TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NÔI
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN BÓN
ĐỐI VỚI SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA 2 GIỐNG LÚA BẮC THƠM 7 VÀ HƯƠNG THƠM SỐ 6
VỤ MÙA NĂM 2013 TRÊN ĐẤT GIA LÂM – HÀ NỘI
Người hướng dẫn : TS. NGUYỄN XUÂN MAI
Bộ môn : CANH TÁC HỌC
Người thực hiên : LÊ THỊ NGỌC ÂN
Lớp : KHCTA – K55
HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô giáo trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt các kiến thức
bổ ích cho tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường. Đó là các kiến thức nền tảng, là
hành trang vô cùng quý giá cho tôi bước vào sự nghiệp học tập và làm việc sau này.
Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự tận tình, quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo TS. Nguyễn Xuân Mai
và cô giáo PSG.TS Hà Thị Thanh Bình là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và
truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm, phương pháp trong công việc. Tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc tới thầy cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành bài
báo cáo thực tập này.
Bên cạnh đó tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, cán bộ kỹ
thuật viên tại bộ môn Canh tác học - Khoa Nông học đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ kỹ
thuật, dụng cụ giúp tôi tiến hành thí nghiệm.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên,
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 1 năm 2014
kinh tế, xã hội. Trước đây cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì ngày
nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết
biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị.
Từ một nước thiếu đói lương thực thường xuyên, ngày nay chúng ta đã vươn
lên thành một nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới. Tuy nhiên, chất lượng
gạo xuất khẩu của nước ta chỉ được xếp vào loại thấp tới trung bình. Hiệu quả kinh tế
mang lại từ xuất khẩu gạo chưa cao, chưa xứng tầm với vị trí nước xuất khẩu gạo
đứng đầu thế giới. Một phần nguyên nhân do chúng ta tập trung mở rộng diện tích
trồng lúa, đầu tư tăng năng suất, tăng sản lượng, chọn tạo các giống lúa lai cho năng
suất cao. Song, lúa lai cho năng suất cao, nhưng không ổn định, khả năng chống chịu
kém với điều kiện ngoại cảnh. Trong khi đó, các giống lúa thuần lại thích nghi tốt với
điều kiện ngoại cảnh địa phương, năng suất không cao nhưng cho phẩm chất tốt. Với
quy trình sản xuất đơn giản, phù hợp với trình độ thâm canh của đa số người dân, nếu
giống thuần được thâm canh tốt, người dân sẽ thu lãi cao hơn.
Hiện nay, có nhiều giống thuần đã đáp ứng được yêu cầu năng suất và có triển
vọng như: Hương thơm 6, Bắc thơm 7, ĐH18, TBR288, TBR27,VS1,…Tuy nhiên,
trên thực tế vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của các giống lúa trên. Vì vậy, đối với
việc tăng năng suất và phẩm chất không chỉ chờ vào giống tốt mà phân bón cũng đóng
một vai trò hết sức quan trọng.
Phân bón cần thiết cho suốt quá trình sinh trưởng, phát triển, từ giai đoạn mạ cho
đến lúc thu hoạch. Phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất
dinh dưỡng như: tinh bột, chất béo, prôtêin . Ngoài ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự
sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn
tại.
Vì vậy, việc nghiên cứu các mức phân bón phù hợp không chỉ có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng khả năng chống chịu, tăng năng
suất, chất lượng cho lúa gạo mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân.
Mặt khác, thực tế hiện nay nông dân sử dụng phân bón chưa hợp lý, không đáp ứng đủ
hoặc quá thừa so với nhu cầu dinh dưỡng của cây.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các
0
B đến Nam bán cầu:
New South Wales (Úc): 35
0
N. Nhưng vùng phân bố chủ yếu tập trung tại Châu Á từ
30
0
B đến 10
0
N.
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có những bước tăng đáng kể
tuy nhiên đang phải chịu những áp lực, một trong số đó là áp lực về mặt dân số, nhất
là tại các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Theo Liên Hợp
Quốc ước lượng trên cơ sở dữ liệu quốc tế (IDB), hàng năm dân số thế giới tăng
khoảng 75 triệu người. Hiện nay, dân số thế giới khoảng 7,02 tỷ người; dự kiến đạt
7,52 tỷ vào năm 2020; 9,08 tỷ người năm 2050 (U.S. Census Bureau). Trong đó, 95%
dân số gia tăng này ở các nước đang phát triển của Châu Á, Châu Phi; nơi gạo là
lương thực chính. Vì vậy, thách thức lớn nhất với nhân loại trong Thế kỷ 21 là đảm
bảo lương thực, thực phẩm cho hàng tỷ người với quy mô dân số thế giới đang ngày
càng tăng.
