nghiên cứu ảnh hưởng của một số dạng phân bón đến sinh trưởng và năng suất của hai giống lúa hq19 và bắc thơm số 7 trên đất gia lâm hà nội - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐẶNG VĂN TUÂN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DẠNG
PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA HAI GIỐNG LÚA HQ19 VÀ BẮC THƠM SỐ 7
TRÊN ĐẤT GIA LÂM - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐẶNG VĂN TUÂN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ DẠNG
PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA HAI GIỐNG LÚA HQ19 VÀ BẮC THƠM SỐ 7
TRÊN ĐẤT GIA LÂM – HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HÀ THỊ THANH BÌNH

HÀ NỘI, 2015


Tác giả luận văn

Đặng Văn Tuân

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục từ và thuật ngữ viết tắt

v

Danh mục bảng

vi


3

1.1.1

Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới

3

1.1.2

Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước

6

1.1.3

Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam

11

1.2

Vai trò của phân bón và các dạng phân bón đối với sản xuất lúa

12

1.3

Tình hình sản suất và sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam


24

1.5

Tình hình sử dụng phân đa nguyên tố cho cây lúa ở Việt Nam

26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

29

2.1

Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

29

2.1.1

Vật liệu nghiên cứu

29

2.1.2

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

29



Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

35

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1

36

Ảnh hưởng của dạng phân đến các chỉ tiêu sinh trưởng của 2 giống lúa
HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.1.1

36

Ảnh hưởng tương tác của dạng phân bón và giống đến thời gian sinh
trưởng của 2 giống HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.1.2

36

Ảnh hưởng của dạng phân bón đến dộng thái tăng trưởng chiều cao
cây của 2 giống HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.1.3

37

giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.3

57

Ảnh hưởng của dạng phân bón đến mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại
chính trên hai giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.4

62

Ảnh hưởng của dạng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của hai giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.5

64

Ảnh hưởng dạng phân bón đến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế
của hai giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

3.6

72

Hiệu quả kinh tế khi sử dụng các dạng phân bón đối với 2 giống lúa
HQ19 và Bắc Thơm số 7.


: Trung tâm thông tin phát triển nông nghiệp
nông thôn

CCCC

: Chiều cao cuối cùng

Cs

: Cộng sự

CT

: Công thức

CV

: Hệ số biến động

ĐBSCL

: Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH

: Đồng bằng sông Hồng

EU

: Liên minh châu Âu


: Nhà xuất bản

ST

: Sinh trưởng

TGST

: Thời gian sinh trưởng

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TSC

: Tuần sau cấy

USDA

: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

VINAGRI News : Tin tức nông nghiệp Việt Nam
VM

: Vụ Mùa

VX


1.5 Cân đối cung cầu phân bón năm 2013 (1.000 tấn)

20

3.1 Ảnh hưởng tương tác của dạng phân bón và giống đến thời gian sinh
trưởng qua các giai đoạn của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

37

3.2a Ảnh hưởng của giống tới động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều
cao cuối cùng của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

38

3.2b Ảnh hưởng của dạng phân bón tới động thái tăng trưởng chiều cao cây và
chiều cao cuối cùng của hai giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

40

3.2c Ảnh hưởng tương tác giữa dạng phân bón và giống tới động thái tăng
trưởng chiều cao cây và chiều cao cuối cùng của hai giống lúa HQ19 và
Bắc Thơm số 7 ở vụ Xuân

41

3.2d Ảnh hưởng tương tác giữa dạng phân bón và giống tới động thái tăng
trưởng chiều cao cây và chiều cao cuối cùng của hai giống lúa HQ19 và
Bắc Thơm số 7 ở vụ Mùa

42


3.4b Ảnh hưởng của dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh của 2 giống lúa 2
giống HQ19 và Bắc Thơm số 7

49

3.4c Ảnh hưởng tương tác giữa dạng phân bón và giống lúa đến động thái đẻ
nhánh của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7 vụ Xuân

51

3.4d Ảnh hưởng tương tác giữa dạng phân bón và giống lúa đến động thái đẻ
nhánh của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7 vụ Mùa

51

3.5a Ảnh hưởng của giống đến LAI của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

