đánh giá nhận thức của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng chống SDD tại xã phước năng, huyện phước sơn, tỉnh quảng nam - Pdf 20


ĐẶT VẤN ĐỀ
Hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là một nhiệm vụ quan trọng
được Chính phủ nước ta đặt trong chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống
một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS [33]. Giảm suy dinh
dưỡng trẻ em cũng là một chỉ tiêu nằm trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X.
Mặc dù vậy, trong những năm gần đây cộng đồng y tế và dinh dưỡng
toàn cầu đã tập trung vào can thiệp tình trạng béo phì và các bệnh thiếu vi chất
dinh dưỡng đặc hiệu, nhưng suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em vẫn tiếp tục là
gánh nặng cho các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
Theo số liệu thống kê năm 2007, có 20% trẻ em dưới 5 tuổi tại các quốc
gia có thu nhập thấp và trung bình bị suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ cân. Tỷ lệ này
rất cao tại vùng Trung Nam Á và miền Đông châu Phi nơi số trẻ bị nhẹ cân lần
lượt là 33% và 28%, ước tính có đến 33% trẻ dưới 5 tuổi ở những quốc gia này
bị SDD thấp còi. Miền Đông và Trung Phi có tỷ lệ bệnh cao nhất, ước khoảng
50% và 42% bị thấp còi. Tổng số trẻ em bị ảnh hưởng bởi SDD thấp còi là cao
nhất, 74 triệu, hiện sống tại Nam Á và Trung Á. Châu Phi có 20 nước nằm trong
số các quốc gia có gánh nặng thấp còi cao nhất, 61triệu, chiếm hơn một nữa
(51%) tổng số trẻ em dưới 5 tuổi của Ấn Độ và chiếm 34% số trẻ bị thấp còi
trên toàn thế giới. Trên thế giới có 55 triệu (10%) trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể
gầy còm nặng. Phổ biến nhất ở Trung Nam Á 29 triệu trẻ. Ngoài ra còn có 19
triệu trẻ em trên thế giới bị SDD thể gầy còm rất nặng [24], [37].
Như vậy suy dinh dưỡng ở trẻ em hiện nay vẫn là vấn đề sức khoẻ cộng
đồng quan trọng hàng đầu.
Nghèo đói và thiếu kiến thức là nguyên nhân gốc rễ của suy dinh dưỡng
[21], suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn là một vòng luẩn quẩn vừa là nguyên
1

nhân, vừa là hậu quả, suy dinh dưỡng trẻ em càng cao thì giống nòi càng kém
phát triển về thể lực và trí tuệ.

việc thoả mãn nhu cầu, bữa ăn còn đem lại cho người ta niềm thích thú. Ăn là
một yếu tố của sự phát triển. Tuy nhiên những người thầy thuốc qua quan sát
người bệnh đã sớm thấy rõ được mối liên quan giữa chế độ ăn và sức khoẻ.
Tình trạng đói ăn hoặc cung cấp thức ăn không đầy đủ các chất dẫn đến giảm
cân, gầy còm, hậu quả trẻ chậm phát triển đã được biết hàng thế kỷ nay. Hầu hết
các thầy thuốc đầu thế kỷ 20 đã công nhận rằng thiếu ăn gây ra sự chậm phát
triển ở trẻ em, song ở dạng này của SDD thường không được mô tả như một hội
chứng bệnh, trừ khi nó dẫn đến gầy còm trầm trọng .
Năm 1908, Cotrea đã gọi suy dinh dưỡng là bệnh “rắn nhỏ” vì trẻ em mắc
bệnh có thể nhỏ bé, da có lằn màu sẫm lẫn màu nhạt như da rắn [19].
Đầu những năm 30, Cicely William đang làm việc tại Ganna đã dùng thuật
ngữ “Kwashiorkor” sử dụng từ địa phương mà có nghĩa là “bệnh của những đứa
trẻ bị bỏ rơi” [15], để mô tả một hội chứng mà trước đó thường lầm tưởng với
bệnh “Pellagra”.
Tổ chức y tế thế giới đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát ở Châu Phi và bệnh
suy dinh dưỡng protein năng lượng đã nhanh chóng được coi là bệnh dinh
dưỡng quan trọng nhất trên thế giới [15].
Vào năm 1959, thuật ngữ “SDD protein - calo” được sử dụng để chỉ những
dạng thiếu protein, thiếu năng lượng và dạng trung gian của hai dạng trên [15].
3

Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên gọi “SDD protein - năng lượng” vì mối
liên quan giữa thể phù và thể đét. Từ đó thuật ngữ Suy dinh dưỡng Protein -
năng lượng (Protein - Energy - Malnutrition) thay thế các thuật ngữ trước.
Năm 1978, Tuyên ngôn Alma Ata của tổ chức y tế thế giới đã coi dinh
dưỡng hợp lý và tạo thêm nguồn thực phẩm là một trong các hoạt động then
chốt để đạt được mục tiêu sức khoẻ cho mọi người ở năm 2000.
Năm 1992, Hội nghị cấp cao về dinh dưỡng toàn thế giới họp tại Roma đã
kêu gọi các quốc gia có kế hoạch hành động cụ thể nhằm xoá nạn đói và nâng
cao hiểu biết về dinh dưỡng [17].

Đối với nước ta tình hình SDD vẫn còn cao, sau nhiều năm chiến tranh tỷ lệ
SDD ở trẻ em Việt Nam rất cao 51,2% vào năm 1985, và năm 1995 là 44,9%.
Trong vòng 10 năm (1985 - 1995) bình quân mỗi năm giảm 0,6%, đây là giai
đoạn điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn. Trong giai đoạn 1995 - 2005
với sự ra đời của Kế hoạch hành động Quốc gia về dinh dưỡng cùng với điều
kiện kinh tế xã hội được cải thiện thì tỷ lệ SDD trẻ em giảm xuống còn 25,2%
năm 2005 và bình quân giảm 1,9%/năm [37].
Theo Viện dinh dưỡng năm 2007 cả nước còn 21,2% trẻ em dưới 5 tuổi
SDD, trong đó Độ I: 18,3%, Độ II:3,8%, Độ III: 0,1% [24].
Mặc dù tỷ lệ SDD đã giảm, song không đồng đều giữa các khu vực, Đông
Nam Bộ là 17,9%, đồng bằng sông Cửu Long là 20,7%, Nam Trung Bộ là
20,7%, Đông Bắc là 23,8%, Tây Bắc là 27,2%, Bắc Trung Bộ là 25,0%,cao nhất
vẫn là Tây Nguyên 31% [24].
1.2.3. Tình hình suy dinh dưỡng ở tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh nghèo với dân số trên 1,8 triệu người đa phần
người dân sống bằng nông nghiệp, gồm 17 huyện và thị xã, trong đó có 6 huyện
5

miền núi, trong đó có 03 huyện đặc biệt khó khăn là (Nam Trà My, Phước Sơn,
Tây Giang).
Theo báo cáo của mục tiêu Quốc gia PCSDD năm 2000 thì tỷ lệ SDD của
trẻ em dưới 5 tuổi ở Quảng Nam tương đối cao là 35,7%. Vào những năm 2005
tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,3%; năm 2006 là 21,4%; năm 2007 là
19,2%. Trung bình mỗi năm giảm 2,4% [32], [33].
1.2.4. Tình hình suy dinh dưỡng huyện Phước Sơn
Phước Sơn là một huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam với dân số
21.615 người, với 15 dân tộc anh em sinh sống, bao gồm 11 xã và 1 thị trấn, là
một trong 61 huyện nghèo nhất nước theo Quyết định 30a của Thủ tướng Chính
phủ. Tỷ lệ SDD của toàn huyện qua các năm như sau: 2005 là 27,6%; năm 2006
là 26,4% năm 2007 là 23,9%, hiện nay 22% [25]. Trong đó xã Phước Năng qua

dài dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ [15].
- Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thường
của cơ thể không đáp ứng bình thường [34].
- Suy dinh dưỡng tiên phát khi suy dinh dưỡng do thiếu về số lượng hay
chất lượng thực phẩm cung cấp [34].
- Suy dinh dưỡng thứ phát nếu thực phẩm cung cấp đủ về chất và lượng
nhưng người bệnh không muốn ăn do rối loạn hấp thu hoặc do tăng chuyển hoá
bất thường hoặc sai lạc về chuyển hoá học hoặc có sự mất mát bất thường khiến
cho nhu cầu dinh dưỡng bên trong cơ thể vẫn bị thiếu hụt [34].
1.5. PHÂN LOẠI VÀ MỨC ĐỘ SUY DINH DƯỠNG
Từ lâu suy dinh dưỡng được phân theo nhiều cách:
1.5.1. Dựa vào lớp mỡ dưới da ở 3 nơi: bụng, mặt và mông. Cách phân loại
không được chính xác và ít áp dụng rộng rãi vì hiện tượng mất tổ chức mỡ dưới
da xảy ra sớm và nhanh trong suy dinh dưỡng do thiếu năng lượng [19].
7

