ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LINH THỊ THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT,
CHO THUÊ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO BẰNG,
TỈNH CAO BẰNG, GIAI ĐOẠN 2012 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LINH THỊ THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT,
CHO THUÊ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO BẰNG,
TỈNH CAO BẰNG, GIAI ĐOẠN 2012 - 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Môi trường, Chi cục Thuế thành phố Cao Bằng, các anh chị em và bạn bè đồng
nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của cơ quan, gia đình
và người thân.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin chân thành cảm ơn mọi sự
giúp đỡ quý báu đó !
Trân trọng!
Tác giả
Linh Thị Thu Trang
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... vi
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài............................................................................ 3
2.1. Mục tiêu tổng quát ........................................................................................ 3
2.2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 3
3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................................ 3
3.1. Ý nghĩa khoa học .......................................................................................... 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn........................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ................................................................................. 4
1.1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 4
1.1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài ............................................................................. 5
3.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất đã giao, cho thuê đối với các tổ chức
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và thành
phố Cao Bằng ........................................................................................................ 41
3.2.1. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ........................ 41
3.2.2. Tình hình công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trên
địa bàn thành phố Cao Bằng từ năm 2012 - 2016 ............................................. 46
3.3. Đánh giá tình hình vi phạm sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng ....................................... 50
3.3.1. Đánh giá tình hình vi phạm của các tổ chức trong việc sử dụng đất
trên địa bàn thành phố Cao Bằng ....................................................................... 50
3.3.2. Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên địa bàn
thành phố Cao Bằng ........................................................................................... 52
3.3.3. Tình vi phạm nghĩa vụ tài chính của các tổ chức kinh tế giai đoạn
2012-2016 trên địa bàn thành phố Cao Bằng .................................................... 55
v
3.4. Đánh giá và định hướng giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với đất
đã giao cho các tổ chức trên địa bàn thành phố Cao Bằng .................................... 58
3.4.1. Thành tựu, tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng ............................................. 58
3.4.2. Định hướng giải pháp .............................................................................. 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 63
1. Kết luận ............................................................................................................. 63
2. Kiến nghị ........................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 65
PHỤ LỤC
vi
Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với thời gian thì con
người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai trở thành
công cụ của con người. Đất đai có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát
triển kinh tế-xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản
mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được
để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”, hay “Lao động
không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất” mà “lao động là cha của
của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đất đai là sản phẩm mà thiên nhiên ban tặng cho
con người. Đó là môi trường sống, là chỗ đứng, là địa bàn hoạt động cho tất cả các
nghành các lĩnh vực, là tư liệu không thể thay thế được.bởi vậy Đất đai đóng vai trò
quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai
thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn
tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con
người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất.
Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến
đất đai thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia Luật Đất đai năm
1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều
thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được
vốn đất đai như ngày nay”. Do đó, việc phân bổ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm hiệu
quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước luôn là vấn đề xuyên suốt trong chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, vai trò của đất đai ngày càng quan
trọng. Việc quản lý sử dụng có hiệu quả đất đai - nguồn tài nguyên hữu hạn này
2
3
sử dụng nói riêng. Vì vậy việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với diện tích đất đã giao, cho thuê và nâng cao hiệu quả sử dụng đất,
tránh việc để lãng phí là việc làm bức thiết.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá thực trạng sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016” .
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và đề xuất giải
pháp sử dụng đất có hiệu quả.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất đã giao, cho thuê đối với các tổ chức được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và thành phố Cao Bằng
- Đánh giá tình hình vi phạm sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng
- Đánh giá và định hướng giải pháp sử dụng đất có hiệu quả đối với đất đã
giao cho các tổ chức trên địa bàn thành phố Cao Bằng
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Vận dụng và làm sáng tỏ những luật định trong công tác quản lý giao đất,
cho thuê đất.
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện những luật định, văn bản pháp luật cho phù
hợp trong công tác quản lý giao đất, cho thuê đất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để hoạch định các chính sách và
giải pháp sử dụng đất hiệu quả đối với tài nguyên đất đai của thành phố Bằng. Là tài
ruộng đất bị xóa bỏ hoàn toàn” (V.I. Lê-nin, 2006). [29]
Địa tô tuyệt đối diễn ra bắt nguồn từ chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân. Chế
độ tư hữu này đã cản trở việc cạnh tranh tự do, cản trở việc san bằng lợi nhuận
5
thành lợi nhuận bình quân giữa các doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp
phi nông nghiệp.