Theo Thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAOSTAT, 2013) được thể
hiện ở bảng 2.1 cho thấy: diện tích trồng lúa thế giới năm 2012 là 163,46 triệu ha,
năng suất bình quân là 4,39 tấn/ha với tổng sản lượng 718,35 triệu tấn. Trong đó, châu
Á có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới là 145,54 triệu ha chiếm 89,04% tổng diện
tích toàn cầu, châu Phi là 10,58 triệu ha chiếm 6,47%, châu Mỹ là 6,54 triệu ha chiếm
4,0%, châu Âu là 0,69 triệu ha chiếm 0,42%, châu Đại Dương diện tích trồng lúa là
0,11 triệu ha chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới năm
2012
Tên nước Diện tích Năng suất Sản lượng
1970 132,87 2,38 316,35
1975 141,73 2,52 356,96
1980 144,41 2,75 396,87
1985 143,74 3,26 468,16
1990 146,96 3,53 518,57
1995 149,59 3,66 547,43
1996 150,30 3,79 568,91
1997 151,12 3,82 570,00
1998 151,70 3,82 579,19
1999 156,81 3,90 610,95
2000 154,06 3,89 599,36
2001 151,94 3,95 599,83
2002 147,63 3,87 571,39
2003 148,51 3,95 587,07
2004 150,55 4,04 607,99
2005 154,99 4,09 634,44
2006 155,58 4,12 641,21
2007 155,04 4,24 656,98
2008 160,00 4,30 688,41
2009 158,29 4,33 684,81
2010 161,67 4,34 701,05
2011 163,15 4,43 722,56
2012 163,46 4,40 718,35
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Từ năm 2000 diện tích trồng lúa trên thế giới có nhiều biến động và có xu
hướng giảm dần, từ 154,06 triệu ha đến năm 2004 giảm xuống còn 150,55 triệu ha.
Sau đó, từ năm 2005 tới năm 2012 diện tích lúa gia tăng liên tục và đạt 163,46 triệu
ha, cao nhất kể từ trước tới nay với tổng sản lượng 718,35 triệu tấn.
Theo FAO dự báo sản xuất lúa gạo toàn cầu trong năm 2013 đã được thiết lập ở
mức 746.400.000 tấn (497.600.000 tấn, cơ sở xay xát), tăng khoảng 300 000 tấn so
Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập, Bangladesh,
Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia, Madagascar,
Pakistan, Philippines và Thái Lan. Sự gia tăng còn do diện tích trồng lúa thế giới tăng
lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăng nhẹ lên mức 4,38
tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua.
Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với
2010. Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và Trung Quốc, với sự tham gia ở mức độ
thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam. Riêng Việt
Nam, Chính phủ tính toán sản xuất lúa đạt đến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so
với 2010, do diện tích trồng lúa thêm 200 000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng
suất đạt đến 5,5 tấn/ha.
Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3%
năm 2010 dù mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập và tăng sản xuất ở Benin,
Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu. Ba nước sản xuất lúa gạo
nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản
lượng lúa. Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấn trong
2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3
triệu tấn trong cùng thời kỳ.
Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn lúa hay 19,8
triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm 2010. Bazil là nước sản xuất lúa gạo lớn
nhất của châu Mỹ (chủ yếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7 triệu tấn 2010
nhờ khí hậu tốt. Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng.
