VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG NGỌC ANH
CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ TRÊN ĐỊA BÀN
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
VÀ PHÒNG NGỪA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG NGỌC ANH
CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ TRÊN ĐỊA BÀN
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
VÀ PHÒNG NGỪA
Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN MINH CHẤT
HÀ NỘI, 2019
Chương 3: PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ
TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ TRONG THỜI GIAN TỚI ...................46
3.1.Lý luận phòng ngừa tình hình các tội phạm về khủng bố .........................................46
3.2.Thực trạng phòng ngừa tình hình các tội phạm về khủng bố tại Việt Nam nói
chung và trên địa bàn miền Đông Nam Bộ nói riêng.. ....................................................48
5
3.2.Các giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội phạm về khủng bố trên địa bàn
miền Đông Nam Bộ .........................................................................................................52
5
KẾT LUẬN .....................................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
k
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCT
: Bộ Chính trị
BLHS
: Bộ luật Hình sự
CSVN : Cộng sản Việt Nam
nhận thức về tội phạm khủng bố còn nhiều điểm chưa thống nhất. Vấn đề cấp bách
đặt ra là cần phải thống nhất lý luận về tội phạm khủng bố để từ đó đề ra được
những biện pháp đấu tranh xử lý phù hợp. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc
1
tác giả mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Các tội phạm về khủng bố trên
địa bàn miền Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa ” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình là cần thiết và cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động khủng bố và công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt
động khủng bố là vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nhiều chủ thể khác nhau,
với sự đa dạng về mục đích, nội dung và hình thức. Tuy nhiên, do vấn đề nghiên cứu
của đề tài là vấn đề có độ mật cao của ngành Công an, do đó, học viên thiếu điều kiện
tiếp cận. Tuy nhiên, khảo sát học viên nhận thấy có một số đề tài liên quan đến vấn đề
này như sau:
Qua nghiên cứu cho thấy ở nước ngoài có một số công trình nghiên cứu về
khủng bố, đấu tranh phòng, chống khủng bố tiêu biểu:
- Paul Pillar, “Chủ nghĩa khủng bố và chính sách đối ngoại của Mỹ”, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001. Nội dung cuốn sách: tác giả đưa ra
một số quan điểm về chủ nghĩa khủng bố, phân tích đánh giá về chính sách hai mặt
của Mỹ và việc Mỹ lợi dụng chống khủng bố để lôi kéo đồng minh thực hiện mưu
đồ bá chủ thế giới.
- Anthony – H.Cordosman, “Chiến lược phòng thủ quốc gia chống vũ khí sinh
học”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002. Nội dung cuốn sách
phân tích việc sản xuất vũ khí sinh học và chiến lược phòng thủ quốc gia bằng vũ
khí sinh học của Mỹ và một số nước, vũ khí này có thể rơi vào tay các tổ chức khủng
bố, đồng thời tác giả đưa ra quan điểm cá nhân đánh giá vấn đề này.
- Evgheny Primacov (Viện sỹ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga, nguyên
chí khoa học liên quan đến đề tài.
Những công trình khoa học, bài viết nói trên nghiên cứu, đề cập đến những
khía cạnh khác nhau của hoạt động khủng bố như về nguồn gốc ra đời, đặc điểm,
hình thức, nguyên nhân, điều kiện, những yếu tố tác động, ảnh hưởng… và công tác
phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động khủng bố nói chung hoặc trong từng hoạt động,
từng lĩnh vực. Như vậy, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động
khủng bố dưới góc độ là đối tượng của Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Cụ
3
thể là chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về tội phạm
khủng bố tại địa bàn Đông Nam Bộ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu về tình hình , nguyên nhân các tội phạm về
khủng bố trên địa bà miền Đông Nam Bộ. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tình hình,
nguyên nhân của tội phạm khủng bố tại địa bàn Đông Nam Bộ, luận văn đưa ra dự báo
và đề xuất những giải pháp phòng ngừa tội phạm này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về tình hình tội phạm khủng bố.
