cho bú là yếu
tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng thấp còi [15].
Những rối loạn dinh dưỡng nghiêm trọng thường xảy ra sau khi trẻ bị
tiêu chảy và nhiễm khuẩn đường hô hấp. Các bệnh truyền nhiễm thường cùng
tồn tại với các thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng, đây là sự tương tác tạo vòng
luẩn quẩn của suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm trùng. Bệnh tiêu chảy ở trẻ
em sinh ra từ các gia đình nghèo đói là nguyên nhân dẫn đến SDD thấp còi.
Nhiễm trùng và chế độ ăn uống không đầy đủ là nguyên nhân dẫn đến chiều
cao thấp ở người trưởng thành. Các nghiên cứu cho thấy nguyên nhân nhiễm
khuẩn có liên quan chặt chẽ với SDD thấp còi.
Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng là do sự
bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của
người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh môi trường. Người ta thấ y rằ ng tiǹ h tra ̣ng
thiếu dịch vụ chăm sóc y tế
, vệ sinh môi trường kém , không có hệ thống
nước sạch , dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn chặn đẩy lùi sẽ
làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ
[54]. Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của
bà mẹ và người chăm sóc trẻ có vai trò quan trọng trong công tác phòng
17
chống SDD trẻ em nhất là giai đoạn trẻ bị bệnh vì nó liên quan trực tiếp
đến nguy cơ suy dinh dưỡng [2],[12].
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến suy dinh dưỡng là do cơ sở hạ tầng kinh
cân nặng theo tuổi đã cải thiện tốt trong những năm qua, tuy nhiên có ít
chương trình dinh dưỡng thành công trong phục hồi suy dinh dưỡng thấp còi.
Hiện nay, SDD nhẹ cân đã được cải thiện nhiều, tuy nhiên SDD thấp
còi thể vừa và nhẹ còn rất phổ biến và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng vì ngay
cả SDD thấp còi nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong so
với trẻ em không bị SDD thấp còi. Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên mắc
bệnh nhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà còn gây
tổn thương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm quá trình
phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ. Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi
đối với sức khỏe trẻ em là tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong, chậm phát triển
về tinh thần và thể chất. Về lâu dài, suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến nhiều
chức năng cơ thể, làm suy giảm trí tuệ trẻ em, tăng nguy cơ những phụ nữ bị
suy dinh dưỡng thấp còi thời thơ ấu sinh ra những đứa trẻ sơ sinh nhẹ cân,
hiệu suất công việc không cao dẫn đến khả năng thu nhập thấp. Hậu quả của
SDD thấp còi gây ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe không chỉ ở
hiện tại mà còn tác động đến cả thế hệ sau. Các nghiên cứu cho thấy chiều cao
của các bà mẹ có liên quan rõ rệt với suy dinh dưỡng thấp còi, vì những phụ
nữ bị SDD thấp còi sẽ sinh ra những đứa trẻ so sinh nhẹ cân có nguy cơ bị
SDD thấp còi [15], [40].
1.2.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
SDD protein năng lượng ở trẻ em vẫn đang là một thách thức đối với
công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Hàng năm, có khoảng hơn chục triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong nguyên nhân
chủ yếu do các bệnh nhiễm trùng và liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng.
Tỷ lệ SDD trên thế giới hiện giảm bình quân khoảng 0,7%/năm. Khu vực
19
tuổi trong các nước kém phát triển đã làm cho số lượng trẻ em bị thấp còi
trong nước kém phát triển giảm chậm hơn so với tỷ lệ [51],[56].
Tại Việt Nam, chiến lược phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5
tuổi trong hơn 30 năm qua đã có nhiều thành tựu xuất sắc, được các tổ chức
quốc tế thừa nhận và đánh giá rất cao. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5
tuổi thể nhẹ cân đã giảm liên tục từ mức rất cao năm 1985 xuống còn 16,2%
năm 2012 và 14,1% năm 2015 là mức trung bình theo phân loại của WHO.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cũng giảm từ 59,7% năm 1985 xuống còn
29,3% năm 2010 và 24,6% năm 2015.
Trong những năm qua Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong
việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm không
đồng đều ở các vùng miền. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
đã giảm đáng kể từ 36,5% năm 2000 xuống còn 24,9% vào năm 2014, đến
năm 2015 tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn quốc 24,6 %, chỉ giảm 0,3% trong một
năm. Nhiều địa phương miền núi có tỷ lệ SDD thấp còi cao hơn hẳn vùng
đồng bằng. Trong khu vực đồng bằng tỷ lệ SDD thấp còi vùng nông thôn cao
hơn ở thành thị. Khu vực thành thị có tốc độ giảm nhanh nhất và miền núi có
tốc độ giảm chậm nhất, năm 2011 tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn ở
mức cao 29,3% và có trên 31 tỉnh thành có tỷ lệ SDD thấp còi trên 30% [16].
Đến năm 2015 tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn
quốc đã giảm nhiều xuống còn 24,6 % và còn 11 tỉnh thành có tỷ lệ SDD thấp
còi trên 30%.
