BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ TIẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN
BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CAO
SU THỜI KÌ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI NÔNG TRƯỜNG
CAO SU HIỆP ĐỨC THUỘC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN CAO SU QUẢNG NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHÀNH QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN RỪNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐAI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ TIẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN
BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CAO
SU THỜI KÌ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI NÔNG TRƯỜNG
thuyết song quá trình vận dụng kiến thức vào thực tế chuyên đề không tránh khỏi
thiếu sót mong quý thầy cô và bạn đọc quan tâm góp ý để báo cáo của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh tháng 6 năm 2012
Võ Thị Tiến
ii
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón đến sinh trưởng và phát
triển của cây cao su trong thời kì kiến thiến cơ bản tại Nông trường cao su Hiệp
Đức thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao su Quảng Nam” được
tiến hành từ tháng 3 đến tháng 6 năm năm 2012, tại Nông trường cao su Hiệp Đức
thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao su Quảng Nam. Thí nghiệm
được bố trí theo kiểu thí nghiệm bình phương la tinh (LSpD – Latin Squaren
Design), 1 nhân tố, 4 nghiệm thức, 4 lần lặp lại. Lô 107b, trên dòng vô tính PB260.
Tổng số cây trên khu thí nghiệm là 160 cây, với khoảng cách trồng là 6 m x 3 m.
Nghiệm thức 1: bón phân DAP tổng hợp: 400gam/cây
Nghiệm thức 2: bón phân NPK tổng hợp: 400gam/cây
Nghiệm thức 3: bón phân KOMIC: 35ml/cây
Nghiệm thức 4 (đối chứng): không bón phân
Kết quả thu được: qua các nghiệm thức bón phân, nghiệm thức 1 (bón phân
DAP) tăng trưởng chiều cao và vanh thân mạnh hơn so với nghiệm thức 3 (bón
phân KOMIC), tăng nhanh hơn so với nghiệm thức 2 (phân NPK) và nhanh hơn so
iv
MỤC LỤC
TRANG
Trang bìa
i
Lời cảm ơn
ii
Tóm tắt
iii
Summary
iv
Mục lục
v
Danh sách các bảng
viii
3
2.1.1. Vị trí địa lí
3
2.1.2 Địa hình
3
2.1.3 Khí hậu
3
2.1.4 Thủy văn
4
2.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng
4
2.1.6 Tài nguyên động – thực vật
4
2.1.7 Đặc điểm kinh tế xã hội
5
9
2.2.1.6 Sự nảy mầm
9
2.2.1.7 Rễ
9
2.3. Tình hình phát triển cây cao su trong nước
9
2.4. Tình hình phát triển cây cao su ngoài nước
11
2.5. Tác dụng của phân bón đối với cao su
12
2.6. Phương pháp bón phân theo chuẩn dinh dưỡng
14
2.7. Tổng quan dòng vô tính cao su PB260
15
18
3.2. Phương tiện nghiên cứu
18
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
18
3.3.1. Nội dung nghiên cứu
18
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu
18
3.3.2.1. Ngoại nghiệp
18
3.3.2.1.1. Bố trí thí nghiệm
18
3.3.2.1.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
20
4.1.3. Kết quả sự tăng trưởng chiều cao và vanh thân lần đo 3
25
4.1.4. Kết quả sự tăng trưởng chiều cao và vanh thân lần đo 4
27
4.2. Ảnh hưởng của phân DAP, NPK và KOMIC đến thời gian ổn định
tầng lá mới
29
4.3. Chi phí đầu tư phân bón DAP, NPK, KOMIC
30
4.4. So sánh sự tăng trưởng chiều cao và vanh thân ở các nghiệm thức
qua các ngày sau khi bón phân
31
4.4.1 Kết quả sự tăng trưởng chiều cao ở các nghiệm thức qua các ngày
bón phân
31
4.4.2 Kết quả sự tăng trưởng vanh thân ở các nghiệm thức qua các ngày
bón phân
TRANG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
19
Bảng 4.1 Bảng ANOVA chiều cao đo lần1
20
Bảng 4.2 Bảng ANOVA vanh thân đo lần 1
21
Bảng 4.3 Bảng ANOVA chiều cao đo lần 2
21
Bảng 4.4 Bảng ANOVA vanh thân đo lần 2
22
Bảng 4.5 Bảng trắc nghiệm phân hạng giữa các nghiệm thức đo lần 2
23
Bảng 4.6 Bảng ANOVA chiều cao lần đo 3
24
Bảng 4.14 Chiều cao trung bình của các nghiệm thức
30
Bảng 4.15 Vanh thân trung bình của các nghiệm thức
31
viii
DANH SÁCH HÌNH
HÌNH
TRANG
Hình 4.1 Biểu đồ tăng trưởng chiều cao qua các ngày bón phân
30
Hình 4.2 Biểu đồ tăng trưởng vanh thân qua các ngày bón phân
31
ix
Quốc lộ
QĐ
Quy định
x
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây cao su (Hevea brarileneis) thuộc họ thầu dầu, có nguồn gốc từ miền Nam
vùng Amazon từ đầu thế kỉ 18. Năm 1877 cây cao su lần đầu tiên được đưa vào
Việt Nam, trải qua hơn một thế kỉ tồn tại và phát triển, cây cao su đã khẳng định
được vị thế là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, với sản phẩm chính là
mủ ngoài ra còn gỗ, dầu từ hạt cao su cũng mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Bên
cạnh đó việc trồng cao su cũng mang lại các lợi ích về môi trường như: phủ xanh
đất trống, đồi trọc, diện tích rừng nghèo tăng lên, chống xóa mòn.