- Phân tích làm rõ tình hình tội phạm thực tiễn tình hình các tội phạm về khủng
bố
- Nghiên cứu làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội phạm về
khủng bố trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Bao gồm việc khái quát về lý luận và
thực tiễn về nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội phạm về khủng bố
tại miền Đông Nam Bộ.
- Nghiên cứu về lí luận phòng ngừa tình hình các tội phạm về khủng bố; thực
trạng phòng ngừa; các giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội phạm về khủng bố trên
các lĩnh vực đấu tranh, phòng chống tội phạm về khủng bố. Trong quá trình nghiên cứu
luận văn, học viên tranh thủ ý kiến của các chuyên gia theo hai nhóm cụ thể sau: Thứ
nhất, lãnh đạo, cán bộ các đơn vị tiến hành đấu tranh với tội phạm khủng bố; Thứ hai,
các nhà nghiên cứu, giảng viên giảng dạy các môn học về tội phạm học của một số cơ
sở đào tạo có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề tội phạm khủng bố ; phân tích
so sánh đối chiếu những quy định về tội phạm khủng bố theo BLHS năm 1999 và
BLHS năm 2015. Từ kết quả nghiên cứu đó tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tội
phạm khủng bố và đưa ra những giải pháp phòng ngừa tội phạm khủng bố trong giai
đoạn sắp tới.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được còn có thể được dùng làm tài
liệu tham khảo trong quá trình công tác, học tập tại Nhà trường; cần cho những độc
giả có quan tâm về vấn đề này. Bên cạnh đó với vai trò là một tài liệu tham khảo, đề
5
tài góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc phòng ngừa các tội phạm
về khủng bố.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm khủng bố.
Chương 2: Tình hình, nguyên nhân của tình hình tội phạm khủng bố tại Đông
Nam Bộ trong thời gian qua.
Chương 3: Dự báo và một số vấn đề đặt ra đối với phòng ngừa tội phạm
khủng bố tại Đông Nam Bộ trong thời gian tới.
6
khủng bố lần đầu tiên được các quốc gia cùng nhau thảo luận. Theo đó:
7
Biểu hiện của hành vi khủng bố là việc cố ý sử dụng các công cụ, phương tiện
có thể tạo ra mọi nguy hiểm đối với cuộc sống, sự tự do, thể chất của người khác,
hoặc trực tiếp xâm hại đến tài sản cá nhân hoặc của nhà nước với mục đích chính
trị hoặc xã hội đều sẽ trị trừng phạt...[8,tr.2]
Sau một số sự kiện các nhân vật cấp cao của các quốc gia bị ám sát, Pháp là
quốc gia đã đề nghị Hội Quốc liên cần xây dựng ĐƯQT về chống khủng bố. Tại
Hội nghị về trừng trị khủng bố, diễn ra tại trụ sở của Hội Quốc liên ở Genneva
(Thụy sĩ) từ ngày 1 đển ngày 16 tháng 10 năm 1937, Công ước đầu tiên về chống
khủng bố - Công ước 1937 về ngăn chặn và trừng trị khủng bố (tên Tiếng anh là
Convention for the Prevention and Punishment of Terrorism” hay còn gọi là Công
ước Giơnevơ 1937) đã được soạn thảo. Mặc dù không có hiệu lực nhưng Công ước
Giơnevơ 1937 phản ánh nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc chỉ rõ các
đặc điểm của tội phạm khủng bố, đồng thời các quốc gia bước đầu đã có sự thống
nhất với nhau về quan điểm cũng như cách nhìn nhận khủng bố là “Tội phạm trực
tiếp chống lại một Nhà nước và cố ý hoặc toan tính nhằm gây ra tình trạng hoảng
sợ, lo lắng trong tâm trí con người hoặc một nhóm người hoặc công chúng" (Điều 1
Công ước 1937). Cùng với việc chính thức thừa nhận khủng bố là tội phạm, LHQ
cũng đã kêu gọi các quốc gia cùng nhau hợp tác, xây dựng các công cụ pháp lý
quốc tế hữu hiệu để đấu tranh với tất cả các hình thức, biểu hiện của khủng bố mà
trước hết là việc xây dựng các ĐƯQT chống khủng bố.