V.I. Lê-nin viết: “Như vậy là vấn đề quốc hữu hóa ruộng đất trong xã hội tư
bản chủ nghĩa chia thành hai phần khác nhau về bản chất: vấn đề địa tô chênh lệch
và vấn đề địa tô tuyệt đối. Quốc hữu hóa thay đổi người hưởng địa tô chênh lệch và
xóa bỏ ngay cả sự tồn tại của địa tô tuyệt đối. Vậy quốc hữu hóa một mặt là một cải
cách bộ phận trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản (thay đổi người làm chủ một bộ
phận giá trị thặng dư), và mặt khác, là sự xóa bỏ các độc quyền gây trở ngại cho sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung”. Thiếu sự phân biệt hai mặt này sẽ không
thể hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc quốc hữu hóa ruộng đất - vấn đề quyết định ý
nghĩa của các cơ sở lý luận về ruộng đất (Nguyễn Đình Kháng, 2011 ) [13].
V.I. Lê-nin đã chỉ rõ, nhận thức đúng đắn cơ sở lý luận của việc quốc hữu
hóa ruộng đất và tiếp đó là vấn đề ruộng đất có ý nghĩa rất to lớn. Những sai lầm
trong lý luận dẫn tới những kết luận không đúng đắn và dẫn đến những sai lầm về
chính trị. Chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân là sự trở ngại của việc đầu tư tự do tư
bản vào ruộng đất. Ông cũng viết: “Thủ tiêu chế độ tư hữu ruộng đất tức là xóa bỏ
đến mức tối đa có thể có được trong xã hội tư sản, tất cả những trở ngại, ngăn cản
việc tự do dùng tư bản vào nông nghiệp và tự do chuyển tư bản từ ngành sản xuất
này sang ngành sản xuất khác. Sự phát triển tự do, rộng rãi nhanh chóng của chủ
nghĩa tư bản, sự xóa bỏ tất cả những khâu trung gian không cần thiết khiến cho nền
nông nghiệp giống như một nền công nghiệp có những “nhịp độ kinh khủng”, quốc hữu hóa ruộng đất dưới chế độ sản xuất tư bản chủ nghĩa là như thế đấy” (V.I.
Lê-nin, 2006)[29]
1.1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1975 thống nhất đất nước, nước
lần vào năm 1998 và 2001), tiếp đó là Luật Đất đai 2003 (sửa đổi, bổ sung năm
2009), chúng ta thấy, pháp luật đất đai luôn được Nhà nước ta quan tâm bổ sung,
hoàn thiện. Qua các đạo luật này, Nhà nước Việt Nam đã ngày càng mở rộng quyền
cho người SDĐ. Từ các quyền chung cho đến các quyền riêng của từng đối tượng
sử dụng đất (như Điều 105, 106 Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã
tập trung chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách và pháp luật về đất đai, tiếp tục khẳng
định đất đai thuộc SHTD do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nhà nước ta vẫn duy trì
quyền hiến định là đất đai thuộc SHTD do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
pháp 1992)[5].
(Hiến
Nhưng chúng ta nhận thấy, thực chất người SDĐ đã có quyền tặng cho,
để lại thừa kế QSDĐ, nghĩa là Nhà nước đã cho phép người dân được định đoạt tài
7
sản đất đai một cách hạn chế, trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Vấn đề định
đoạt QSDĐ hạn chế còn được thể hiện thông qua quyền cho thuê, thế chấp, cho thuê
lại, hay góp vốn bằng QSDĐ.
Cơ chế quản lý đất đai ngày càng được đổi mới, chính sách đất đai đã được
thể chế hóa. Người SDĐ được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, được Nhà nước công
nhận QSDĐ, được hưởng thành quả và kết quả đầu tư trên đất được giao, được
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, được góp vốn
bằng QSDĐ để sản xuất, kinh doanh. Người SDĐ có nghĩa vụ sử dụng đúng mục
đích, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, nộp thuế, lệ phí, tiền sử dụng đất, được bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất và NSDĐ trả lại đất cho Nhà nước khi có quyết
nộp thêm một khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong
thời gian này; sau 24 tháng được chậm tiến độ, nếu vẫn chưa đưa đất vào sử dụng
thì Nhà nước sẽ thu hồi đất và không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất,
trừ trường hợp do bất khả kháng. Luật cũng đưa ra các quy định để ngăn ngừa phát
sinh mới các trường hợp dự án chậm triển khai, để lãng phí đất đai như: quy định
việc giao thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn
cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm để đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư và
huy động nguồn lực của địa phương;
Quy định nhiều điều kiện để được giao đất cho thuê đất, như chủ đầu tư phải
có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu
tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy định
của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất,
cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.