54

3.5b Ảnh hưởng của dạng phân bón đến LAI của 2 giống lúa HQ19 và Bắc
Thơm số 7

55

3.5c Ảnh hưởng tương tác giữa dạng phân bón và giống đến LAI của 2 giống
lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

56


3.8c Ảnh hưởng tương tác của dạng phân bón và giống lúa đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của hai giống lúa HQ19và Bắc Thơm số 7
vụ Xuân

69

3.8d Ảnh hưởng tương tác của dạng phân bón và giống lúa đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của 2 giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7 vụ
Mùa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

71

Page vii


3.9 Ảnh hưởng dạng phân bón đến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của
hai giống lúa HQ19 và Bắc Thơm số 7

72

3.10 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng các dạng phân bón đối với 2 giống lúa
HQ19 và Bắc Thơm số 7.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

73

Page viii


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Xác định dạng phân bón thích hợp cho hai giống lúa HQ 19 và Bắc Thơm số 7.
2.2 Yêu cầu
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài giúp:
Đánh giá ảnh hưởng của các dạng phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng: số
nhánh, số lá, chiều cao cây của hai giống lúa HQ 19 và Bắc Thơm số 7.
Đánh giá ảnh hưởng của các dạng phân bón đến các chỉ tiêu sinh lý: khả năng tích
lũy chất khô, chỉ số diện tích lá của hai giống lúa HQ 19 và Bắc Thơm số 7.
Đánh giá ảnh hưởng của các dạng phân bón đến sâu bệnh hại của hai giống
lúa HQ 19 và Bắc Thơm số 7.
Đánh giá ảnh hưởng của các dạng phân bón khác nhau đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của hai giống lúa HQ 19 và Bắc Thơm số 7.
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sử dụng làm tài liệu trong công tác nghiên cứu
việc chọn và sử dụng các dạng phân bón thích hợp cho cây lúa. Ngoài ra, có thể
dùng làm tài liệu giảng dạy kỹ thuật thâm canh lúa.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp định hướng việc chọn và sử
dụng các dạng phân bón vào sản xuất lúa rộng rãi.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


Page 3


Bảng 1.1 Sản xuất lúa gạo trên thế giới năm 2013
Quốc gia và

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

khu vực

(triệu ha)

(tấn/ha)

(triệu tấn)

Châu Phi

10,89

2,64

28,75

Châu Mỹ


Ấn Độ

43,50

3,66

159,20

Trung Quốc

30,23

6,73

203,29

Indonesia

13,84

5,15

71,28

Thái Lan

12,37

3,13


3,89

18,44

Cambodia

3,10

3,01

9,34

Pakistan

2,80

3,50

9,80

Thế giới

164,72

4,53

745,71
Nguồn: FAOSTAT 2014

Trên thế giới, Trung Quốc là nước đạt năng suất lúa cao nhất. Năm 2013, năng

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo chủ chốt ở châu Á. Nước này có khả năng
xuất khẩu với khối lượng lớn và giá cả ổn định bởi lượng lúa gạo dự trữ còn nhiều
lên tới khoảng 13-15 triệu tấn gạo.
Về nhập khẩu gạo, châu Á chiếm 60,15% (giảm 26,7% so với năm 2012);
châu Phi chiếm 28% (tăng 11,6%); châu Mỹ chiếm 6,85% (tăng 43,4%); châu Âu
chiếm 3,25% (tăng 132%), còn lại là các khu vực khác. Trong số các quốc gia có
nhu cầu lớn, Trung Quốc cần khoảng 3,3 triệu tấn trong năm; trong khi đó
Philippines và Indonesia cũng dự tính là nhu cầu tiêu thụ gạo sẽ tăng từ 60 -70%
trong năm 2013; còn chính phủ Malaysia cho biết nhu cầu nhập khẩu gạo của nước
này cũng sẽ đạt khoảng 1,1 triệu tấn/năm.
Theo thống kê của FAO (2012) sản lượng gạo thế giới sẽ tăng 497 triệu tấn trong
năm 2013 - 2014, tăng khoảng 1,3% so với khoảng 491 triệu tấn niên vụ 2012-2013.
Hầu hết sản lượng tăng sẽ đến từ châu Á. Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã dự báo sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