Đặc biệt, sau một loạt các vụ khủng bố vào đại sứ quán của Mỹ ở Kenya và
Tanzania năm 1998 đã khiến khủng bố lại trở thành vấn đề quan ngại của nhiều
quốc gia. Trước tình hình đó, Ấn độ đã đệ trình lên ủy ban đặc biệt của LHQ Dự
thảo Công ước chung về chống khủng bố vào năm 2000 và tiếp đó nhiều buổi thảo
luận giữa các quốc gia đã diễn ra. Sự kiện tấn công khủng bố vào Trung tâm thương
phạm khủng bố có đặc điểm chung là luôn mang tính chất bạo lực đối với dân
chúng.
Thứ hai, khủng bố bao gồm nhiều hành vi cụ thể chống lại thường dân như:
hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về tính mạng người dân, gây thiệt hại
nghiêm trọng về sức khỏe, hay bắt cóc con tin, hay các hành vi gây thiệt hại nghiêm
trọng về tài sản…
9
Thứ ba, tội phạm khủng bố luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực
tiếp với các mục đích: Nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng hoặc
nhóm người hoặc một người nào đó; hoặc nhằm đe dọa hay ép buộc người khác,
Chính phủ hay tổ chức quốc tế làm hay không làm một việc nào đó. Động cơ phạm
tội khủng bố rất đa dạng (có thể liên quan đến chính trị, kinh tế, tôn giáo hay hệ tư
tưởng...) nhưng đây không phải là dấu hiệu bắt buộc.
Đặc điểm chung của tội phạm khủng bố nêu trên có ý nghĩa tạo ra sự thống
nhất về nhận thức trong cộng đồng quốc tế đối với tội phạm khủng bố, góp phần
củng cố “khung pháp lý quốc tế chung” chống khủng bố và là cơ sở cho hoạt động
nội luật hóa của các quốc gia.
1.1.2. Quan điểm của Việt Nam về khủng bố và tội phạm khủng bố
Thuật ngữ “khủng bố” cũng xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX và đầu
thế kỷ XX gắn với chế độ Pháp thuộc và chế độ Mỹ - Ngụy. Các cuộc đàn áp, càn
quét của chính quyền thực dân Pháp và chế độ Mỹ - Ngụy nhằm hăm dọa nhân dân
ta đã bị lên án và bị coi là “khủng bố cách mạng”. Trong khi khủng bố đang là mối
nguy cơ lớn đối với hòa bình, an ninh nhân loại và quan niệm về khủng bố vẫn chưa
có sự thống nhất tuyệt đối giữa các quốc gia với nhau thì ở Việt Nam, các định
nghĩa về khủng bố lại khá thống nhất. Cụ thể:
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002, khủng bố cũng được
định nghĩa là hoạt động:
là Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 trừng trị các loại Việt gian, phản động và
xét xử những âm mưu hành động phản quốc. Mục II của sắc lệnh quy định các tội
phạm và hình phạt, trong đó đề cấp đến hành vi “khủng bố” (Điều 4) và “khủng bố
nhân dân” (Điều 5), với mức hình phạt cao nhất là tử hình. Sau đó, trong Pháp lệnh
ngày 30/10/1967 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trừng trị các tội phản cách
mạng, các hành vi của tội phạm khủng bố được quy định tại Điều 10 với tội danh
“giết người, đánh người, gây thương tích, bắt giữ người, dọa giết người, vì mục
đích phản cách mạng”.