1.5.2. Suy dinh dưỡng dựa theo vòng cánh tay: Vòng cánh tay phát triển nhanh
trong năm đầu rồi từ 1-5 tuổi hầu như không thay đổi và trên 13,5 cm. Không
thường dùng do có nhiều hạn chế như cách trên [19].
1.5.3. Phân loại SDD theo tiêu chuẩn cân nặng (P):
1.5.3.1. Phân độ theo GOMEZ (1965) Dựa theo tỷ lệ P hiện có so với chuẩn
tính theo tuổi hiện tại của trẻ chia thành 3 độ SDD (90%, 75%, 60%) [19].
1.5.3.2. Phân độ theo WHO cũng dựa vào tỷ lệ P thực /P chuẩn như GOMEZ
nhưng chia làm 4 độ (90%, 80%, 70%, 60%) [19].
1.5.3.3. Phân độ theo Việt Nam: Tháng 10/1987 Việt Nam đề nghị phân loại
như WHO nhưng để tránh lẫn lộn người ta đề nghị dùng độ lệch chuẩn với quy
ước 1SD = 10% P chuẩn để việc diễn tả được dễ dàng hơn [19].
1.5.3.4. Phân độ suy dinh dưỡng theo WELLCOME (1969) [19].
Cách phân độ suy dinh dưỡng theo cân nặng như trên tuy thuận lợi nhưng
có mặt hạn chế là trong trường hợp suy dinh dưỡng do thiếu đạm thì bệnh nhân

như tại thời điểm đó. Chỉ tiêu này có ích cho việc xác định mức độ chung về
quy mô của thiếu dinh dưỡng và các thay đổi theo thời gian.
+ Thể còi cọc (Stunting) hay chiều cao theo tuổi thấp là biểu hiện của sự
chậm phát triển kéo dài hay một dấu hiệu của sự chậm lớn trong quá khứ.
+ Thể gầy còm (Wasting) cân nặng theo chiều cao của trẻ tụt xuống, phản
ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp tính do không lên cân hoặc đang tụt cân.
1.6. NGUYỄN NHÂN SUY DINH DƯỠNG
Ngày nay người ta biết rõ “SDD luôn luôn là vấn đề sinh thái”, là kết quả
tổng hợp của nhiều yếu tố nguyên nhân cùng tác động trong một môi trường
sinh thái xã hội ở mỗi địa phương và nguyên nhân gốc rễ của nó là đói nghèo và
thiếu kiến thức [30].
Người ta chia nguyên nhân suy dinh dưỡng ra làm 2 nhóm nguyên nhân
chính:
1.6.1. Nguyên nhân trực tiếp
1.6.1.1. Dinh dưỡng: Chủ yếu là nuôi trẻ không đúng cách như thiếu về số
lượng, chất lượng, thức ăn không phù hợp với lứa tuổi, cai sữa hay chế độ ăn bổ
sung không đúng cách, kiêng khem quá mức trong thời gian trẻ bị bệnh.
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề là do bà mẹ thiếu kiến thức về dinh dưỡng.
Nguyên nhân này chiếm 60% suy dinh dưỡng.
1.6.1.2. Nhiễm khuẩn:
9

- Nhiễm khuẩn tiên phát: Hay gặp ở trẻ sau khi bị sởi, ho gà, lao sơ nhiễm,
nhiễm trùng đường tiểu tái diễn, phế quản phế viêm, nhiễm ký sinh trùng đường
ruột.
- Nhiễm khuẩn thứ phát: Trẻ bị SDD rất dễ bị nhiễm trùng và làm cho tình
trạnh này ngày càng nặng hơn.
- Nhiễm trùng có thể gây ra chán ăn, làm giảm thu nhận, hấp thu và sử dụng
chất dinh dưỡng gây ra SDD [37]. SDD làm giảm sức đề kháng của cơ thể càng
làm cho trẻ dễ bị nhiễm trùng. Đây là một vòng xoắn bệnh lý.