Tuy khối lượng sản xuất lúa gạo thế giới rất lớn, chỉ sau lúa mì, nhưng số lượng
giao dịch quốc tế tương đối nhỏ, chỉ khoảng 30-34 triệu tấn gạo hay 6-7% mỗi năm,
do chính sách tự túc của nhiều nước. Vì vậy, thị trường thế giới dễ bị dao động khi có
những biến chuyển nhỏ trong ngành sản xuất. Năm 2012, Ấn Độ là nước xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới với 9,5 triệu tấn; xếp vị trí số 2 là Việt Nam với 7,8 triệu tấn
chiếm 20% tổng sản lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới; vị trí số 3 là Thái Lan với 6,9
triệu tấn. Bên cạnh đó, các quốc gia nhập khẩu gạo nhiều nhất là: Philippin, Iran,
Nigieria, Trap,
1997 7099,7 3,88 27523,9
1998 7362,7 3,96 29145,5
1999 7653,6 4,10 31393,8
2000 7666,3 4,24 32529,5
2001 7492,7 4,29 32108,4
2002 7504,3 4,59 34447,2
2003 7452,2 4,64 34568,8
2004 7445,3 4,86 36148,9
2005 7329,2 4,89 35832,9
2006 7324,8 4,89 35849,5
2007 7207,4 4,99 35942,7
2008 7400,2 5,23 38729,8
2009 7437,2 5,24 38950,2
2010 7489,4 5,34 40005,6
2011 7655,4 5,54 42398,3
2012 7753,2 5,63 43661,6
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Theo những số liệu của bảng 2.4 cho thấy: diện tích đất trồng lúa của nước ta
liên tục tăng từ những năm 1970 với 4724,4 nghìn ha đến năm 2000 đạt 7666,3 nghìn
ha với năng suất trung bình 4,24 tấn/ha và tổng sản lượng lúa đạt được 32,53 triệu tấn
(bình quân tổng sản lượng lúa lên đến 416,3 kg/người).
Nhưng từ năm 2001 diện tích trồng lúa bắt đầu có xu hướng giảm dần, đặc biệt
vào giai đoạn 2005 – 2007 thì diện tích trồng lúa giảm mạnh; còn 7207,4 nghìn ha
(năm 2007). Tuy nhiên, từ những năm 2008 diện tích trồng lúa có dấu hiệu phục hồi
và đang dần được tăng lên, đạt 7753,2 nghìn ha vào năm 2012, cao nhất từ trước đến
nay. Song song với việc phục hồi và mở rộng diện tích trồng lúa, năng suất lúa cũng
ngày càng được nâng cao, đạt 5,63 tấn/ha (2012), góp phần đáng kể tăng sản lượng
lúa gạo của cả nước.
Bảng 2.5 Sản lượng lúa theo vụ ở Việt Nam các năm gần đây
Đơn vị: 1000 tấn
Đến năm 2010, xuất khẩu gạo tiếp tục đạt mức kỷ lục mới về cả số lượng và trị giá,
với 6,75 triệu tấn và thu được gần 3 tỷ USD.
Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) năm 2012, xuất khẩu
gạo đạt 7,72 triệu tấn, đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng gần 8,3% về số lượng nhưng lại giảm
1,98% về trị giá so với năm 2011; giá xuất khẩu bình quân đạt xấp xỉ 447 USD/tấn.
Về chủng loại xuất khẩu gạo: cao cấp là 3,5 triệu tấn (chiếm 46,3%); gạo cấp trung
bình là 1,8 triệu tấn (chiếm 23,5%), số còn lại là gạo cấp thấp. Trong đó, Châu Á là thị
trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 77,7% tổng lượng gạo xuất khẩu
của cả nước (tương đương 6 triệu tấn). Năm 2012, Indonesia, Phillipines và Malaysia
vẫn tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu truyền thống. Tiềm năng tiêu thụ gạo của các
thị trường này vẫn còn khá lớn, tuy nhiên, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
(USDA), trong vài năm tới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường
này sẽ bị thu hẹp dần.
Bên cạnh đó, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2 đến
1,5 triệu tấn gạo. Năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang 32 nước châu Phi, kim
ngạch đạt 745,4 triệu USD, tăng 33% so với năm 2010, còn 9 tháng đầu năm 2012,
kim ngạch xuất khẩu gạo sang khu vực này đạt 680,14 triệu USD.
Tổng sản lượng gạo xuất khẩu và chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng được
nâng cao, mặt bằng giá xuất khẩu tăng, thu hẹp khoảng cách với giá gạo tiêu chuẩn
trên thị trường thế giới. Việt Nam đã và đang dần khẳng định vị trí của mình trên thị
trường gạo thế giới, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Do vậy, cần nhiều
hơn nữa các giải pháp để tăng sản lượng gạo trong nước, nâng cao giá gạo xuất khẩu,
mở rộng diện tích trồng và chọn tạo các giống lúa có chất lượng gạo tốt.