lượng gạo toàn cầu 2013-2014 xuống 473,2 triệu tấn gạo, giảm khoảng 3,6 triệu tấn so
với dự báo trước đó nhưng vẫn tăng gần 1% so với năm 2012-2013. Thống kê tiêu thụ
gạo toàn cầu 2013-2014 cũng đã được hạ 1,4 triệu tấn xuống 473,1 triệu tấn, vẫn là
mức cao kỷ lục.
Các cuộc khủng hỏang chính trị, kinh tế, tài chính, năng lượng trong các năm
vừa qua, đặc biệt là năm 2008 đã gây ra khủng hoảng lương thực thế giới làm tăng
thêm 100.000 người thiếu đói và đưa tổng số lên 1 tỉ người (Theo Trần Văn Đạt,
2011). Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực toàn cầu là vấn đề cấp bách được đặt lên
hang đầu.
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong nước
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời, diện
tích gieo trồng chiếm 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân trồng lúa.


(tấn/ha)

(triệu tấn)

1990

6,04

3,18

19,21

2000

7,67

4,24

32,52

2004

7,44

4,85

36,15

2005


2009

7,44

5,24

38,95

2010

7,49

5,32

40,00

2011

7,66

5,54

42,40

2012

7,75

5,63

Page 7


được mùa; giá cả tăng mạnh, nhất là vào giữa năm 2008, do khủng hoảng lương
thực thế giới đã khuyến khích người nông dân tăng diện tích, chú trọng đầu tư. Giai
đoạn 2008 – 2013 tổng diện tích lúa có xu hướng tăng, năng suất bình quân tăng
dẫn tới sản lượng tăng thể hiện các biện pháp kỹ thuật tiến bộ đã được áp dụng
thành công trong sản xuất lúa của nước ta. Sản lương lúa gạo của nước ta không
ngừng tăng trong những năm qua. Nhưng để đối phó với diễn biến bất thường của
thời tiết, sự gia tăng dân số, sự giảm dần diện tích gieo cấy do chuyển đổi mục đích
sử dụng mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực và giữ vững vị thế là một trong những
nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu
tư thâm canh tăng vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thật nhằm giảm chi phí sản
xuất, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.
Theo “Báo cáo thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam”, mặt hàng gạo
của Việt Nam ngày càng được mở rộng và phát triển ở khắp các châu lục. Đặc biệt,
lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam được giữ vững ở những thị trường truyền thống
(châu Á, châu Âu và châu Mỹ) và mở rộng, phát triển thị trường mới (châu Phi và
Trung Đông). Sự vươn lên trong thị trường lúa gạo thế giới của Việt Nam đã khẳng
định vị thế, vai trò của mặt hàng gạo Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới.
Đồng thời không ngừng gia tăng kim ngạch xuất khẩu .
Về khối lượng gạo xuất khẩu: Khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đứng
thứ hai thế giới. Khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2009
có xu hướng tăng lên. Nếu như năm 2000, khối lượng xuất khẩu gạo chỉ đạt trên
3,477 triệu tấn, thì đến 2008 đã xuất khẩu trên 4,830 triệu tấn; năm 2009 khối lượng
xuất khẩu gạo đạt trên 6,052 triệu tấn.Theo đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gạo
tăng từ 667 triệu USD năm 2000 lên hơn 1 tỉ USD (năm 2005); 3,67 tỉ USD (năm
2012) và đạt mức cao nhất là 3,67 tỉ USD (năm 2012).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


