1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành Y tế nước ta đang trên đà phát triển và hệ thống chăm sóc sức
khỏe cũng đang phát triển đa dạng với nhiều thành phần, nhiều loại hình cung
cấp các dịch tư vấn và khám chữa bệnh (KCB). Đồng thời ngành Y tế nước ta
cũng đang phải đối mặt với thách thức là y tế phải đáp ứng nhu cầu chăm sóc
sức khỏe ngày càng cao, khám chữa bệnh với kỹ thuật y tế chất lượng cao,
song song là phải quan tâm đến chăm sóc sức khỏe người nghèo, người cận
nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, vùng khó khăn, vùng sâu,
vùng xa.
Theo thống kê của Bộ Y tế vào năm 2014 cho thấy tình trạng sức khỏe
người dân Việt Nam trong những năm gần đây đã được cải thiện đáng kể, trong
đó tuổi thọ, tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, tử vong trẻ 5 tuổi, tỷ lệ suy dinh dưỡng
có tỷ lệ đạt tốt hơn so với các nước đang phát triển ở Châu Á. Từ năm 1999
đến năm 2010, gánh nặng bệnh tật do các bệnh truyền nhiễm, các vấn đề sức
khỏe, trẻ chết chu sinh và rối loạn dinh dưỡng giảm từ 45,6% xuống 20,8%.
Đồng thời gánh nặng bệnh tật do các bệnh không lây nhiễm tăng từ 42% lên
66%. Trong nhóm các bệnh không lây nhiễm gánh nặng bệnh tật chủ yếu là do
ung thư, bệnh tim mạch, bệnh xương khớp, tai nạn, chấn thương,… Bên cạnh
đó là gánh nặng bệnh tật của các bệnh có thể phòng được bằng vác xin như
rubella, sởi, virut ROTA, phế cầu khuẩn và màng não cầu vẫn còn đáng kể [2].
Một trong những thách thức đối với ngành y tế hiện nay là hệ thống
cung ứng dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế. Hệ thống y tế dự phòng và dịch vụ
cơ bản chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em hiện nay đang phân mảnh, chia cắt
giữa các tuyến giữa y học dự phòng và khám chữa bệnh; dịch vụ chăm sóc
sức khỏe để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của thanh niên về truyền thông giáo dục
về lối sống lành mạnh và chăm sóc sức khỏe tình dục và sinh sản vẫn chưa
2
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cƣơng về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em
1.1.1. Một số khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu
Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử khám bệnh, thăm khám
thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức
năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được
công nhận [30].
Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã
được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cấp cứu, điều trị,
chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [30].
Cơ sở khám, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp
phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh [30].
Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh: là số tiền phải trả cho mỗi dịch
vụ khám chữa bệnh [30].
Tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh y tế công lập: là khả năng mà
người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh có thể sử dụng dịch vụ tại nơi cung
cấp dịch vụ khám chữa bệnh y tế công lập [30].
Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh y tế công lập: là những người khi
có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến khám chữa bệnh,
mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh
nào do các cơ sở y tế công lập [30].
Công bằng trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh: sự
đối xử, sự đáp ứng theo yêu cầu của mỗi người hay mỗi nhóm người khi có
nhu cầu khám chữa bệnh thì được sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh theo
hướng mọi người có bệnh như nhau sẽ được chăm sóc y tế như nhau, không
phụ thuộc vào khả năng chi trả [30].
5
Tăng cường sức khỏe, dự phòng và phục hồi sức khỏe: Chăm sóc sức
khỏe ban đầu giúp người dân nâng cao ý thức trong phòng bệnh, thay đổi
những hành vi có hại cho bản thân và cộng đồng thành những hành vi có lợi.
Cần chú ý đến dự phòng những bệnh dịch và bệnh không gây dịch trong cộng
đồng. Hiện nay, những bệnh không lây trong cộng đồng ngày càng phát triển
do đời sống người dân ngày được cải thiện, những thói quen không có lợi
trong trong sinh hoạt ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Cần
có những chuyên đề, đề cập tới cách phòng bệnh trên kênh truyền thông bằng
những hình thức đơn giản giúp cho người dân hiểu rõ cách phòng bệnh tốt
nhất. Nhân viên y tế cần giúp cộng đồng sử dụng các phương tiện hiện có để
nâng cao sức khỏe phù hợp với túi tiền và hoàn cảnh của họ.