Ở lần pháp điển hóa đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, BLHS Việt Nam 1985 đã
quy định Tội khủng bố tại Điều 78, Mục A Các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an
ninh quốc gia. Khi BLHS 1999 ra đời, cấu thành Tội khủng bố cơ bản được giữ
nguyên tại Điều 84 Chương XI Các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Vào thời điểm
11
này, Tội khủng bố thuộc nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, mục đích nhằm
chống chính quyền nhân dân là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Hành vi khách quan
bao gồm: hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể; hành vi đe dọa
xâm phạm tính mạng; hành vi uy hiếp tinh thần người khác. Đối tượng tác động của
tội phạm chỉ là con người. Điều cần lưu ý là, quy định về tội phạm khủng bố như
vậy là phù hợp với điều kiện lịch sử của của đất nước thời điểm bấy giờ, phù hợp
với thực tiễn phòng, chống tội phạm ở Việt Nam, trong khi quan hệ ngoại giao chưa
được thực sự mở rộng như hiện nay nên sự tác động từ các yếu tố bên ngoài, nhất là
tình hình khủng bố quốc tế là không đáng kể. Do vậy, tội phạm khủng bố trong
PLHS Việt Nam vào thời điểm này được Nhà nước ta xác định chủ yếu là:
Hoạt động có tính tổ chức cao, do cơ quan tình báo nước ngoài chỉ đạo hoặc
do tổ chức khủng bố quốc tế, tổ chức “tôn giáo cực đoan”, lực lượng phản động
người Việt lưu vong ở nước ngoài, bọn phản động trong nước hoặc bọn tội phạm
hình sự hoạt động có tổ chức sử dụng vũ khí, chất nổ, chất độc hại... tấn công vào
đổi tên tội phạm khủng bố quy định tại Điều 84 thành Tội khủng bố nhằm chống
chính quyền nhân dân (cấu thành không thay đổi) thì Tội khủng bố (Điều 230a) và
Tội tài trợ khủng bố (Điều 230b) đã được bổ sung vào Chương Các tội xâm phạm
an toàn công cộng, trật tự công cộng. Dấu hiệu pháp lý của cấu thành Tội khủng bố
(Điều 230a) khá phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về tội phạm khủng bố,
mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhất định.
Trước yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta,
BLHS 2015 đã ra đời với những sửa đổi, bổ sung về nhóm tội phạm khủng bố nhằm
“nội luật hóa các quy định trong các ĐƯQT mà nước ta là thành viên...” trên cơ sở
phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể ở nước ta. Do đó, việc tìm hiểu các quy định
của BLHS 2015 về nhóm tội phạm khủng bố phải trên tinh thần gắn với các yêu cầu
của các văn kiện pháp lý quốc tế về chống khủng bố nêu trên. Điều đó có nghĩa là,
cách hiểu về tội phạm khủng bố không chỉ “bó hẹp” chỉ gồm 03 tội danh (Tội khủng
bố nhằm chống chính quyền nhân dân, Tội khủng bố, Tội tài trợ khủng bố) mà nội
hàm tội phạm khủng bố cần phải được mở rộng hơn. Cụ thể, ở góc độ luật pháp
quốc tế, tội phạm khủng bố rất đa dạng, bao gồm nhiều hành vi khác nhau thể hiện
tập trung nhất trong Quy định pháp lý mẫu (như: hành vi xâm phạm an ninh hàng
không, xâm phạm an ninh hàng hải, hành vi buôn bán vũ khí bất hợp pháp, vận
13
chuyển bất hợp pháp vật liệu hạt nhân, hóa học, sinh học và các vật liệu có tính
năng hủy diệt khác...). Do đó, nếu xét ở góc độ này thì nhóm tội phạm khủng bố
trong BLHS Việt Nam ngoài 03 tội phạm quy định tại 03 điều luật trực tiếp sử dụng
thuật ngữ “khủng bố” (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, Tội khủng
bố và Tội tài trợ khủng bố) còn bao gồm nhiều tội phạm khác quy định rải rác trong
nhiều điều luật khác nhau. Theo đó, một số tội phạm khác và nhiều quy định khác
trong BLHS cũng sẽ được áp dụng để đấu tranh với các dạng hành vi khủng bố
được quy định trong các ĐƯQT chống khủng bố.
không có nguyên nhân và để nguyên nhân sinh ra kết quả nhất định nào đó như tình
hình tình hình tội phạm khủng bố chẳng hạn, thì quá trình tương tác phải diễn ra
trong điều kiện nhất định.
