VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HOÀI NAM
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM VỀ
TÌNH DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HOÀI NAM
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC
TỘI PHẠM VỀ TÌNH DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 838.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN HỮU TRÁNG
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội phạm về
tình dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ......................................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI
1
ANTT
An ninh trật tự
2
BLHS
Bộ Luật hình sự
3
CAND
9
TAND
Tòa án nhan dân
10
UBND
Ủy ban nhân dân
11
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
Chương trình quốc gia
phòng chống tội phạm
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số vụ và số người phạm các TPVTD bị xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2013 – 2017.
Bảng 2.2. So sánh tình hình các TPVTD với tình hình tội phạm nói chung trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam nói chung giai đoạn 2013 đến 2017.
Bảng 2.3. So sánh tình hình các TPVTD với tình hình các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự nhân phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013 đến 2017.
trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây
dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95% [95].
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, hiện nay tỉnh Quảng Nam có những
bước phát triển đáng kể về mọi mặt. Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp, khu
kinh tế mở Chu Lai, Khu đô thị Vinpearl Nam Hội An, khu công nghiệp Điện Nam Điện Ngọc đang đưa Quảng Nam trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 và đẩy
nhanh quá trình đô thị hóa. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng với lực lượng
lao động dồi dào sẽ làm tăng mức độ di động dân số trong nội tỉnh cũng như ngoại
tỉnh và sẽ làm tăng mức độ giao thoa văn hóa [94, tr. 6].
Bên cạnh những mặt tích cực góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội thì những
năm gần đây, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh vẫn còn những diễn biến
phức tạp như: Tình trạng nhập cư, cư trú trái phép gia tăng và diễn biến phức tạp; sự
xâm nhập của văn hóa phẩm độc hại, lối sống thực dụng thích hưởng thụ ăn chơi,
đam mê phim ảnh có nội dung đồi trụy, kích thích tình dục của một bộ phận người
dân, các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm... đang ngày càng phát triển. Tình hình
tội phạm nói chung, đặc biệt là các tội phạm về tình dục (TPVTD) đã và đang gây
ra những tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội, làm suy đồi, xuống cấp các
giá trị đạo đức đức tốt đẹp, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân
dân, ảnh hưởng đến tình hình ANTT tại địa phương.
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (TAND) từ năm
2013 đến năm 2017 trên địa bàn toàn tỉnh đã xét xử sơ thẩm 4.268 vụ án hình sự với
7.382 bị cáo, trong đó số vụ án TPVTD là 142 vụ/151 bị cáo chiếm tỷ lệ 3,33% vụ
và 2,14% bị cáo [Xem bảng 2.1].
Trong những năm qua chính quyền tỉnh Quảng Nam đã quan tâm đến công
tác phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình các TPVTD
nói riêng. Đã có nhiều giải pháp được các cơ quan chức năng của tỉnh triển khai
1
thực hiện, góp phần ngăn chặn phần nào loại tội phạm nguy hiểm này.
2
bản trong Tội phạm học và Xã hội học tội phạm làm nền tảng lí luận cho việc nhận
thức, trong đó có nhận thức về phòng ngừa tình hình các TPVTD.
- Nhóm các công trình nghiên cứu thực tiễn về phòng ngừa các TPVTD,
thuộc nhóm này có các công trình tiêu biểu sau:
+ Lê Hữu Du (2015), Đấu tranh phòng chống tội hiếp dâm trẻ em ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội;
+ Trần Phương Đạt (2004) “Phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em ở Việt Nam
theo chức năng của lực lượng CSND”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
+ Vũ Đức Trung (2005), “Tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em các tỉnh, thành
phố phía Nam, thực trạng và giải pháp”, Đề tài khoa học cấp Bộ.