Sự tham gia của cộng đồng: Hội nghị Alma Ata coi sự tham gia của
cộng đồng như là nhân tố cơ bản trong chăm sóc sức khỏe. Sự tham gia của
cộng đồng rất đa dạng trong đó các cá nhân trong cộng đồng nhận thức rõ
trách nhiệm của họ trong chăm sóc sức khỏe. Khi có sự đồng thuận của cộng
đồng thì chínhhọ cần quyết định những điều họ mong muốn và đưa ra các giải
pháp để đạt được điều đó. Khi người dân tự nguyện tham gia đóng góp vào
các phong trào bảo vệ sức khỏe cho chính mình và cộng đồng thì các phong
trào đó mới được duy trì lâu dài. Sự tham gia của cộng đồng là một trong
những nội dung quan trọng nhất của chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Kỹ thuật thích hợp: Áp dụng các kỹ thuật y tế thích hợp đáp ứng yêu
cầu phục vụ người bệnh tại cộng đồng, được người dân chấp nhận và duy trì
các chăm sóc. Kỹ thuật phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng nơi điều
này giúp cho sự chăm sóc thực thi có hiệu quả.
Phối hợp liên ngành: Ngành y tế không thể giải quyết tất cả các vấn đề
nếu không có sự vào cuộc của tất cả các ban ngành. Ngành y tế là ngành dịch
tác động rất lớn đến sự an toàn của người mẹ mà mỗi thai kỳ phải khám ít
nhất 3 lần.
7
- Khám thai lần 1 được thực hiện trong 3 tháng đầu với mục đích là xác
định có thai, phát hiện những bất thường và biến chứng sớm như dị tật
thainôn nặng hoặc các bệnh lý gây chảy máu.
- Khám thai lần 2 vào 3 tháng giữa để đánh giá sự phát triển của thai và
phát hiện thai nghén có nguy cơ cao, tiêm phòng uốn ván.
- Khám thai lần thứ 3 vào 3 tháng cuối phát hiện những biến chứng
muộn và xác định khoảng thời gian sinh và nơi sinh.
Việc khám và quản lý thai nghén là rất cần thiết để phát hiện kịp thời các
nguy cơ như thể trạng mẹ không đảm bảo,các bệnh lý của người mẹ có sẵn
cũng như mới xuất hiện do thai nghén lần này như tiền sản giật, thiếu máu.
* Tiêm phòng uốn ván: Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản
khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ
sinh. Để dự phòng tai biến này, khi có thai các thai phụ cần đi khám thai sớm
và khám thai định kỳ đủ 3 lần trở lên, qua khám thai cán bộ y tế sẽ giúp thai
phụ tiêm phòng uốn ván, đồng thời kiểm tra xem việc tiêm phòng uốn ván
có được thực hiện đầy đủ không.Để phòng uốn ván cho bà mẹ và trẻ sơ sinh,
có 2 nội dung cần phải làm:
+ Tiêm vacxin phòng uốn ván: mũi thứ nhất từ tháng thứ tư trở đi, mũi
thứ hai cách mũi đầu ít nhất một tháng và chậm nhất là trước khi đẻ 1 tháng.
+ Làm rốn vô khuẩn
* Bổ xung sắt: để bà mẹ không bị thiếu máu khi có thai: Nếu bà mẹ
dinh dưỡng không tốt, ăn uống kiêng khem thì cơ thể sẽ không đủ chất để tạo
máu, dễ dàng bị nguy cơ thiếu máu. Bà mẹ mang thai cần uống 1 viên/ngày
trong suốt thời gian có thai đến hết 6 tuần sau đẻ. Tối thiểu phải uống ít nhất
không đáng ngại. Ngoài ra nếu thai phụ là người có bệnh mạn tính đã được
theo dõi điều trị, cần phải có chế độ ăn kiêng thì khi có thai họ vẫn cần một
chế độ ăn hạn chế các thức ăn đó và họ nên hỏi ý kiến thầy thuốc chuyên khoa
điều trị bệnh cho họ trước đây.