Điều kiện tuy không sản sinh ra kết quả, song tạo ra sự thuận lợi, hỗ trợ, thúc
đẩy sự tương tác sinh ra kết quả. Vậy là, về bản chất, điều kiện là những sự kiện,
hiện tượng, tình huống, hoàn cảnh nhất định.
Kết quả: Trong mối liên hệ nhân quả (nguyên nhân - điều kiện - kết quả), thì ở
đây, trong tội phạm học chỉ có thể là hiện tượng (tình hình tội phạm) hoặc hành vi hành vi phạm tội. Còn nguyên nhân thì không thể là một hiện tượng hay một yếu tố
nào mà nguyên nhân chỉ có thể là sự tác động qua lại của nhiều hiện tượng nhiều
yếu tố và sự tác động qua lại này không phải là sự tác động trực tiếp (S-R) mà là sự
tác động gián tiếp, tức là phải thông qua đầu óc con người, tâm lý học gọi là kích
thích phương tiện, được ký hiệu là X. Vì thế, công thức của sự tác động này phải là
S-X-R. Như vậy, nguyên nhân tình hình tội phạm phải là sự tác động qua lại giữa
các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm, sinh lý tiêu cực thuộc
mỗi cá nhân con người trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định.
Về mặt lý thuyết, rõ ràng nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm là
hai phạm trù khác nhau, giữ vai trò khác nhau trong việc sinh ra kết quả tình hình
tội phạm. Thế nhưng, trong lĩnh vực xã hội nói chung và tội phạm học nói riêng,
sự phân biệt đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện chỉ mang tính tương đối. Hơn
nữa, thực tế đấu tranh và phòng ngừa tội phạm luôn đòi hỏi phải loại trừ cả hai,
tức là phải loại trừ cả những gì thuộc về nguyên nhân và cả những gì thuộc về điều
15
kiện phát sinh tình hình tội phạm. Chính vì vậy mà hiện nay, trong nhiều tài liệu
khoa học, bao gồm giáo trình Tội phạm học, nội hàm khái niệm “nguyên nhân của
tình hình tội phạm” đã được mở rộng, bao gồm cả những yếu tố đóng vai trò là
điều kiện của tình hình tội phạm theo cách hiểu truyền thống. Trong phạm vi
nhiệm vụ khoa học này, khái niệm tình hình tội phạm cũng được hiểu theo nghĩa
phạm khủng bố.