Các báo cáo cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân tăng lên lúc trẻ 12 tháng tuổi,
duy trì đều ở các tháng tuổi sau đó, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ tăng dần theo
độ tuổi, tăng nhanh từ lúc trẻ 12 tháng tuổi và trẻ 12 đến 36 tháng tuổi nằm
trong số đối tượng có tỷ lệ SDD cao nhất, đặc biệt ở độ tuổi 24-36 tháng. Tại
21
tiêu chảy trẻ em dƣới 5 tuổi
1.3.1. Vai trò của bà mẹ
Bà mẹ là người mang thai và trực tiếp chăm sóc trẻ. Do vậy mọi thay
đổi bất thường của trẻ, bà mẹ là người đầu tiên phát hiện sự thay đổi đó. Vì
vậy hiểu biết của bà mẹ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc chăm sóc
sức khoẻ trẻ. Chỉ khi bà mẹ có kiến thức tốt với có thể nuôi dưỡng trẻ tốt giúp
cho trẻ phát triển khoẻ mạnh và có các biện pháp phòng bệnh tốt nhất làm
giảm khả năng mắc bệnh và tử vong của trẻ.
Ở nước ta hiện nay trình độ văn hoá đã được cải thiện, trình độ hiểu
biết của đại đa số dân chúng đã ngày càng được nâng cao. Nhưng ở một số
nơi trình độ dân trí vẫn còn rất thấp, đặc biệt là ở miền núi, nông thôn nên
kiến thức nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em của họ bị hạn chế. Vì vậy việc tuyên
truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, thực hành của bà mẹ đối với bệnh
tiêu chảy cần làm thường xuyên và tích cực hơn để giảm tỷ lệ mắc bệnh hoặc
giảm tỷ lệ bệnh nặng hơn, giảm tỷ lệ tử vog do tiêu chảy.
1.3.2. Kiến thức của bà mẹ
Trình độ học vấn và yếu tố dân tộc của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc
tiếp thu kiến thức phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc trẻ từ đó ảnh hưởng
tới nguy cơ mắc tiêu chảy. Nghề nghiệp của mẹ có ảnh hưởng tới thời gian
cho trẻ bú, thời gian và cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập hộ gia đình từ đó có
ảnh hưởng khả năng mắc tiêu chảy.
Nghiên cứu của Lê Thanh Nguyên cho rằng: Các bà mẹ nhận biết dấu
hiệu trẻ bị tiêu chảy nhiều hơn bình thường là 83,3%, dấu hiệu thay đổi tính
chất phân lỏng toàn nước 72%, dấu hiệu phân nhầy máu 16,4%, số bà mẹ biết
đúng định nghĩa tiêu chảy 10% và tính chất giàu dinh dưỡng trong thành phần
bữa ăn trẻ tiêu chảy 72,2% [27].
24
thêm chất có dinh dưỡng cao, ăn kiêng hoặc cho ăn thêm các chất theo phong
tục tập quán không có lợi cho tiến triển khỏi bệnh của trẻ. Vấn đề đưa trẻ đi
tới các cơ sở y tế của bà mẹ khi trẻ bị bệnh tiêu chảy cũng ảnh hưởng rất lớn
đến kết quả điều trị và khỏi bệnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ cả về trước
mắt và lâu dài.
Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành của bà mẹ về tiêu chảy và
bổ sung nước cho trẻ của Datta V- Ấn Độ 68% bà mẹ biết chính xác định
nghĩa tiêu chảy, trong đó, chỉ có 5,3% biết tiêu chảy dẫn đến mất nước, 60%
thực hành ORT [50].
Nghiên cứu của Manijieh Khalili về tiêu chảy trẻ nhỏ và chế độ ăn cho
thấy 64,3% bà mẹ có kiến thức tốt liên quan đến tiêu chảy, 3,7% có chế độ ăn
đúng, chỉ có 2,3% thực hành tốt [53].
Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành về bù nước muối đường
uống cho trẻ tiêu chảy dưới 5 tuổi của Famara Sillah cho thấy các bà mẹ có
học vấn có kiến thức về bệnh tiêu chảy cao hơn đáng kể, việc sử dụng dung
dịch bù nước đường uống trong thực tế còn thấp với 4%, nghiên cứu cũng cho
thấy có mối liên quan giữa tuổi mẹ và thực hành, tình trạng kinh tế, xã hội
cũng liên quan đến thực hành [52].
Nghiên cứu của Seddiqe Amini-Ranjbar và Babak Bavafa, 80% bà mẹ
không bổ sung dịch giàu dinh dưỡng cho trẻ trong thời kì tiêu chảy, hầu hết
đã bỏ qua việc cung cấ chất béo, 91% bổ sung sắt, 86% bổ sung vitamin tổng
hợp. Các bà mẹ có nguồn truyền thông bằng thông tin đại chúng thực hành tốt
hơn với các bà mẹ khác (với p