+ Lê Tấn Tới (2009), “Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm
xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu”, Luận văn Thạc sĩ, Đại
học CSND;
+ Đặng Xuân Nam, (1999) “Tội hiếp dâm trẻ em và đấu tranh phòng chống
tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sỹ luật học;
+ Trịnh Thị Thu Hương, 2004 “Các tội phạm tình dục và đấu tranh chống
các tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ luật học;
+ Nguyễn Thu Hương, 2004 “Nghiên cứu trường hợp về hiếp dâm tại Việt
Nam qua con mắt nạn nhân”, Luận văn Thạc sỹ;
+ Dương Thị Quỳnh Mận, 2006 “Đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trẻ
em trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn thạc sỹ;
+ Bùi Thị Thanh Loan, 2011 “Phòng ngừa tội phạm hiếp dâm trẻ em trên
địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ;
+ Trần Văn Thưởng, 2012 “Đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trẻ em
trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, Luận văn thạc sỹ;
+ Phạm Thế Hùng (2012), Đặc điểm nhân thân người phạm tội hiếp dâm
nhóm các TPVTD; làm rõ những đặc thù trong hoạt động phòng ngừa các TPVTD
trên một địa bàn cụ thể. Đây sẽ là những kết quả mà đề tài sẽ kế thừa trong quá trình
triển khai nghiên cứu.
Tuy nhiên, hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực
trạng phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, từ đó đưa ra các
giải pháp mang tính đặc thù cho địa bàn tỉnh Quảng Nam trong phòng ngừa các
TPVTD. Đây chính là những vấn đề đặt ra và sẽ được luận văn tập trung giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn hướng đến mục đích đề xuất được các giải pháp có
4
hiệu quả để tăng cường phòng ngừa các TPVTD trên địa bàn tỉnh Quảng nam trong
thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm nói
chung và những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các TPVTD như khái niệm,
cơ sở của phòng ngừa, các nguyên tắc phòng ngừa, các biện pháp phòng ngừa và
chủ thể phòng ngừa các TPVTD.
- Đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam, cụ thể là: Khái quát tình hình các TPVTD trong năm năm qua, thực
trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa và thực trạng áp dụng các biện pháp phòng
ngừa tình hình các TPVTD; Xác định những hạn chế, nguyên nhân của những hạn
chế của hoạt động phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động phòng ngừa tình hình các TPVTD trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác Lênin; các quan điểm, chính
sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động
phòng ngừa tội phạm, trong đó có các TPVTD.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là các
phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp
phân tích, suy luận logic, diễn dịch, quy nạp… được sử dụng khi nghiên cứu những
vấn đề lý luận tại chương 1.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, nghiên cứu bản án, nghiên cứu tài liệu,
so sánh, đối chiếu, quy nạp, diễn dịch, lịch sử… được sử dụng trong việc tổng hợp,
phân tích kết quả từ các hoạt động phòng ngừa tội phạm, các số liệu thống kê về
tình hình tội phạm, các bản án có hiệu lực của Tòa án, phân tích thực trạng hoạt
động phòng ngừa tội phạm của các chủ thể phòng ngừa tại chương 2 cũng như các
kiến nghị, đề xuất ở chương 3.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê
số vụ phạm tội, số người phạm các TPVTD, thống kê một số đặc điểm về nhân thân
người phạm các TPVTD, thống kê các loại hình phạt được Tòa án áp dụng, thống
kê thiệt hại do các tội phạm này gây ra tại chương 2 của luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Phương pháp nghiên cứu điển hình
được sử dụng khi nghiên cứu điển hình một số địa bàn tập trung nhiều các TPVTD,
6
nghiên cứu điển hình các đặc điểm nhân thân một số người phạm các TPVTD tại
chương 2.
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Phương pháp nghiên cứu so sánh được
sử dụng khi tác giả so sánh mức độ, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm trong
những giai đoạn khác nhau tại chương 2.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả nghiên cứu về thực trạng phòng ngừa tình hình các TPVTD
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là những hạn chế còn tồn tại đã ảnh hưởng
đến hiệu quả của hoạt động này trong thời gian qua, luận văn có thể là tài liệu tham
khảo để các chủ thể phòng ngừa tội phạm tham khảo, rút kinh nghiệm nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
Luận văn được cấu trúc thành 03 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các tội phạm về
tình dục.