Chính vì tính phức tạp của sự tác động qua lại, tính muôn hình muôn vẻ của sự
tác động, cũng như sự đòi hỏi của thực tế đấu tranh và phòng ngừa tội phạm khủng
bố ở nước ta mà việc nghiên cứu nguyên nhân của tình hình tội phạm khủng bố chỉ
có thể mang lại kết quả hữu ích và khả thi khi làm rõ được các hiện tượng, các yếu
tố (xã hội) tham gia vào sự tác động qua lại này. Và chúng được gọi chung là các
yếu tố làm phát sinh tình hình tội phạm khủng bố. Để đảm bảo tính bao quát và
tránh sai sót trong việc xác định hệ thống, các yếu tố làm phát sinh tình hình tội
phạm khủng bố cần phải được phân loại mà cách phổ biến nhất, tiện dụng nhất là
phân loại thành những yếu tố khách quan và chủ quan trên cơ sở lấy Nhà nước, một
chủ thể của PLHS, chủ thể bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội làm
trung tâm để phân biệt. Theo đó:
- Những yếu tố khách quan làm phát sinh tình hình tội phạm khủng bố ở nước
ta hiện nay là những yếu tố đang tồn tại trong xã hội ta, song không phụ thuộc vào ý
chí của Nhà nước và cũng không phải Nhà nước gây ra. Nhiều tài liệu nghiên cứu
về chủ nghĩa khủng bố (“terrorism'’) trên thế giới đã chỉ ra nguyên nhân “gốc rễ”
của hiện tượng này có liên quan đến tình trạng đói nghèo, tình trạng xâm hại quyền
con người hay các nhân tố về xã hội, tâm lý như: khoảng cách giàu nghèo ngày
càng gia tăng; nhu cầu con người ngày càng lớn trong khi khả năng đáp ứng được
những nhu cầu đó ngày càng hạn chế...Ngoài ra, các nhà khoa học còn chứng minh
được sự gia tăng nguy cơ khủng bố ở một quốc gia khi quốc gia đó có sự hiện diện
của các nhân tố như: tình trạng bạo lực tiếp diễn, tình trạng khủng hoảng về chính
trị kéo dài, các nhân tố tiêu cực về kinh tế xã hội liên quan đến tình trạng thất
nghiệp, niềm tin của công chúng vào pháp luật của Nhà nước, tình hình tội phạm
hình sự, sự kiểm soát của Nhà nước về vũ khí... ,
- Những yếu tố chủ quan phải là những yếu tố do bản thân Nhà nước trong quá
trình thực hiện chức năng quản lý của mình đã làm chúng xuất hiện trong xã hội,
17
18
là lý do mà lý luận tội phạm học khẳng định nguyên nhân của tình hình tội phạm là
cơ sở của biện pháp phòng ngừa.
Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm nói chung và đấu
tranh phòng, chống tình hình tội phạm khủng bố nói riêng ở nước ta trong thời gian
qua đã chỉ ra rằng, việc phân tích, làm rõ các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tình
hình tội phạm khủng bố sẽ góp phần làm rõ nguồn gốc phát sinh, hình thành tội phạm
và đây là cơ sở cho công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm khủng bố.
Việc nghiên cứu, làm rõ các yếu tố thuộc về nguyên nhân của tình hình tội phạm
khủng bố, trong đó chú trọng làm rõ tính tổng hợp và sự tương tác giữa chúng làm
phát sinh nguy cơ khủng bố ở nước ta hiện nay sẽ là cơ sở để Nhà nước hoạch định
các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung cũng như xây dựng
chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm nói riêng đạt hiệu quả. Các biện pháp
phòng ngừa tội phạm khủng bố không chỉ tập trung vào việc phát hiện, xử lý kịp thời,
dứt điểm các vụ việc phức tạp có tính chất khủng bố hoặc liên quan tới khủng bố
ngay từ cơ sở, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, tạo sự đồng thuận trong nhân
dân mà quan trọng, bền vững hơn là việc hạn chế, trung hòa, loại bỏ các nhân tố tiêu
cực xuất phát từ môi trường sống, loại bỏ các tình huống, hoàn cảnh mà tội phạm
khủng bố có thể xảy ra, đẩy lùi tình hình tội phạm khủng bố, không để tình hình tội
phạm khủng bố diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho xã hội, đảm bảo nguyên tắc chủ
động phòng ngừa, qua đó góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực
nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Tóm lại, việc làm rõ vấn đề nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm
khủng bố ở nước ta hiện nay hoàn toàn có thể thực hiện được bằng việc đi sâu
nghiên cứu, phân tích thấu đáo hệ thống các yếu tố khách quan và chủ quan như đã
được mô hình hóa. Khắc phục được hệ thống các yếu tố chủ quan và khách quan, đó
chính là việc tạo dựng được một xã hội lành mạnh; một xã hội có sức đề kháng cao
đối với tình hình tội phạm khủng bố - cơ sở của việc phòng ngừa chung đối với tình