SDD là hoạt động của toàn xã hội, của sự phối kết hợp nhiều ngành, nhiều cấp
trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ đạo.
1.7. PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
- Suy dinh dưỡng là vấn đề dinh dưỡng cộng đồng quan trọng nhất hiện nay
trên thế giới cũng như ở nước ta. Nghèo đói và thiếu kiến thức là nguyên nhân
gốc rễ của SDD, chính vì nghèo đói mới phải phòng chống suy dinh dưỡng
(PCSDD). Cần phải làm ngay những việc có thể làm được và biến những việc
cần phải làm thành những việc có thể thực hiện được. Do nguyên nhân phức tạp
nên chiến lược phòng chống SDD phải là một chiến lược lồng ghép trong đó vai
trò phụ nữ và hộ gia đình rất quan trọng.
Cần làm cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của bệnh, đẩy mạnh công tác
giáo dục SK cho các bà mẹ, chú trọng đến giáo dục dinh dưỡng.
Việc phát hiện và điều trị trẻ SDD nhẹ và trung bình rất quan trọng.
Muốn hạ thấp tử vong của SDD thì phải thu nhận và điều trị SDD nặng.
Vì nguyên nhân trực tiếp của SDD là thiếu dinh dưỡng nên trong mọi thể
SDD việc ăn uống phải được xem là phương tiện điều trị chủ yếu và được coi là
“ăn điều trị” [34].
1.7.1. WHO đề ra chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu gồm 8 nội dung
(ELEMENTS) và Việt Nam thêm hai nội dung:
1- Giáo dục sức khoẻ.
11

2- Chữa bệnh tại nhà và xử lý vết thương thông thường.
3- Chương trình tiêm chủng mở rộng.
4- Kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc bà mẹ và trẻ em.
5- Đảm bảo thuốc thiết yếu.
6- Cải tiến bữa ăn, dinh dưỡng hợp lý, vệ sinh thực phẩm.
7- Phòng và chống các bệnh xã hội và bệnh dịch.
8- Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường.
9- Quản lý sức khoẻ.

bệnh nhiễm khuẩn. Do vậy, đây là giai đoạn cần có sự chăm sóc đặc biệt.
- Các hoạt động ở xã cần cụ thể trên cơ sở một nội dung chăm sóc SDD thiết
yếu đó là:
+ Bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu.
+ Ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 6 và tiếp tục bú mẹ đến 24 tháng.
+ Cung cấp đủ Vitamin A cho bà mẹ và trẻ em.
+ Bà mẹ có thai dùng viên sắt Folic.
+ Chăm sóc dinh dưỡng trong và sau khi mắc bệnh.
+ Phòng chống các bệnh giun sán.
+ Theo dõi tăng trưởng và giáo dục truyền thông dinh dưỡng.
Ngoài ra còn khuyến khích các gia đình sử dụng muối iode.
- Cần có sự phối hợp liên ngành một cách chặt chẽ ở từng cấp. Ở các địa
phương cần có sự chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp chính quyền, sự phối hợp của
các ban ngành đoàn thể. Mục tiêu hạ thấp tỷ lệ SDD trẻ em cần trở thành mục
tiêu phấn đấu cũng như xây dựng kế hoạch của từng địa phương.
- Tăng cường công tác theo dõi, giám sát các hoạt động và đánh giá các hiệu
quả can thiệp thực hiện mục tiêu PCSDD trẻ em.
Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng cho giai đoạn 2001 - 2010:
13

Ngày 22/02/2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược về dinh
dưỡng giai đoạn 2001 - 2010 (Quyết định số 21/2001/QĐ-TTg) với các giải
pháp và chính sách sau [28].
1. Cải thiện dinh dưỡng và chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm:
- Giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn dân.
- Đảm bảo an ninh thực phẩm ở cấp gia đình.
- Phòng chống SDDPNL ở trẻ em và bà mẹ.
- Phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng.
- Phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng.
- Lồng ghép hoạt động dinh dưỡng trong CSSKBĐ.