Chương 2: Thực tiễn phòng ngừa tình hình các tội phạm về tình dục trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội
phạm về tình dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC
TỘI PHẠM VỀ TÌNH DỤC
1.1. Khái niệm, ý nghĩa và các nguyên tắc phòng ngừa tình hình các tội
phạm về tình dục
1.1.1. Khái niệm các tội phạm về tình dục
Các TPVTD quy định trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ
sung năm 2009 trong chương XII có 6 tội danh gồm các tội sau: Tội hiếp dâm (Điều
111); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112); Tội cưỡng dâm (Điều 113); Tội cưỡng dâm
trẻ em (Điều 114); Tội giao cấu với người chưa thành niên (Điều 115) và Tội dâm ô
nhân dân, 2004), của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1999); Các sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự của
Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (Nxb Chính trị quốc gia, 1994), Tội phạm
học Việt Nam - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của Viện nghiên cứu nhà nước và
pháp luật (Nxb Công an nhân dân, 2000); Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội
phạm của Nguyễn Xuân Yêm (Nxb Công an nhân dân, 2001) đều có đề cập đến
khái niệm về phòng ngừa tình hình tội phạm.
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb Văn hoá thông
tin Hà Nội, 1999) thì "Phòng ngừa là phòng không cho điều bất lợi, tác hại xảy
ra;“Phòng là tìm cách ngăn ngừa, đối phó với điều không hay có thế xảy ra, gây
tác hại cho mình" [96, tr. 1339].
Từ điển Bách khoa CAND định nghĩa “Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các
biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm chủ động ngăn chặn không để cho tội
phạm xảy ra, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu những hậu
quả tiêu cực do hành vi phạm tội xảy ra. Nếu có tội phạm xảy ra thì phải kịp thời
phát hiện, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tiến hành giáo dục, cải tạo
người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Phòng ngừa tội phạm mang
tính hệ thống, đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội và công dân. Chủ thể chính của hoạt động phòng ngừa tội phạm là các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tập thể lao động và cá nhân từng công
dân. Ở Việt Nam phòng ngừa tội phạm mang tính kế hoạch, có sự chỉ đạo chặt chẽ
của các cơ quan nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội dưới sự lãnh đạo của
các cấp ủy Đảng” [76, tr.956].
10
Giáo trình “Tội phạm học” – Tổng cục xây dựng lực lượng CAND đưa ra
định nghĩa “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp hướng tới thủ tiêu những nguyên
1.1.3. Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội phạm về tình dục
Các TPVTD đang gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân, cho xã hội, ảnh hưởng
tới TTATXH. Khi phòng ngừa tình hình các TPVTD đạt hiệu quả thì mọi người
trong xã hội có điều kiện được hưởng các quyền tự do, có điều kiện hưởng thụ các
giá trị vật chất và tinh thần vì những thiệt hại do các TPVTD gây ra cho xã hội đã bị
hạn chế tối đa.
+ Về kinh tế:
Phòng ngừa tình hình các TPVTD có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế.
Điều này thể hiện ở những chi phí mà Nhà nước phải bỏ ra cho hoạt động phát hiện,
điều tra, xử lý tội phạm, những chi phí trong quá trình thi hành án... Số tiền dùng
phục vụ cho công tác tố tụng sẽ có ý nghĩa tích cực nếu được đầu tư vào các hoạt
động an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề về xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, giải
quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống vật chất tinh thần và nhận thức pháp
luật của người dân.
+ Về chính trị:
Phòng ngừa các TPVTD có ý nghĩa trong việc bảo đảm uy tín của Đảng, Nhà
nước, các cơ quan thực thi pháp luật của Nhà nước ta trong quan hệ đối nội và đối
ngoại. Bảo đảm cho người dân được yên tâm sống trong một xã hội văn minh không
có tội phạm là môi trường lý tưởng cho du khách và bạn bè quốc tế đến giao lưu, du
lịch đầu tư làm ăn với Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng.