726

2003

3,81

720

2004

4,06

950

2005

5,25

1047

2006

4,60

1238

2007

4,55


3670

2013

6,61

2950

Nguồn : AGROINFO và VFA( Hiệp hội lương thực Việt Nam)
Về khả năng thâm nhập, mở rộng và phát triển thị trường lúa gạo của Việt Nam
đã xuất khẩu đến 128 quốc gia. Trong đó có 10 quốc gia (Philippin, Cu ba,
Malaysia, Xênêgan, I-rắc, Bờ biển Ngà, Đông-Ti-Mo, Singapore, Gana và
Indonexia) nhập với khối lượng lớn và ổn định.
Theo báo cáo thường niên ngành lúa gạo Việt Nam năm 2008 và triển vọng
2009 của trung tâm thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn (AGROINFO), xuất
khẩu gạo của Việt Nam năm 2008 giảm mạnh tại thị trường Châu Á và tăng mạnh
tại thị trường Châu Phi. Năm 2008 cũng là năm thị trường xuất khẩu gạo của Việt
Nam được mở rộng. Nếu như trong năm 2007, gạo Việt Nam được xuất khẩu đến
63 quốc gia trên vùng, lãnh thổ thì đến năm 2008, con số này đã tăng gấp đôi (128
quốc gia/vùng/lãnh thổ).
Trong năm 2009 mặc dù chịu nhiều tác động tiêu cực từ khủng khoảng kinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


tế toàn cầu và thiên tai bão lụt nhưng nước ta vượt định mức kế hoạch đạt 6,0 triệu
tấn. Luá gạo Việt Nam đã xuất khẩu vào thị trường Châu Phi với số lượng ngày
càng tăng, trong tổng số 6,2 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm 2009 thì có đến 1,8



lượng và kim ngạch so năm 2012).
Tổng sản lượng gạo xuất khẩu và chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng
được nâng cao, mặt bằng giá xuất khẩu tăng, thu hẹp khoảng cách với giá gạo tiêu
chuẩn trên thị trường thế giới. Việt Nam đã và đang dần khẳng định vị trí của
mình trên thị trường gạo thế giới, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
Do vậy, cần nhiều hơn nữa các giải pháp để tăng sản lượng gạo trong nước, nâng
cao giá gạo xuất khẩu, mở rộng diện tích trồng và chọn tạo các giống lúa có chất
lượng gạo tốt.
1.1.3 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Tại “Hội nghị tổng kết công tác xuất khẩu gạo năm 2014” ghi nhận trong
năm 2014, gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang 135 quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới, bao gồm cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Hồng Kông, Singapore...Trong đó, thị trường châu Á chiếm gần 77%, tăng
trưởng gần 24 %, thị trường châu Mỹ chiếm trên 7,6%, tăng trưởng trên 4,6%, thị
trường châu Úc chiếm 0,88%, tăng trưởng trên 12%, thị trường Trung Đông chiếm
trên 1,2 %, tăng trưởng gần 33% về lượng so với cùng kỳ năm 2014. Các thị trường
xuất khẩu trọng điểm truyền thống của Việt Nam cơ bản được giữ vững và có tăng
trưởng đáng kể. Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, thị trường
Philippin tăng trưởng trên 285%, thị trường Indonexia tăng trưởng gần 128%, thị
trường Trung Đông tăng trưởng gần 33% về lượng so với cùng kỳ năm 2013. Cơ
cấu chủng loại gạo xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, gạo
cấp thấp đã giảm trên 28% về lượng, thay vào đó là tăng trưởng mạnh xuất khẩu
gạo thơm đạt trên 1,52 triệu tấn, tăng gần 35% về lượng so với cùng kỳ năm 2013.
Các giống lúa chất lượng cao được sử dụng trong canh tác tại Việt Nam hiện
nay gồm có:
- Giống nếp và đặc sản: Nhóm giống lúa nếp và đặc sản (lúa thơm và lúa
địa phương) ngày càng được người sản xuất quan tâm và diện tích sản xuất có xu
hướng tăng do yêu cầu cao của thị trường. Trong năm 2007, tổng diện tích lúa nếp

trong canh tác thâm canh lúa so với các nước trong khu vực. Rất nhiều tiến bộ kỹ
thuật đã được áp dụng giúp nông dân nâng cao năng suất qua các phương thưc sản
xuất mới.
1.2 Vai trò của phân bón và các dạng phân bón đối với sản xuất lúa
Phân bón rất cấn thiết đối với sinh trưởng của cây trồng nói chung và đối với
cây lúa nói riêng. Bón phân đầy đủ, cân đối sẽ làm cây sinh trưởng tốt, tăng năng
suất, đóng vài trò quan trọng đối với an toàn lương thực. Qua đó, ảnh hưởng đáng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