* Sản lượng lương thực có hạt 312 tấn, 95% số hộ làm nông nghiệp (làm
ruộng và làm rẫy). Tỷ lệ hộ đói nghèo trên toàn xã là 69,4%, trong đó hộ đói
38,1% và hộ nghèo 31,3% .
* Trạm y tế nằm ở trung tâm của xã, gần đường Hồ Chí Minh, hoạt động
dưới sự lãnh đạo của Trung tâm y tế huyện và Uỷ ban nhân dân xã. Trạm có 05
cán bộ y tế gồm 01 Bác sỹ, 03 Y sỹ và 01 nữ hộ sinh, mỗi thôn có 01 nhân viên
y tế thôn bản được đào tạo 3 tháng.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu ngang, mô tả [8],.
2.2.2. Thu thập thông tin
Dựa vào công cụ thu thập thông tin bằng phiếu câu hỏi phỏng vấn các bà
mẹ, cân, thước đo.
2.2.2.1. Các nội dung cần thu thập
15

+ Tuổi của trẻ và mẹ
+ Cân nặng của trẻ và mẹ
+ Chiều cao của trẻ và mẹ
+ Số con trong gia đình
+ Giới
+ Dân tộc
+ Vấn đề bú mẹ
+ Ăn dặm
+ Tình trạng lúc sinh
+ Nghề nghiệp
+ Trình độ văn hóa của mẹ
+ Hiểu biết của mẹ về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ
+ Ăn uống của mẹ lúc có thai và cho con bú
+Tuổi mang thai đầu tiên

- Thời điểm nghiên cứu là 03/2009
Kỹ thuật thu thập cân nặng và chiều cao [3].
- Đo cân nặng:
+ Dùng cân MODEL MP 25, được sản xuất tại Anh với 25kg, sai số 100g.
+ Đặt cân ở vị trí bằng phẳng, chỉnh cân về số 0 trước khi cân. Hàng ngày
kiểm tra độ nhạy, độ chính xác của cân.
+ Chuẩn bị nơi cân:
Dùng dây thừng buộc trên cánh cửa lớn ra vào, sau đó móc cân vào sao
cho mặt đồng hồ ngang với mắt của người cân để dễ quan sát và đọc kết quả.
Phần dưới cân được móc vào một chiếc nôi để trẻ có thể nằm vào. Người cân
17

phải chủ động trừ ngay trọng lượng cân (nếu cần đặt thêm gối hoặc đồ chơi để
được tròn số).
+ Kỹ thuật cân:
Khi đặt trẻ vào nôi cần dỗ trẻ. Bỏ giày dép, mũ, khăn tả (nếu có), đọc
nhanh kết quả khi kim đồng hồ đứng yên. Kết quả được ghi theo đơn vị kg với
một số lẻ.
- Đo chiều cao đứng ở trẻ từ 2- 5 tuổi:
+ Dụng cụ : Sử dụng thước đo Somatometre, 04,116 microtoise của Pháp
+ Chuẩn bị nơi đo:
Thước được kéo ra hết hoàn toàn, nơi đầu trên của thước được cố định
bằng chiếc đinh gắn trên tường nhà với mặt nền nhà bằng phẳng, không gồ ghề.
Phần dưới của thước có thể di chuyển lên xuống để đo chiều cao đứng của trẻ.
+ Cách đo:
Cho trẻ bỏ guốc dép, đứng quay lưng vào tường. Gót chân, mông, vai và
đầu theo một đường thẳng đứng áp sát vào tường, mắt nhìn thẳng về phía trước
theo một đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng hai bên mình. Dùng phần di
chuyển của thước gọi là phần chắn đầu áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo,
chú ý bỏ cặp, cài tóc của trẻ nữ để có số đo chính xác. Đọc kết quả và ghi số

2.2.3. Phân loại tình trạng dinh dưỡng
Cách phân loại và nhận định các chỉ tiêu nhân trắc được sử dụng có tính
chất quốc tế về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em [3].
2.2.3.1. Cân nặng theo tuổi
Cân nặng theo tuổi của mỗi lứa tuổi được so sánh với cân nặng của trẻ
cùng tuổi, cùng giới của quần thể tham chiếu quốc tế NCHS. WHO đề nghị lấy
19

im ngng di 2 lch chun (-2SD) so vi qun th tham kho NCHS
coi l SDD. Thang phõn loi cỏc mc suy dinh dng nh sau:
T di - 2SD n - 3SD : Suy dinh dừng 1 (va)
T di - 3SD n - 4SD : Suy dinh dng 2 (nng)
Di - 4SD : Suy dinh dng 3 (rt nng)
Nhng tr cú cõn nng mc - 2SD tr lờn c coi l bỡnh thng.
2.2.3.2. Chiu cao theo tui
Chiu cao c so sỏnh vi tr cựng tui, cựng gii ca qun th tham
kho NCHS. Thang phõn loi da theo lch chun nh sau:
T - 2SD tr lờn : Coi l bỡnh thng
T di - 2SD : Suy dinh dng 1(va)
Di - 3SD : Suy dinh dng 2 (nng)
2.2.3.3. Cõn nng theo chiu cao
Cỏc im ngng ging 2 ch tiờu trờn. Khi c hai ch s chiu cao theo
tui v cõn nng theo chiu cao u thp hn im ngng ngh, a tr b
SDD th phi hp va gy cũm va cũi cc.
2.2.3.4. ỏnh giỏ tỡnh trng dinh dng ca m
Ch s khi c th (BMI) c tớnh theo cụng thc:
2
(cm)) cao (Chióửu
(kg) Cỏn nỷng