9
* Về chế độ làm việc khi có thai: Thai phụ nên làm việc theo khả năng.
Nếu công việc trước khi mang thai là công việc không nặng nhọc như dạy
học, làm việc ở văn phòng,… thì họ có thể làm việc bình thường cho đến khi
nghỉ đẻ (trước ngày dự kiến sinh một tháng). Nếu là công việc nặng nhọc hay
độc hại như bốc vác, phải gánh gồng, đội nặng, phải tiếp xúc với hoá chất
(thuốc trừ sâu, xăng dầu, chất phóng xạ …) thì thai phụ nên chuyển tạm thời
sang công việc khác trong thời gian thai nghén và nuôi con nhỏ. Dù bất cứ
công việc gì cũng không bao giờ làm việc quá sức.
- Trong thời gian thai nghén không nên làm việc ở trên cao (dễ bị tai
nạn) và ngâm mình dưới nước (dễ nhiễm lạnh, nhiễm khuẩn), nhất là nước ao
tù, cống rãnh.
- Trong thời gian làm việc nên xen kẽ những phút nghỉ ngơi giữa giờ.
Nếu đang lao động thấy người mệt mỏi, đau bụng thì nên nằm nghỉ để các cơ
thư giãn. Nếu thấy nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng vùng dưới xương
ức thì nên đi khám kiểm tra xem có bất thường do thai nghén hay không.
Như vậy, nội dung của chăm sóc trước sinh bao gồm: khám thai đầy
đủ, tiêm phòng uốn ván, bổ sung viên sắtVề chế độ lao động, sinh hoạt, dinh
dưỡng bà mẹ cần: Ăn tăng cả về lượng và chất; làm việc theo khả năng; xem
kẽ nghỉ ngơi; tránh làm việc nặng; nghỉ ngơi hoàn toàn trong tháng cuối.
Chăm sóc trong sinh:Chuyển dạ là quá trình từ khi có dấu hiệu chuyển
dạ (ra nhầy hồng, đau bụng, ra nước ối) đến khi thai và rau thai được đưa ra
khỏi đường sinh dục của người mẹ. Quá trình chuyển dạ cũng tiềm ẩn nhiều
chứng có thể xảy ra khi sinh đẻ.
Đặc điểm bệnh lý của giai đoạn này là những rối loạn hình thành và
phát triển thai. Các bà mẹ mắc các bệnh như sởi, rubella, cúm,… trong 3
tháng đầu dễ gây dị dạng cho thai nhi. Những bà mẹ bị các tress hoặc các
chứng trầm cảm thì sau này con dễ bị chứng tự kỷ. Những ảnh hưởng độc hại
11
của môi trường độc hại của môi trường, dinh dưỡng mẹ kém, mẹ bị bệnh, lao
động nặng,…trong thời gian mang thai dễ gây đẻ non, suy dinh dưỡng bào
thai hoặc thai chết lưu [57], [60].
Giai đoạn sơ sinh: Là thời kỳ từ lúc trẻ ra đời cho đến 28 ngày sau đẻ.
Đặc điểm sinh lý của thời kỳ này là thích nghi với cuộc sống mới bên ngoài tử
cung. Với một trẻ đẻ non, chức năng các bộ phận còn chưa hoàn chỉnh cho
nên những kích thích bên ngoài dù nhỏ cũng thường là quá mức so với trẻ.
Chức năng hô hấp và tuần hoàn thay đổi hoàn toàn: Trẻ bắt đầu thở bằng
phổi, vòng tuần hoàn chính thức thay thế cho tuần hoàn rau thai. Trẻ bú mẹ,
bộ máy tiêu hóa bắt đầu làm việc. Tất cả những thay đổi đó dễ kèm theo bệnh
tật xảy ra, chính vì thế tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao trong giai đoạn này.
Chăm sóc trẻ sơ sinh
- Giữ sạch: Thực hiện đẻ sạch, tiệt trùng cắt rốn đề phòng niễm uốn ván
và các nhiễm khuẩn khác.
- Giữ sạch: Phòng đẻ ấm, lau khô trẻ ngay sau khi đẻ, cho mẹ con tiếp
xúc da kề da đặc biệt là trẻ nhẹ cân để giữ cho trẻ không bị hạ nhiệt độ.