Với mục tiêu mà ngành cao su đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa – hiện
đại hóa hiện nay và hướng đến sự phát triển bền vững bằng các biện pháp để làm
tăng năng suất cũng như chất lượng sản phẩm. Lợi nhuận cao su đem lại không
những chỉ làm tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo cho
các tỉnh miền núi.
Trong các biện pháp kỹ thuật thì vấn đề quản lý dinh dưỡng cây trồng là một
khâu quan trọng trong việc xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững. Trong đó bón
phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định đến năng suất, chất lượng sản
phẩm cây trồng, hiệu quả kinh tế và thu nhập của người sản xuất. Vì vậy, bón phân
là một yếu tố đầu tư rất được quan tâm và thường chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chí
Việc nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón đến sinh trưởng và phát triển
của cao su trong thời kì kiến thiết cơ bản tại Nông trường cao su Hiệp Đức thuộc
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao su Quảng Nam hi vọng đạt hiệu
quả để góp phần đề ra các biện pháp làm tăng năng suất cũng như sản lượng cây cao
su tại khu vực nghiên cứu.
2
Chương 2
TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lí
Hiệp Đức là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, nằm ở phía Tây của tỉnh
cách Thành phố Tam kỳ 40 km, nằm trên đường quốc lộ 14E. Vị trí địa lý được trải
dài từ 150 22’ 12’’ đến 150 38’40’’ độ vĩ Bắc và từ 1070 84’40’’ đến 1080 15’08’’ độ
kinh Đông
Phía Đông giáp huyện Thăng Bình
Phía Tây giáp huyện Phước Sơn
Phía Nam giáp huyện Tiên Phước và Bắc Trà My.
Phía Bắc giáp với huyện Quế Sơn.
Theo địa giới hành chính, huyện Hiệp Đức được chia làm 12 xã, dân cư phân
bố không đều, chủ yếu tập trung ở huyện lộ.
2.1.2. Địa hình
Địa hình mang nét đặc trưng của địa hình vùng đồi núi phức tạp và độ chia
cắt lớn, độ dốc giảm từ Tây sang Đông. Hơn 80% là diện tích đồi núi, tập trung chủ
yếu ở phía Bắc, Nam và Tây của huyện. Còn lại là dạng đồng bằng thung lũng, phân
bố ven các chân đồi núi và tập trung nhiều ở phía Đông.
2.1.3. Khí hậu
ưu thế về diện tích. Tầng đất dày biến động từ 25 – 80 cm, đá lẫn ở tầng mặt và biến
động ở nhiều mức độ khác nhau từ 0 – 50 %. Nhóm đất này thích hợp trồng cây dài
ngày và cây lâm nghiệp.
2.1.6. Tài nguyên động – thực vật
Trước đây nguồn tài nguyên động thưc vật rất phong phú, nhưng hiện nay
động thực vật ngày càng nghèo nàn, đơn điệu. Nhiều loại gỗ hiếm như lim, gõ, sến
không còn nữa do tình trạng khai thác gỗ bừa bãi chỉ còn lại gốc tạp và dây leo. Các
4
động vật chủ yếu các loài gặm nhấm và ăn cỏ như nai, mang, hoẵng, heo rừng.
Trước đây còn có cả hổ, voi, sơn dương nhưng nay các loài này đã không còn.
Nguồn khoáng sản chủ yếu là vàng sa khoáng nằm rải rác ven suối nhỏ. Mặc
dù đã có nghiên cứu thăm dò của các cơ quan chức năng nhưng chưa xác định được
tiềm năng cụ thể nào mà chủ yếu do người dân tự khai thác với mức độ nhỏ.