Nhằm tạo động lực cho đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững, Luật Đất đai mới đã quy định nâng thời hạn giao đất nông nghiệp
trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm thống nhất cho các
loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, đất lâm nghiệp).
Đồng thời, cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ đất đai với diện tích lớn hơn
không vượt quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp. Khuyến khích tích tụ đất đai
thông qua cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nhận quyền thuê đất để
thuận lợi cho ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ giới hóa và phát triển sản xuất
hàng hóa.
9
Bổ sung quy định về điều kiện được giao đất, cho thuê đất để thực hiện các
dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng phòng hộ, đặc dụng nhằm bảo đảm an
ninh lương thực, bảo vệ môi trường trong điều kiện nước ta được dự báo là một
trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu.
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất.
- Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
- Chỉ thị số 134/CT-TTg ngày 20/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức được nhà nước
giao đất cho thuê đất;
- Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính
phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Luật Đất đai 2013
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành
một số điều luật Đất đai năm 2013.
Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền sử dụng đất.
11
12
Các nước có nền kinh tế chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu hiện nay thực
hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sự thừa nhận quyền sở hữu của tư nhân về đất đai
và sở hữu của nhà nước. Hiện nay, nước Nga có khoảng 10 triệu hộ gia đình đang sở hữu
và sử dụng một số lượng lớn diện tích đất vườn và đất thuộc trang trại gia đình; gần 12
triệu nông dân đang sở hữu đất dưới hình thức cổ phần với mức cổ phần trung bình là 10
ha và còn có rất nhiều hình thức sử dụng, sở hữu khác như thuê đất, sử dụng đất thừa kế.
Cuộc cải cách đất đai ở nước Nga được tiến hành trên cơ sở bãi bỏ sự độc quyền của Nhà
nước, để chuyển sang hình thức phải trả tiền và công khai hóa hoạt động của thị trường
đất đai. Thừa nhận QSH của tư nhân. Tuy nhiên, phần đất đai thuộc SHNN vẫn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số quỹ đất của các quốc gia này. Việc giao dịch QSH đối với loại tài
sản là đất đai được thừa nhận và phải thực hiện đăng ký với cơ quan quản lý đất và quy
hoạch cấp quận, huyện. Các hoạt động giao dịch chuyển nhượng QSH tài sản đất đai
phải thực hiện đóng thuế chuyển nhượng tài sản.
Nhóm các nước đang phát triển hiện nay chiếm đa số các quốc gia trên thế giới,
có trình độ phát triển kinh tế vẫn ở mức trung bình và thấp. Các nước đang phát triển
theo đuổi những mô hình chế độ chính trị rất đa dạng. Tuy nhiên, phổ biến nhất là hai
loại hình chế độ sở hữu đất đai, đó là chế độ sở hữu tư nhân và chế độ sở hữu Nhà nước
về đất đai. Trong số đó, Trung quốc, Việt Nam và Lào được xem là các trường hợp ngoại
lệ. Riêng đối với chế độ SHTN hoàn toàn, trên thực tế rất khó có quốc gia đang phát triển
nào thực hiện chế độ SHTN tuyệt đối về đất đai. Vì vậy, hình thức sở hữu còn lại cơ bản
là chế độ đa sở hữu về đất đai. Tức là, đất đai đồng thời có thể thuộc sở hữu của tư nhân
hoặc của nhà nước. Điều này được ghi nhận trong luật pháp của rất nhiều quốc gia đang
phát triển thuộc các khu vực địa lý khác nhau. Chẳng hạn trong luật đất đai của các quốc
gia như: Apghanistan, Belarut, Indonexia, Kazakhstan, Ả rập, Singapore, Thái Lan…
đều quy định đất đai thuộc SHNN và tư nhân.