+ Về an ninh, trật tự:
Phòng ngừa tốt không để cho tội phạm xảy ra hoặc hạn chế thấp nhất tình
trạng phạm tội sẽ làm cho hoạt động tổ chức quản lý xã hội được dễ dàng hơn, các
chủ thể quản lý xã hội sẽ không bị rơi vào tình trạng căng thẳng đối phó với tội
phạm và nhất là người dân sẽ được sống trong môi trường trong lành, an toàn hơn.
+ Về quản lý xã hội:
Thông qua hoạt động phòng ngừa loại tội phạm này, các cơ quan chức năng
kiểm soát được tình hình các TPVTD của một địa phương hay toàn xã hội. từ đó có
biện pháp để hạn chế tiến tới xóa bỏ các nguyên nhân điều kiện làm phát sinh tội phạm.
ngừa tình hình các TPVTD, do đó cần có sự phối hợp hoạt động một cách chặt chẽ.
Thực tiễn cho thấy những thiếu sót, hạn chế từ các hoạt động phòng ngừa này là vấn
đề cần phải giải quyết.
13
- Nguyên tắc khoa học và tiến bộ
Đây là nguyên tắc đòi hỏi việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình
các TPVTD phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, tức là phải dựa trên cơ sở lý
luận và thực tiễn. Đối với nhóm các TPVTD cần áp dụng sự tiến bộ trong các lĩnh
vực khoa học: y học về gen, tâm thần học, tâm lý học... nhằm nâng cao hiệu quả
phòng ngừa.
1.2. Cơ sở pháp lý của phòng ngừa tình hình các tội phạm về tình dục
Việc tiến hành phòng ngừa tình hình tội phạm được các chủ thể tiến hành dựa
trên các cơ sở pháp lý sau đây:
- Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác
xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Khoản 1 điều 20).
- Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) xác định những hành vi
nào là các TPVTD, từ đó có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả; quy định về trách
nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm thuộc về các cơ quan Công an,
Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra. Các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm
thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn giúp đỡ các cơ
quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, giám sát và giáo dục người phạm các TPVTD tại cộng đồng (Điều 4).
- Bộ luật Hình sự sửa đổi 2015 là cơ sở để xác định chi tiết cụ thể từng loại tội
danh nào được coi là TPVTD để có các biện pháp phòng ngừa phù hợp. Ngoài ra
trong BLHS quy định về trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của
cấm đó là cưỡng ép quan hệ tình dục (điều 2).
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng,
chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thông tư số 18,19,20,21,22/TT-BCA ngày 1/4/2013 quy định về công tác
điều tra cơ bản, sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án, xây dựng và sử
dụng công tác nghiệp vụ bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa
tội phạm.
15
1.3. Chủ thể, biện pháp phòng ngừa tình hình các tội phạm về tình dục
1.3.1. Chủ thể phòng ngừa tình hình các tội phạm về tình dục
Chủ thể phòng ngừa các TPVTD là những cá nhân và tổ chức tham gia
phòng ngừa các tội phạm này một cách thường xuyên và có hệ thống. Chủ thể
phòng ngừa các tội phạm này bao gồm chủ thể lãnh đạo quá trình phòng ngừa và
chủ thể thực hiện quá trình phòng ngừa tội phạm. Có thể hiểu, chủ thể phòng ngừa
các TPVTD bao gồm:
- Chủ thể lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tình hình các TPVTD
Điều 4 Hiến pháp năm 2013 có quy định “Đảng cộng sản Việt Nam là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Phòng ngừa tình hình các TPVTD là hoạt
động vừa mang tính Nhà nước vừa mang tính xã hội, vì vậy rất cần có sự lãnh đạo
của Đảng. Với vai trò là tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo xã hội, Đảng Cộng sản
Việt Nam phòng ngừa các tội phạm nói chung trong đó có các TPVTD thông qua
các Nghị quyết của Đảng để định hướng phòng chống tội phạm nói chung, trong đó
có các TPVTD.
- Chủ thể thực hiện các hoạt động phòng ngừa tình hình các TPVTD
+ Chủ thể ban hành pháp luật phòng ngừa tình hình các TPVTD
Quốc hội: Là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất có quyền lập hiến và lập
các TPVTD; trực tiếp tham gia hoạt động phát hiện, điều tra, khởi tố vụ án, khởi tố
bị can; là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, tạo điều kiện cho các
chủ thể khác, nhất là quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động phòng chống tội
phạm, các TPVTD (điều 4).