2.2 Dinh dưỡng của cây lúa
2.2.1 Dinh dưỡng đạm
Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng nói chung và với cây lúa
nói riêng, đạm giữ vai trò đặc biệt trong việc tăng năng suất. Nó là một trong những
thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục. Tại các bộ phận non của
cây có hàn lượng đạm cao hơn các bộ phận già.
Đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao cây và
lúa. Hiện tượng lúa lốp, đổ là do cây thừa đạm, làm hô hấp của cây tăng lên, lượng
gluxit tiêu hao nhiều, làm giảm sự hình thành xenlulo và licnin nên làm cho màng tế
bào mỏng đi, tổ chức cơ giới trong thân lá phát triển kém.
Lượng đạm bón ảnh hưởng tới tính chất vật lý và sức đề kháng sâu bệnh của
cây lúa. Trong cả trường hợp thừa hoặc thiếu đạm đều làm sức đề kháng của cây lúa
yếu đi. Trường hợp bón quá nhiều đạm, đặc biệt không cân đối với lân, kali và nguyên
tố trung lượng, vi lượng làm cho lá lúa quá tốt, mềm yếu, khả năng bị sâu bệnh và côn
trùng tấn công mạnh hơn. Và bón quá nhiều đạm trong điều kiện khí hậu ẩm ướt làm
cho thành tế bào mỏng hơn (do hàm lượng axit amin và amino axit cao, trọng lượng
phân tử đường thấp) giảm sức chống đỡ của thành tế bào từ đó thích hợp cho sự phát
triển của sâu bệnh.
Ảnh hưởng của đạm tới yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng lúa gạo
Năng suất lúa được cấu thành thành bởi các yếu tố: số bông/đơn vị diện tích, số
hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Trong các yếu tố cấu thành năng suất
trên, đạm ảnh hưởng nhiều nhất tới số bông/đơn vị diện tích. Tuy nhiên, đạm cũng làm
tăng số gié/bông do đó làm tăng số hạt/bông. Trọng lượng 1000 hạt thường ít bị ảnh
hưởng bởi lượng đạm bón, nhưng nếu bón thừa hoặc thiếu đạm có thể làm giảm trọng
lượng 1000 hạt.
Tinh bột và protein là 2 chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá chất lượng lúa
gạo. Liều lượng và thời gian bón đạm có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hàm
lượng protein trong hạt gạo, nhưng bón quá nhiều thì sẽ làm cho mức độ tăng của hàm
lượng protein bị giảm đi. Khi làm thí nghiệm bón đạm sau khi lúa trỗ với cách bón
một lần toàn bộ số lượng đạm và bón rải 5 lần (Honjyo, 1971) đã đưa ra kết luận: bón
đạm nhiều lần rải rác làm giảm hàm lượng protein trong hạt gạo so với bón tập trung.
2.2.2 Dinh dưỡng lân
Sau đạm thì lân là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng đối với quá trình sinh
trưởng, phát triển, năng suất của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng.
Lân là một trong những chất cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của
cây, do lân có mặt trong thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng nhất đối với
cây: glyxerophotphat – chất đầu tiên của quá trình quang hợp, ATP, ADN, ARN. Các
2.2.3 Dinh dưỡng kali
Kali không phải là chất tham gia vào bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào của cây
nhưng nó đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy các hoạt động sinh lý trong cây, thúc đẩy
quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp vào bộ phận thu hoạch. Kali được cây hút
dưới dạng ion K
+
, cây lúa hút kali với lượng tương đương như đạm, nhưng hút thừa
kali không gây hại bằng hút thừa đạm.
Kali có ảnh hưởng mạnh tới quá trình hình thành, vận chuyển và trao đổi gluxit
trong chu trình quang hợp. Thiếu kali thì hoạt động của men amylaza và invectaza sẽ
bị kìm hãm. Kali làm tăng thủy hóa của chất nguyên sinh, do đó làm giảm độ nhớt cấu
trúc và làm tăng khả năng giữ nước trong tế bào. Nhờ vậy, kali có khả năng tăng tính
chống hạn của cây. Ở cây lúa kali làm tăng dảnh hữu hiệu, tăng tổng số hạt và hạt
chắc trên bông. Kali cũng có khả năng làm tăng tính chịu nóng và chịu rét cho cây. Từ
thử nghiệm cho thấy thiếu kali áp suất trương của cây bị giảm, dẫn đến tăng cường
quá trình thoát hơi nước khi bị khô hạn. Thiếu kali cây hô hấp cũng bị giảm dẫn đến
kìm hãm quá trình tổng hợp đường, phá hủy trao đổi phosphat cũng như hình thành
phosphat cao năng.