Ở Ixraen, hầu hết đất đai thuộc SHNN, Nhà nước thực hiện cho thuê đối với các
nông dân hoặc những doanh nghiệp, với hợp đồng thuê đất có thời hạn từ 49 đến 99
năm. Như vậy, đối với trường hợp Ixraen, chế độ sở hữu là chế độ SHNN về đất đai. Tại
nghiệp. Đất nông nghiệp chỉ có thể được sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp
sau khi được phòng đăng ký đất đai địa phương thông qua. Các chủ sở hữu có
quyền sử dụng tài sản của mình theo cách mình muốn, tuy nhiên phải phù hợp với
14
pháp luật và các quy định của nhà nước, không gây tổn hại hoặc ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của các bên khác. Công dân Hungary có thể được góp vốn bằng
quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp
- Các phương thức bán đất, cho thuê đất
+ Phương thức bán đất của nhà nước: thực hiện theo phương thức bán đấu giá công
khai, mọi đối tượng điều có quyền tham gia đấu giá hoặc thông qua mua cổ phiếu.
+ Phương thức cho thuê đất: thực hiện theo giá thị trường. Đối tượng cho
thuê là các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, các cá nhân, tổ chức trong nước,
cá nhân và tổ chức nước ngoài (Nguyễn Văn Thạo, 2005)[23].
Nhìn chung, việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở các nước phát triển
dựa trên cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, nhà nước chủ yếu thực
hiện trao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất thông qua bán đấu giá đất và cho
thuê đất theo giá thị trường. Nhờ có giá đất sát giá thị trường nhà nước mới có kết
quả tính toán tài chính đúng liên quan đến đất đai và qua đó dùng công cụ tài
chính để điều khiển sự vận động lưu thông đất đai theo kế hoạch vĩ mô của mình,
người sử dụng đất có cơ sở để tính toán những bài toán kinh tế của mình trên giá
cả đất đai sát với giá thị trường. Nhờ đó đất đai được vận động, tự động phân phối
vào các quy trình khai thác hợp lý, có hiệu quả, sự vận động này là sự vận động
tự giác điều tiết qua cơ chế thị trường nhưng có sự điều khiển quản lý vĩ mô của
nhà nước.
1.2.1.1. Khái quát chính sách đất đai của Trung Quốc
Quốc gia đông dân nhất thế giới này đang xây dựng mô hình phát triển theo
hình thái xã hội XHCN mang đặc sắc Trung Quốc.
Về sở hữu đất đai: Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, gồm sở
nề vì cơ chế xin cho, cấp, phát, đặc biệt là trong việc khai thác đất đai thành thị
(Nguyễn Trọng Tuấn, 2010) [33].
1.2.1.2. Chính sách đất đai của Pháp
Luật pháp Pháp quy định quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và
thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của
mình. Chế độ sở hữu đất đai của Pháp gồm hai dạng: thứ nhất là đất đai thuộc sở
hữu Nhà nước và thứ hai là đất đai thuộc sở hữu tư nhân. Đối với đất đai thuộc sở
16
hữu tư nhân thì Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu và
khi Nhà nước có yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông
qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng. Bộ phận đất đai thuộc sở
hữu Nhà nước bao gồm nhà nước trung ương và chính quyền các địa phương.
Phương pháp tổ chức quản lý trong lĩnh vực đất đai của Pháp còn ảnh hưởng
khá rõ đối với nước ta. Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang
khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng
thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức
của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay. Quản lý đất đai của Pháp có một số
đặc trưng như:
Công tác quy hoạch đô thị: Đa số đất đai của Pháp thuộc sở hữu tư nhân nên
để phát triển đô thị công tác quy hoạch được quan tâm chú ý từ rất sớm và được
thực hiện nghiêm ngặt. Ngay từ năm 1919, Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch
đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên. Năm 1973 và năm 1977, Nhà
nước Pháp đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là
cơ sở để ra đời Bộ Luật về chính sách đô thị. Đặc biệt, vào năm 1992, ở Pháp đã có
Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan
trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã. Cho đến nay,
Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu
tư nhân và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các
Một là: Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử
dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Hai là: Nhà nước quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất gồm
hạn mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận quyền sử
dụng đất ở và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nhà nước quy
định thời hạn sử dụng đất bằng các hình thức sau đây Sử dụng đất ổn định lâu dài
và sử dụng đất có thời hạn.
Ba là: Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất:
Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất vì
mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất
theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.