- Bú sớm mẹ và bú mẹ hoàn toàn: Bú mẹ trong vòng 1 giờ sau khi sinh
(bú càng sớm càng tốt), cho bú bất cứ khi nào trẻ muốn, cho trẻ bú sữa non
chứa nhiều kháng thể làm tăng sức đề kháng cho trẻ sơ sinh và không dùng
bất cứ thức ăn nước uống nào khác [52].
- Tạo nhịp thở đầu tiên và hồi sức sơ sinh: Cần nhận biết sớm các biểu
nay đã bắt đầu có những quan tâm của các chương trình y tế về sức khỏe học
đường và sức khỏe vị thành niên [34].
Mục tiêu sức khỏe trẻ em đến năm 2020[4], [42]
- Giảm tỷ lệ vong của trẻ dưới 1 tuổi xuống còn 15-18/1000 vào năm 2020.
- Tỷ lệ tử vong
trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em và chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi có thể làm
giảm tỷ lệ này. Ở Tanzania khi áp dụng các gói can thiệp trong chăm sóc sức
khỏe bà mẹ -trẻ em đã giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi xuống còn 15-20%.
Sri Lanka đã giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống còn 87% và 90% phụ nữ mang thai
đến khám và sinh tại cơ sở y tế [62].
Nghiên cứu của Gerezgiher Buruh Abera và cộng sự tại Ethiopia về
thực hành chăm sóc trẻ sơ sinh cho thấy 422 bà mẹ sinh con trong vòng một
năm qua có 99,1% bà mẹ sử dụng lưỡi dao cạo mới để cắt dây rốn trẻ; 18,3%
tắm cho trẻ sơ sinh và 18,7% cho trẻ bú mẹ sau sinh trong vòng 24 giờ [50].
15
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Adewale Olufemi Ashimi tại
miền Bắc Nigeria cho thấy trong số 410 phụ nữ được phỏng vấn có 248 phụ
nữ sinh con tại nhà. Các lý do được đưa ra là vì thiếu phương tiện giao thông
chiếm 45,6%; chuyển dạ khởi phát là 41,9%; truyền thống là 24,2%; sợ phẫu
thuật là 16,9% và thái độ của y tế kém là 12,9% [46].
Nghiên cứu của tác giả Wang và cộng sự tại Vũ Hán, Trung Quốc cho
thấy giấc ngủ của bà mẹ mang thai có liên quan đến sự phát triển chiều cao
của trẻ. Các bà mẹ ngủ từ 8 đến 9 giờ/ngày chiều dài và cân nặng của trẻ tốt
hơn bà mẹ có giấc ngủ dưới 7 giờ/ngày [61].
Nghiên cứu của tác giả Shraga và cộng sự cho biết việc chăm sóc trẻ
nên chú ý tới trình độ học vấn và kinh tế của bà mẹ [58]. Nghiên cứu của tác
giả Abel cũng cho thấy việc cung cấp đủ iodine cho các bà mẹ trong khi mang
thai là rất cần thiết, nếu thiếu hụt yếu tố này trẻ đẻ ra có nguy cơ kém phát
triển thần kinh [44].
1.2.2. Thực trạng vàcác nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em tại
Việt Nam
Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ và được cộng
thiếu trang thiết bị phục vụ chuyên môn chiếm 67,6%. Kết quả nghiên cứu
của tác giả Lê Giang Nam tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cũng cho thấy
91,1% người dân chọn đến trạm y tế là nơi khám chữa bệnh đầu tiên; tiếp đến
là bệnh viện đa khoa huyện 6,2% [25].
Kết quả nghiên cứu của Ngô Trí Tuấn và cộng sự về khả năng cung ứng
dịch vụ chăm sóc trước sinh tại 240 trạm y tế xã nằm trong 8 vùng sinh thái
Việt Nam cho thấy tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ làm việc cao nhất ở khu vực nông
thôn với 77,8%; tỷ lệ các trạm y tế sẵn có năng lực cung cấp hoặc chỉ định các
dịch vụ chăm sóc trước sinh là trên 92%. Tuy nhiên tỷ lệ trạm y tế xã có sẵn
17
các loại thuốc, vắcxin cho công tác chăm sóc trước sinh thiếu nhiều từ
40-70%. Kết quả hoạt động cung ứng dịch vụ chăm sóc trước sinh tại các
trạm y tế xã khu vực thành thị cao hơn nông thôn và miền núi, sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p
nhiên, tỷ lệ bà mẹ sử dụng dịch vụ đỡ đẻ của Trạm y tế xã đang ở mức thấp.