+ Kinh t xp theo nhúm n, v thiu n
+ Dõn tc bao gm:
- Ngi Kinh v
- Ngi thiu s
+ Thi gian cho bỳ c nhúm thnh;
- >30 phỳt v
- 30 phỳt
+ Thi gian n dm nhúm thnh:
21

- <6 tháng và
- ≥ 6 tháng
+ Thời gian cai sữa nhóm thành:
- <12 tháng và >24 tháng
- 12 - 24 tháng
• Sử dụng tets χ
2
khi so sánh ≥ 2 tỷ lệ quan sát.
- Chỉ định dùng test khi bình phương (χ
2
):
Khi muốn so sánh sự khác nhau giữa các tỷ lệ của các sự kiện nào đó ta
có thể nhìn vào tỷ lệ thực của nó (ví dụ 50 %> 45%). Tuy nhiên, trong nghiên
cứu khoa học ta luôn luôn phải trả lời thêm câu hỏi là sự khác biệt giữa các tỷ lệ
này có ý nghĩa thống kê hay không? Bằng cách sử dụng test χ
2
, ta có thể trả lời
được câu hỏi này.
- Công thức tính nhanh χ
2

Yếu tố khảo sát Mức độ Số bà mẹ Tỷ lệ %
Dân tộc
Kinh 17 8,3
Dân tộc 188 91,7
Tổng 205 100
Văn hoá
≤ cấp I 155 75,6
≥ cấp II 50 24,4
Tổng 205 100
Nhận Xét:
- Phần lớn là các bà mẹ là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 91,7%.
- Tỷ lệ bà mẹ có học vấn ≤ cấp I chiếm 75,6%, cao gấp 3.5 lần so với bà mẹ
có trình độ văn hóa ≥ cấp II 24,4%.
3.1.2. Đặc điểm kinh tế gia đinh
Bảng 3.2. Đặc điểm kinh tế gia đình
Yếu tố khảo sát Mức độ Số hộ Tỷ lệ %
Kinh tế Thiếu ăn 145 70,7
Đủ ăn 60 29,3
Tổng 205 100
Phương tiện Radio-Tivi 113 58,5
Xe máy 63 32,6
Nhận xét: - Tỷ lệ hộ nghèo : 70,7 %, cao gấp 2.2 lần so với hộ đủ ăn
3.2. PHÂN BỐ TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG
3.2.1. Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cân nặng / tuổi theo nhóm tuổi
Bảng 3.3.Phân bố tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD cân nặng / tuổi theo nhóm
tuổi
23

Nhóm
tháng tuổi

Tỷ lệ %
Nhóm tuổi

36- < 48 49 25 51,0 38,8 12,2
48- < 60 50 24 48,0 38,0 10,0
Tổng 205 88 42,9 32,7 10,2
p <0,01 -
Nhận xét:
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 42,9%; mức độ nặng là
10,2% và mức độ rất nặng là không có.
- Tỷ lệ SDD ở nhóm tuổi cao nhất là 12 - < 24 tháng tuổi chiếm 58,1% và
thấp nhất ở lứa tuổi 0 - < 12 tháng tuổi chiếm 11,1%.
Biểu đồ: 3.2. Phân bố tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD chiều cao / tuổi
theo nhóm tuổi
3.2.3. Trẻ em dưới 5 tuổi SDD cân nặng / chiều cao theo nhóm tuổi
Bảng 3.5. Phân bố tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD cân nặng / chiều cao theo
nhóm tuổi
Nhóm tháng tuổi Số trẻ cân đo Suy dinh dưỡng
Số lượng Tỉ lệ %
0- < 12 27 01 3,7
12- < 24 31 00 0,0
24- < 36 48 02 4,2
36- < 48 49 01 2,0
48- < 60 50 02 4,0
Tổng 205 06 2,9
Nhận xét:
25
Nhóm tuổi
Tỷ lệ %


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status