Kali có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa
trong điều kiện ngập nước nên có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển cũng
như năng suất của cây lúa. Ngoài ra, kali còn thúc đẩy hình thành licnin, xellulo làm
cho cây cứng cáp hơn, chịu được nước sâu, giảm đổ và chống chịu sâu bệnh tốt hơn.
Thời gian hút kali của lúa kéo dài hơn so với đạm, lân và kéo dài đến cuối thời
kỳ sinh trưởng. Trong đó, tỷ lệ kali cây hút trong thời kỳ từ cấy – đẻ nhánh chiếm 20,0
– 21,9%, phân hóa đòng – trỗ chiếm 51,8 – 61,9%, vào chắc – chín chiếm 16,2 –
27,7% nhưng chỉ khoảng 20% số kali hút được vận chuyển về bông hạt, lượng còn lại
tích lũy trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ). Nhu cầu kali của cây lúa cao
nhất ở hai thời kỳ lá đẻ nhánh và làm đòng, cây lúa hút kali mạnh nhất ở thời kỳ làm
đòng nhưng thiếu kali ở thời kỳ đẻ nhánh lại ảnh hưởng mạnh tới năng suất của lúa.
Theo Matsuto, giữa việc hút đạm và kali có một mối tương quan thuận, tỷ lệ
lượng đạm ở mức thấp. Có 2 đỉnh hiệu suất, cao nhất là thời kỳ đẻ nhánh và 19 – 9
ngày trước trỗ. Nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2.
Theo Cooke (1975), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và
chất lượng hạt lúa đã kết luận: năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng đạm
bón, nếu bón 100 - 150 kg N/ha có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha.
Tác giả Yoshida (1978), cho rằng ở các nước nhiệt đới, lượng các chất dinh
dưỡng N, P, K cần để tạo ra một tấn thóc khô trung bình là 20,5 kg N + 5,5 kg P
2
O
5
+
4,4 kg K
2
O. Tỷ lệ hút đạm tùy theo từng chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian
bón đạm và kỹ thuật quản lý khác. Ở các vùng nhiệt đới hiệu suất sử dụng đạm đối với
sản lượng hạt vào khoảng 50kg thóc khô/1 kgN được hút, tại Nhật Bản khoảng 62 kg,
còn ở các nước ôn đới hiệu suất này cao hơn khoảng 20% (Yoshida, 1985).
Mutara (1965), Yoshida (1985) đã nói: đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng
đối với lúa, lượng đạm cây hút vào thời kỳ đẻ nhánh quyết định 74% năng suất. Khi
được bón đạm đầy đủ năng suất lúa tăng lên nhờ tăng số dảnh hữu hiệu, tăng chiều dài
bông, tăng số hạt trên bông và tăng khối lượng nghìn hạt.
Một nghiên cứu khác của Mutara cho thấy: mặc dù lượng hút dinh dưỡng khác
nhau ở các mức năng suất, song lượng chất dinh dưỡng cần để tao ra một tấn thóc là
một chỉ só ổn định, có thể coi là cơ sở để tính toán nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa .
Để sản xuất ra một tấn thóc cây lúa cần 20,5 kg N ; 8,5 kg P
2
O
5
và 19,3kg K
2
2
O
5
/ha và 27 kg
K
2
O/ha. Lượng phân đạm nên bón tập trung vào giai đoạn đầu, dành khoảng 20% bón
vào thời kỳ nuôi đòng, nuôi hạt.
Kết quả nghiên cứu của Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (1985 – 1994)
chứng minh rằng: bón đạm trên nền bón 60 P
2
O
5
và 30 K
2
O thì năng suất lúa tăng từ
15 – 48,5% trong vụ Đông Xuân và 8,5 – 35,6% trong vụ Hè Thu. Chiều hướng chung
của cả 2 vụ lúa là bón đến 90 N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức này năng suất
lúa tăng không đáng kể (Nguyễn Văn Luật, 2001).
Đối với giống lúa ngắn ngày để đạt năng suất cao, ngoài lượng phân chuồng,
phân lân và kali bón lót; có thể bón đạm ở mức 90 – 120 kgN/ha. Bón 90 kgN/ha hiệu
quả tăng sản lượng rõ hơn. Về tỷ lệ bón, trong vụ xuân nên bón nặng lót hơn (tỷ lệ
bón lót – nhánh – đòng là 6:3:1), còn trong vụ mùa nên bón nặng nhánh (tỷ lệ 3:6:1).