Trong tổng số 300 bà mẹ được phỏng vấn chỉ có 19 bà mẹ từng sinh con tại
trạm y tế trong 1 năm trở lại đây. Có một tỷ lệ khá lớn khoảng 40,3% bà mẹ
lựa chọn dịch vụ sinh con tại các bệnh viện tuyến huyện, phòng khám đa khoa
khu vực hay bệnh viện tỉnh và 31,7% bà mẹ lựa chọn dịch sinh đẻ ở những
nơi khác bao gồm bệnh viện huyện hoặc sinh đẻ tại nhà do các thành viên
trong gia đình đỡ [43].
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hà và cộng sự
về thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước và trong khi
19
sinh tại một số trạm y tế tỉnh Tây Nguyên cũng cho thấy chất lượng dịch vụ
cung cấp còn hạn chế. Các dịch vụ thiết yếu chăm sóc trước sinh chưa được
cung cấp đầy đủ như khám thai đầy đủ 3 lần tại Gia Lai chỉ đạt 33,3%; Kon
Tum 66,8%; cung cấp viên sắt tại Gia Lai là 33,3%; Kon Tum là 16,7%; lập
phiếu quản lý thai nghén tại Đắc Lắc và Gia Lai là 50%; kon tum là 16,7%.
Hầu hết các cơ sở y tế đều không đủ 100% các loại thuốc mà chỉ có khoảng
50-70% loại thuốc theo quy định [13].
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Luật và cộng sự về dịch vụ y tế tại trạm y
tế xã ở 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi Việt Nam cho thấy số bà
mẹ mang thai quản lý tại trạm y tế xã trung bình trên 116 người/năm, số lượt
khám thai/năm trung bình là 354,8 và khám thai đủ 3 lần/năm tại trạm y tế xã
trung bình chiếm >75%, các chỉ số này đều cao nhất ở thành thị, thấp nhất ở
nông thôn. Tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi trung bình là thấp (4,6); trong đó
cao nhất ở khu vực miền núi (6,8); p
hoàn toàn là 80,8% và 12,2%. Có 19,4% trẻ được ăn bổ sung sau 6 tháng tuổi
và 80% trẻ ăn bổ sung sớm trước 6 tháng [39].
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn
Văn Lành tại xã Hòa Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cho thấy các bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại địa phương này chưa quan tâm nhiều đến sức khỏe
sinh sản của họ. Có tới 44,3% bà mẹ không theo dõi cân nặng của mình trong
quá trình mang thai; 13,9% bà mẹ không khám thai trong suốt thai kỳ. Số các
bà mẹ được tiêm vacxin phòng uốn ván chiếm tỷ lệ 95,9% và 59,7% bà mẹ đã
uống viên sắt bổ sung trong chế độ ăn uống [7].
21
Nghiên cứu của Dương Xuân Chữ và cộng sự về sự hài lòng và các yếu
tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú tại
khoa khám bệnh, bệnh viện đa khoa huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cho
thấy 98,3% người bệnh hài lòng với các lĩnh vực đáp ứng của bệnh viện như
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh. Có 97,7% người bệnh hài
lòng với thái độ tiếp xúc của nhân viên y tế cũng như cơ sở vật chất, trang
thiết bị, vệ sinh khoa phòng [9].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Hưng và cộng sự tại 5 tỉnh Tây
Nguyên cho thấy điểm kiến thức trung bình của phụ nữ về dấu hiệu nguy
hiểm đối với phụ nữ mang thai là rất thấp chỉ đạt 20 điểm, cao nhất là ở Đăk
Lắk là 24,9 điểm, thấp nhất là ở Kon Tum là 15,2 điểm. Đối với phụ nữ sau
sinh là 18,1 điểm [20].