2.1.7. Đăc điểm kinh tế xã hội
Trước đây huyện Hiệp Đức là một huyện nghèo. Những năm gần đây, điều
kiện cơ sở vật chất tại Hiệp Đức đã phát triển hơn, cuộc sống của người dân dần
được cải thiện. Hệ thống đê điều, nước tưới đã được áp dụng ở các xã.
Dân số, lao động theo số liệu thống kê năm 2009 huyện có 12 xã với 71 thôn,
dân số trung bình 40.822 người, nữ là 20.732 người trong đó thị trấn 3.256 người,
miền núi 33.106 người, miền núi cao 4.460 người, mật độ dân số 82 người/km2 dân
số. Lao động chính ở huyện chủ yếu lao động nông nghiệp, phần lớn là dân tộc
kinh.
Về kinh tế vườn, kinh tế trang trại hiện có 211 trang trại, kiểm tra hỗ trợ cho
50 vườn điểm kinh phí 300 triệu đồng, có 481 vườn nhà cho hiệu quả kinh tế. Ban
hành cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại giai đoạn
2011 - 2012. Triển khai đề án phát triển cây cao su và cơ chế hỗ trợ theo Quyết định
12 giải các môn. Kết quả thi đại học, cao đẳng năm học 2010-2011 có 112 em thi đỗ
đại học, 97 em thi đỗ cao đẳng nguyện vọng 1.
Về y tế, thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, vệ sinh môi trường, vệ
sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện tốt đề án 3 công trình vệ sinh, tỷ lệ hộ có hố xí
hợp vệ sinh 74,25%, (tăng 2,25% so cùng kỳ); tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh
90,78% (giảm 3,3%); tỷ lệ hộ có nhà tắm hợp vệ sinh 72% (giảm 7,1%). Nghiệm
thu đưa vào sử dụng khu khám chữa bệnh mới bệnh viện huyện. Xây dựng được 2
xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (Sông Trà và Hiệp Thuận). Duy trì tốt hoạt động kết
nghĩa với Bệnh viện Đà Nẵng. Tổ chức đợt hiến máu tình nguyện được 200 đơn vị
máu, đạt 166,6% chỉ tiêu.
Chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình được tập trung chỉ đạo tích cực.
Công tác gia đình, bình đẳng về giới luôn được chú trọng và ngày càng phát huy
hiệu quả. Tiếp tục triển khai đề án sàng lọc trẻ sơ sinh, đề án can thiệp giảm thiểu
mất cân bằng giới tính khi sinh. Hoàn thành chiến dịch sức khoẻ sinh sản, kế hoạch
hoá gia đình năm 2011, tổng các biện pháp tránh thai đạt 96,97% kế hoạch. Tỷ lệ
sinh con thứ 3 trở lên 14,8%, cao hơn 0,8% so với kế hoạch, giảm 3,1% so cùng kỳ.
6
Công tác chính sách trẻ em, tổng kết 10 năm phong trào đỡ đầu thôn nghèo và
trẻ em đồng bào có hoàn cảnh khó khăn. Tổ chức các hoạt động cho trẻ em với kinh
phí 312 triệu đồng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng về cân nặng 17,04 %,
về chiều cao 24,23 %. Tổ chức thành công diễn đàn quyền trẻ em, đêm hội trăng
rằm trung thu, tham gia Hội diễn Hoa Phượng đỏ tỉnh đoạt 01 giải A và thi Diễn
đàn trẻ em đoạt giải 3.
Về văn hoá, thông tin tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền chào mừng các
ngày lễ, kỷ niệm, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, bầu cử Đại biểu Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Tổ chức tốt các hoạt động chào
Sau thời kì qua đông rụng lá, hoa mọc cùng lúc với sự ra hoa mới. Hoa mọc
thành chùm với hoa cái to hơn nằm ở phần cuống của hoa, hoa đực với số lượng
nhiều hơn hoa cái mọc ở trên của chùm hoa.
Hoa màu vàng hơi ngả lục cuống hoa ngắn có mùi hương nhè nhẹ, dạng hoa
hình chuông với 5 lá dài nhưng không có cánh hoa. Hoa đực dài khoảng 5 mm
mang một cột nhị chứa 10 nhị đực chia làm hai vòng trên cột nhị. Hoa cái dài
khoảng dài khoảng 8 mm màu vàng lục có 3 noãn cùng với 3 vòi nhị màu trắng hơi
dính. Hoa sống trong khoảng 2 tuần. Khi nở, hoa đực nở trước trong vòng một ngày
thì rụng, còn hoa cái nở trong 3 – 5 ngày. Thường hoa đực và hoa cái không nở
cùng lúc nên thường xảy ra sự thụ phấn chéo giữa các cây khác nhau.