Trong điều kiện phân bón có hạn nên quan tâm đến tỷ lệ bón thích hợp vào các thời kỳ
(Hà Công Vượng, 1988 – 1992).
Theo Nguyễn Vi và Trần Khải (1978): thì trên đất phù sa sông Hồng lúa chịu
được lượng đạm bón 180kg N/ha (vụ xuân) và 150kg N/ha (vụ mùa). Trên đất bạc
màu bón lượng đạm 150kg N/ha vẫn làm tăng năng suất lúa. Tuy vậy, mức 120kg/ha
là hiệu quả nhất, hiệu suất bón đạm cho lúa lai trung bình 10 – 14kg thóc/kg N, với
lúa thường đạt 7- 8 kg thóc/kg N. Khi lượng bón đạm lên đến 150kg N/ha thì hiệu lực
Theo Actiomenko (1958) cho rằng, hàm lượng lân trong lúa cao nhất ở thời kỳ
mạ rồi giảm dần, đến thời kỳ đẻ nhánh lại tăng lên và đạt đỉnh cao thứ hai vào giữa
thời kỳ làm đòng, sau đó lại giảm xuống.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Hoa Đông (1959), bón
đủ lân thì lúa chín sớm hơn 2 ngày, trọng lượng nghìn hạt tăng từ 0,4 – 1 gam, chiều
dài bông có thể tăng từ 8,17 – 12,53%.
Công trình nghiên cứu của Vilek (1986), Sinclair (1989) về đặc điểm bón phân
cho các giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhất là phân
lân cao hơn so với giống cũ. Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali, là cơ sở để
tăng năng suất cây trồng. Phân lân bón cho lúa có hiệu quả đứng thứ hai sau đạm,
nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo mùn thì phân lân lại làm tăng
năng suất nhiều hơn đạm. Tuy nhiên, bón phân lân cùng với đạm là điều kiện tốt để
phát huy hiệu quả của phân lân.
Khi cây bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại; sức đẻ nhánh
giảm, đẻ muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài. Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình phân
lân có ảnh hưởng tốt đến cây lúa, nó làm cho trọng lượng phần trên mặt đất của cây
lúa tăng khá lớn, sau đó tới thời kỳ chín mức tăng của trọng lượng thân cây giảm. Ở
những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu lực của phân lân đối với năng suất lúa không
lớn. Bón phân lân làm lúa cứng cây, tăng khả năng chống đổ.
Nghiên cứu của Brady, Nylec (1985) cho thấy: hầu hết các loại cây trồng hút
không quá 10 – 13% lượng lân bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây lúa, chỉ cần giữ
cho lân có trong đất khoảng 0,2ppm hoặc thấp hơn một chút là có thể cho năng suất
tối đa. Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với các loại phân khác như đạm, kali mới nâng
cao được hiệu quả của nó.
Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của lân đối với việc tạo thành hạt thóc
của Kamurava và Ishizaka (1996) cho thấy: thời kỳ lân có hiệu suất cao nhất là thời kỳ
đầu sau cấy 10 – 20 ngày.
2.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Lân bón cho lúa ở Việt Nam.
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, cây lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ
đẻ nhánh và làm đòng. Theo Đào Thế Tuấn, trong điều kiện chất dinh dưỡng được
, đối với đất xám bạc màu có thể bón
80 – 90 kg P
2
O
5
/ha, đất phèn cần 90 – 150 kg P
2
O
5
/ha.
Theo kết quả nghiên cứu bón lân cho lúa của trường Đại học Nông Nghiệp II tại
xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (1994): trong vụ Xuân bón
lân cho lúa từ 30 – 120 kg P
2
O
5
/ ha đều làm tăng năng suất lúa từ 10 – 17%, với liều
lượng 90 kg P
2
O
5
/ ha cho năng suất cao nhất, nếu bón trên 90 kg P
2
O
5
/ ha thì năng
suất có xu hướng giảm.
Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh và cs (1995): nhu cầu về lân của lúa thuần
không có gì khác biệt so với các giống lúa lai có cùng thời gian sinh trưởng. Lúa cho
năng suất 7 tấn/ha thì cây lúa hút khoảng 50 – 60 kgP