Kết quả nghiên cứu tại huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2014 của tác
giả Phan Thu Nga cho thấy phần lớn phụ nữ (chiếm 92,9%) quyết định cùng
chồng mong muốn sinh con lần gần đây nhất và sử dụng biện pháp tránh thai
là 63,8%. Và khi hỏi những đối tượng đã có hai con trở lên lý do muốn sinh
con nữa thì có đến 60% đối tượng đưa ra lý do muốn sinh con trai [26].
cách xử trí ban đầu là đưa trẻ đến trạm y tế chiếm 72,4%; bệnh viện huyện là
15,7%; phòng khám tư nhân là 4,3% [29].
Trung tâm y tế huyện có chức năng nhiệm vụ thực hiện chuyên môn kỹ
thuật về y tế dự phòng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bệnh xã hội, an
toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục
sức khoẻ. Triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về phòng,
chống dịch bệnh, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, tai nạn thương tích, sức khoẻ
lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ môi
trường, sức khoẻ trường học, dinh dưỡng cộng đồng, an toàn vệ sinh thực
23
phẩm, truyền thông giáo dục sức khoẻ hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỹ
thuật về các hoạt động thuộc lĩnh vực phụ trách đối với các trạm y tế xã, thị
trấn, các cơ sở y tế trên địa bàn, thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban
đầu cho nhân dân [1].Theo Báo cáo tổng kết của Trung tâm y tế huyện Tiền
Hải năm 2015 cơ bản đã thực hiện tốt, công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân. Trung tâm y tế đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể
huyện, các xã, thị trấn duy trì và đẩy mạnh các hoạt động về y tế dự phòng
trong toàn huyện ngày càng đạt được kết quả cao.Tuy nhiên, có một số công
tác như truyền thông giáo dục sức khỏe, vệ sinh môi trường, chăm sóc sức
khỏe bà mẹ -trẻ em, cung cấp và tìm kiếm các dịch vụ về y tế dự phòng cho
nhân dân các số liệu này đang còn chưa được cập nhật một cách thường
xuyên, có những số liệu đang còn cao hơn so với thực tế như công tác vệ sinh
môi trường, đặc biệt các nhu cầu trong nhân dân về các dịch vụ y tế dự phòng.
24
chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong xã.Đạt chuẩn quốc
gia về Y tế xã giai đoạn 2010 - 2020. Đội ngũ Y tế thôn với 10 nhân viên
được chia đều cho 05 thôn.
-Xã Nam Trung nằm ở phía Nam của huyện, có diện tích tự nhiên
7,83 km², dân số 13.502 được phân thành 10 thôn.Người dân theo đạo thiên
chúa giáo chiếm trên 70%chủ yếu làm nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy
hải sản. Trạm Y tế xã đã có đủ nhân lực, cơ sở vật chất trang thiết bị tối thiểu
phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân
dân trong xã.Đạt chuẩn quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2010 - 2020. Đội ngũ Y
tế thôn với 20 nhân viên được chia đều cho 10 thôn.
- Về y tế huyện có 4 đơn vị gồm: Phòng Y tế, Bệnh viện Đa khoa Tiền
Hải, Bệnh viện Đa khoa Nam Tiền Hải. Trung tâm Y tế Tuyến xã, có 35 trạm
y tế xã, thị trấn.
- Trung tâm Y tế huyện Tiền Hải có chức năng, nhiệm vụ: Triển khai
thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng như: kiểm soát
dịch bệnh; phòng, chống HIV/AIDS; phòng, chống các bệnh xã hội; an toàn
vệ sinh thực phẩm; y tế lao động; y tế trường học; vệ sinh môi trường; dịch vụ
y tế dự phòng; chăm sóc sức khoẻ sinh sản; truyền thông giáo dục sức khoẻ
và điều trị Methadone, quản lý, chỉ đạo hoạt động của 35 trạm y tế xã, thị trấn
trên địa bàn huyện.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
* Bà mẹ có con dưới 2 tuổi đang sinh sống và làm việc tại các xã
nghiên cứu tính từ thời điểm điều tra.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bà mẹ tại các xã được chọn nghiên cứu.
- Các bà mẹ nghiên cứu là những người có con dưới 2 tuổi tại thời điểm
điều tra, đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu, hợp tác điều tra, có khả năng