2.2.1.3 Sự thụ phấn
Thụ phấn chủ yếu do tác động của côn trùng, gió chỉ đóng vai trò nhỏ hoặc
không có ý nghĩa. Nghiên cứu ở Malaysia cho thấy có khoảng 30 loại côn trùng trên
vườn cây cao su trong mùa ra hoa.
Hạt phấn có hình tam giác trên bề mặt có hình tính dính. Tỉ lệ sống của hạt
phấn có thể cao khoảng 90 %, trung bình khoảng 50 %.
2.2.1.4 Sự đậu quả
Sự thụ đậu xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi thụ phấn. Hoa cái không thụ
tinh sẽ nhanh chóng bị héo đi và rụng. Chỉ có khoảng 5 % hoa đậu quả. Tuy nhiên
thực tế tỉ lệ đậu quả thấp hơn.
Quả có 3 ngăn, có đường kính khoảng 3 - 5 cm, vỏ quả là lớp vỏ ngoài có
lớp vỏ bọc mỏng. Quả có 3 hạt, quả đạt độ lớn tối đa sau 12 tuần và vỏ quả cứng lại
sau 16 tuần. Vỏ hạt và mầm hạt chín trong 19 đến 20 tuần, vào lúc phôi đã hình
thành hoàn chỉnh khoảng 20 – 24 tuần sau khi thụ phấn quả chín hoàn toàn, độ ẩm
8
quả giảm nhanh khi khô quả mở thành 6 mảnh phóng thích ba hạt có thể văng xa
Từ năm 1920 – 1945 là thời kì phát triển mạnh mẽ của cao su Việt Nam, địa
bàn phát triển là các vùng đất đỏ tại tỉnh Đồng Nai và vùng đất xám ở tỉnh Sông Bé
nay là tỉnh Bình Dương và Bình Phước.
Từ năm 1945 – 1960 là thời kì đình trệ và khôi phục. Trong giữa giai đoạn
này, vào khoảng những năm 1945 – 1954 diện tích cao su không phát triển do chiến
tranh, thực dân Pháp dần chuyển sang Campuchia, Indonesia, Châu Phi nên diện
tích cao su bị thu hẹp lại.
Từ năm 1961 - 1975 là thời kì tiếp tục khủng hoảng do cuộc đấu tranh giành
độc lập của dân tộc Việt Nam, một lần nữa thực dân Pháp thu hẹp diện tích trồng
cao su của nước ta.
Từ năm 1975 - 1995, sau khi tiếp quản tiếp quản diện tích cao su trước đây
(năm 1975) nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su nên Nhà nước đã triển
khai chương trình khôi phục và phát triển cao su thành ngành kinh tế quan trọng.
Đến nay đã có 20 giống do Viện Nghiên Cứu cao su Việt Nam lai tạo và 11
giống nhập nội được Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận cho sản
xuất diện rộng hoặc khu vực hóa. Trong đó một giống được tổng công ty đưa vào
bộ giống được khuyến cáo trồng trong giai đoạn 1999 - 2001.
Kết quả nghiên cứu đến năm 2000 trên mạng lưới khảo nghiệm giống ở Đông
Nam Bộ (34 thí nghiệm), ở Tây Nguyên (16 thí nghiệm) và miền Trung (13 thí
nghiệm) đã tiếp tục khẳng định thành tích của một số giống ưu tú trong bộ giống
1999 – 2001. Trong đó một số giống năng suất cao và sinh trưởng tốt hơn (PB 235),
triển vọng là giống đã đáp ứng nhu cầu mủ, gỗ và thích nghi được các điều kiện khó
khăn như Tây Nguyên và miềm Trung (Viện nghiên cứu cao su Việt Nam, 3/2001).
Định hướng phát triển cao su năm 2005 - 2010 là thâm canh các diện tích có
sẵn, đồng thời tiếp tục phát triển diện tích tại các địa bàn có điều kiện thích hợp cho
cây cao su.
Nguyễn văn xinh (2008) qua khảo sát ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và vô cơ đã
cho thấy các mức bón phân hữu cơ phân trùn, Hudavil làm tăng chu vi thân và chiều
cao cây. Các mức phân khoáng không ảnh hưởng đến chu vi và chiều cao cây qua
thế giới.
Diện tích cao su trồng phát triển rất mạnh trong những năm đầu của thế kỉ 20.