Viện kiểm sát: Là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp có vai trò trong việc phối hợp với các chủ thể khác xây dựng, triển
khai các chương trình phòng chống các tội phạm. Viện kiểm sát có vai trò trực tiếp
trong việc kiểm sát hoạt động điều tra các TPVTD, thực hiện chức năng truy tố và
buộc tội trong hoạt động xét xử các TPVTD (điều 2).
Tòa án: Với chức năng xét xử, TAND các cấp có vai trò phòng ngừa các
TPVTD thông qua hoạt động xét xử để phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung cho
toàn xã hội, giám sát hoạt động thi hành án đối với người phạm các TPVTD. Ngoài
ra, TAND các cấp còn có vai trò trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phối
hợp với các chủ thể khác xây dựng và triển khai các kế hoạch phòng chống tội
phạm, trong đó có các TPVTD (Điều 1).
17
Các tổ chức và các cá nhân, công dân:
Các tổ chức có vai trò phòng ngừa các TPVTD bao gồm: Các tổ chức chính
trị, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế… Các tổ chức này tham gia phòng
ngừa các TPVTD thông qua việc giáo dục, kiểm tra, giám sát cán bộ, nhân viên
thuộc tổ chức đó thực hiện các biện pháp phòng ngừa, cung cấp thông tin, tài liệu có
ý nghĩa phòng ngừa tội phạm nói chung, trong đó có các TPVTD cho các cơ quan
chức năng, phối hợp với các chủ thể khác thực hiện các chương trình phòng ngừa
các TPVTD (k.2 điều 4, BLHS - 2015).
Các cá nhân công dân: K.3 điều 4, BLHS - 2015 quy định mọi công dân có
nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Công dân tham gia vào hoạt động
phòng ngừa các TPVTD thông qua việc phát hiện và tố giác tội phạm, giúp đỡ những
cụ thể đến các TPVTD, hạn chế khả năng làm phát sinh các TPVTD trên địa bàn. Ví
dụ, tuyên truyền pháp luật các TPVTD và trang bị hệ thống camera giám sát an ninh
tốt sẽ có tác dụng phòng ngừa tình hình các TPVTD trên địa bàn dân cư; áp dụng
các biện pháp nghiệp vụ cơ bản trong công tác nắm tình hình, xây dựng và sử dụng
mạng lưới bí mật, điều tra đối tượng, xác minh hiềm nghi, công tác đấu tranh
chuyên án và công tác điều tra trong hoạt động của Công an nhân dân; Hay hoạt
động của Tòa án xét xử nghiêm minh đúng người đúng tội có tính răn đe và giáo
dục xã hội;…
Để phòng ngừa tình hình các TPVTD có hiệu quả cần kết hợp áp dụng các
biện pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.
- Căn cứ vào nội dung, tính chất của biện pháp phòng ngừa tình hình của
các TPVTD
+ Biện pháp chính trị xã hội là biện pháp pháp có tính chất chính trị - tư
tưởng, tác động chủ yếu đến lĩnh vực chính trị. Loại biện pháp này làm hạn chế khả
năng làm phát sinh tình hình các TPVTD, các hoạt động phòng ngừa hướng đến
phòng ngừa và khắc phục các biến dạng phạm tội trong ý thức nhóm, trong dư luận
xã hội. Ví dụ, biện pháp tuyên truyền vận động quần chúng cảnh giác, nâng cao nhận
thức đấu tranh chống các TPVTD; giáo dục người dân có thái độ không khoan nhường
với các TPVTD, khắc phục các quan điểm đạo đức không đúng đắn hình thành các tư
tưởng lệch lạc phạm tội trong mỗi con người.
+ Biện pháp tâm lý – văn hóa xã hội là những biện pháp tác động đến đời
sống tinh thần của xã hội, nhằm nâng cao trình độ nhận thức, hình thành nhân cách
19