kể đến sức khỏe con người. Việc trao giải hòa bình năm 1970 cho tiến sĩ Norman
Borlaug cho thấy thế giới đã ghi nhận mối liên kết khoa học nông nghiệp với sức
khỏe cộng đồng. Tăng cường sử dụng phân bón cho cây trồng đã đẩy mạnh sản xuất
trên một đơn vị diện tích, tăng nguồn cung cấp lượng thực cũng như góp phần vào
cải thiện chất lượng thực phẩm như bổ sung các vi lượng thiết yếu (Grant, Cynthia
and Tom W. Bruulsema (2012). Tuy nhiên cho mãi đến giữa thế kỷ 18 thế giới mới

quan tâm đến các yếu tố hóa học và dinh dưỡng cây trồng.
Bón phân là một trong những biện pháp kĩ thuật quan trọng giúp tăng năng
suất và chất lượng nông sản. Qua điều tra tổng kết vai trò của phân bón với cây
trồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy: trong số các biện pháp kĩ thuật
liên hoàn (làm đất, giống, mật độ, bảo vệ thực vật…) bón phân là biện pháp kĩ thuật
có ảnh hưởng lớn, quyết định đến năng suất và sản lượng cây trồng. Theo kết quả
điều tra của FAO trong thập niên 70-80 của thế kỉ 20 trên phạm vi toàn Thế giới
cho thấy: tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng
lên hàng năm. Ở các nước châu Á Thái Bình Dương (1979 - 1989) phân bón làm
tăng 75% năng suất lúa.
Để cho cây sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao thì trong suốt quá

lượng đạm. Phần đạm còn lại được cây lúa hút tiếp tới lúc chín. Việc cung cấp đạm
lúc cây trưởng thành là điều kiện cần thiết để làm chậm quá trình già hóa của lá,
duy trì cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng trưởng protein tích lũy
vào hạt.
Tiềm năng năng suất của các giống lúa chỉ được thể hiện khi được bón đủ
phân. Bón thiếu đạm thì cây lúa sẽ thấp, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, hàm lượng
diệp lục giảm, lúc đầu lá có màu vàng nhạt ở ngọn lá rồi dần cả phiến lá biến thành
màu vàng làm cho số bông và số hạt ít, lúa trỗ sớm, năng suất bị giảm. Còn nếu bón
thừa đạm cây lúa sẽ hút nhiều đạm làm tăng hô hấp, tăng lượng gluxit tiêu hao, lá to
và dài, phiến lá mỏng, nhánh đẻ vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vóng sẽ dẫn
đến hiện tượng đổ non, khả năng chống chịu kém và sẽ làm giảm năng suất một
cách rõ rệt.
Lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành phần chủ yếu của nhân
tế bào. Cây lúa hút lân mạnh hơn so với các loại cây trồng cạn. Cùng với đạm, lân
xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng thời cũng làm cho lúa trỗ
bông và chín sớm. Thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng cây lúa hút lân mạnh nhất. Lúa
thiếu lân, lá có màu xanh đậm, bản lá nhỏ, hẹp, lá dài ra và mềm yếu, ria mép lá có
màu vàng tía, lúa đẻ ít, thời kỳ trỗ bông và chín đều chậm lại và kéo dài. Do trỗ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


bông muộn nên hạt lép nhiều độ dinh dưỡng hạt gạo thấp, đặc biệt, lúa thiếu lân ở
thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách rõ rệt. Sự thiếu lân xảy ra phổ biến ở
đất có pH thấp hay cao: đất axít latosol, đất phèn, đất đá vôi, đất kiềm, đất ando có
khả năng cố định cao lân bón, cần lượng lân nhiều hơn bình thường.
Kết quả nghiên cứu của Yoshida (1985) mức bón phân phù hợp cho đất aaxít ở miền Bắc Nhật Bản khoảng 200 kg P2O5/ha, ở đất đá vôi Dokri - Pakistan
khoảng 45 kg P2O5/ha, ở đất đá vôi tại Ấn Độ khoảng 80 - 100 kg P2O5/ha. Khi cây
lúa được cung cấp lân thỏa đáng sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status