Năm 1905 cả thế giới trồng được 52.000 ha, đến 1910 được 455.000 ha. Các nước
11
đi tiên phong trồng cao su là Malaysia, Ấn Độ, các nước thuộc địa Hà Lan,
Srilanka.
Năm 1914 – 1945 là thời kì hoàng kim của cây cao su, mức sản xuất cao su
thiên nhiên tăng rất nhanh từ 125.000 tấn và năm 1914 đã đạt 1.504.000 tấn tăng 12
lần sau 27 năm phát triển.
Giai đoạn năm 1960 - 1980 sản lượng cao su thiên nhiên đã tăng khoảng
8.000 tấn đến 1.000.000 tấn cho mỗi thập niên (bình quân 80.000 - 100.000 tấn cho
mỗi năm).
Ở Malaysia năm 1972 đã chia ra làm 17 vùng tiểu khí hậu khác nhau để
khuyến cáo trồng cây cao su. Năm 1974 đã xây dựng thành công hệ thống
Enviromax (hệ thống phân bố giống cao su theo từng vùng sinh thái).
Năm 1976, Thái Lan đã chia ra ba vùng sinh thái để khuyến cáo trồng các
giống cao su khác nhau.
Indonesia năm 1950 người ta thấy được ảnh hưởng của môi trường đến các
dòng vô tính và đưa ra hai vùng lớn Tây Bắc Sumatra và Java được khuyến cáo
trồng dòng vô tính có triển vọng.
Srilanka chia ba vùng theo cao trình và lượng mưa để khuyến cáo trồng cao su.
Ho Chai Yee (RRIM, 1978) xác định được các nhân tố quyết định tăng năng suất
của cây cao su và vanh thân, số vòng ống mủ và chỉ số bít mạch mủ (PI), ba yếu tố
này giải thích cho 75% sự biến động về năng suất của các dòng vô tính.
Năm 1987, Hội đồng nghiên cứu và phát triển cao su quốc tế tổ chức một đợt
sưu tập các kiểu gen cao su ở vùng nguyên quán Nam Mỹ và đã tạo ra nguồn tư liệu
phong phú, đa dạng cho công tác tạo chuyển giống mới.
bón phân kali có ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng của cây non. Trước đây
thường coi kali là nguyên tố dinh dưỡng thứ yếu trong việc trồng cao su. Lượng kali
trong đất thường không đảm bảo cho cây non sinh trưởng mạnh trong thời gian đầu.
Thí nghiệm ở Srilanka (Consteble D.H và những người công tác, 1953) cũng
cho biết; trong nhiều trường hợp bón riêng kali hoặc bón riêng đạm có thể làm giảm
năng suất, đồng thời những thí nghiệm trên còn khẳng định: bón đủ lân cho cây
cũng rất quan trọng. Bón riêng kali sẽ làm cây càng thiếu Mg vì lí do này nên phân
khoáng bón cho cây cao su phải có mặt một phần MgO và ba phần là K2O. Bón đạm
13
kết hợp với kali thì năng suất và đường vanh tăng nhiều (Trần Nguyên Khang và
cộng tác viên, 1979).
2.6. Phương pháp bón phân theo chuẩn dinh dưỡng
Việc xác định hàm lượng dinh dưỡng trong lá cây cao su đã được Chapman
nghiên cứu từ năm 1941, sau đó được rất nhiều nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu,
kết quả nghiên cứu cho thấy việc xác định hàm lượng dinh dưỡng trong lá cây cao
su là một yếu tố có giá trị quan trọng trong việc chuẩn đoán tình trạng để bón phân.
Beaufils E.R (1958) đã thấy những tương quan chặt chẽ giữa lượng chức các
nguyên tố đa lượng trong lá cây cao su, đã tính tỉ lệ các chất dinh dưỡng ở trong lá
và đã sử dụng thành công những tỉ lệ đó để giải quyết tình trạng thiếu chất dinh
dưỡng của cây cao su ở Việt Nam và Campuchia.
Năm 1959, Beaufils E.R (Viện khảo cứu cao su Đông Dương) đã đưa một số
kết quả về chuẩn đoán cây cao su (Phân tích các chất chứa trong lá và một số chỉ
tiêu khác kể cả một số chật khoáng chứa trong mủ cao su) để tác động phân bón tạo
ra cân bằng sinh lý khoáng, đạt sản lượng mủ tốt hơn (Trần Văn Năm, 1990).
Nhiều nghiên cứu cho biết việc giải thích các số liệu phân tích phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như vị trí của lá trong tầng lá (Shorrocks V. M. 1962) tuổi lá