Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI XUÂN HIẾU

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRỒNG RỪNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI XUÂN HIẾU

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRỒNG RỪNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

HIỆU QUẢ THI HÀNHTỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM ..............................................................................................69
3.1. Về phương diện lập pháp ...................................................................................69
3.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện thông qua tòa án nhân dân để nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng. .........................................72
3.3. Về phương diện hướng dẫn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nói
chung và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng nói riêng ........................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được trong sản
xuất nông, lâm nghiệp, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế,
văn hóa - xã hội; an ninh, quốc phòng; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai còn là nguồn vốn, nguồn lực to
lớn để phát triển đất nước v.v. Ngay từ xa xưa, con người đã nhận thức được tầm
quan trọng của đất đai. Nó là điều kiện vật chất không thể thiếu được cho sự tồn tại
của con người. Chính vì tầm quan trọng ấy mà trong văn học thần thoại, đất đai
được ví như người mẹ - Mẹ đất. Như một lẽ tự nhiên, cái gì càng có giá trị thì con
người càng muốn được sở hữu, chiếm giữ. Dân số ngày càng tăng; trong khi vốn đất
đai lại có hạn (Đất đai không do con người tạo ra mà do tự nhiên tạo ra, có trước
con người; cố định về vị trí địa lý, bị giới hạn bởi không gian, diện tích). Sự mâu
thuẫn này tiền ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp do ai cũng muốn chiếm giữ và sử
dụng đất (SDĐ) đai. Trong nền kinh tế (KT) thị trường, khi Nhà nước thay đổi cơ
chế quản lý đất đai và trả lại đất đai những giá trị ban đầu vốn có thì đất đai ngày
càng trở nên có giá. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan khiến tranh
chấp đất đai không chỉ gia tăng về số lượng mà còn gia tăng về tính phức tạp, gay
gắt về nội dung. Tranh chấp đất đai phát sinh không chỉ phá vỡ sự gắn kết giữa các

đai nói chung và giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng nói riêng
của ngành Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam vẫn chưa đáp ứng sự kỳ vọng của
xã hội. Số lượng các phán quyết, bản án của tòa án cấp dưới bị tòa án cấp trên hủy
bỏ, yêu cầu xét xử lại chiếm tỷ lệ không nhỏ. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục
nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện trên phương diện lý luận và thực tiễndưới
góc độ luật học về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng của Tòa án
nhân dân tại tỉnh Quảng Nam để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu
quả của hoạt động này. Đặc biệt trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai
năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật bảo vệ và phát triển
rừng năm 2017 được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến vị trí, vai
trò của Tòa án nhân dân nói chung và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của
cơ quan này nói riêng.Với lý do đó, học viên lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp
về quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh
Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai luôn là vấn đề "nóng" thu
hút được sự quan tâm đặc biệt của người dân, các nhà quản lý và dư luận xã hội.
Trong khoa học pháp lý, tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa
án nhân dân nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, bằng chứng là vấn
đề này đã được tìm hiểu, nghiên cứu trong các công trình khoa học ở những cấp độ
khác nhau, từ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, sách chuyên khảo hay các bài viết đăng tải trên các tạp chí
nghiên cứu pháp luật có uy tín...Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2


mang tính gợi mở có thể kể đến:
i) Nguyễn Minh Khoa (2007), “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
của Tòa án nhân dân theo khoản 1 Điều 136 Luật đất đai 2003” , Khóa luận tốt

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là đưa ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đấttrồng rừng của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể sau đây:
- Tập hợp, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về giải
quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng
rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói riêng bằng việc phân tích

4


khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân nói riêng; luận giải tính ưu việt của giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân v.v.
- Phân tích nội dung của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; đánh giá thực
trạng thực thi chế định pháp luật này từ thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân tại tỉnh Quảng Nam nhằm nhận diện những ưu điểm, hạn chế, tồn tại và nguyên
nhân của hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn xét xử của
Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các nội dung cụ thể sau đây:
- Các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân.

nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp diễn giải v.v.
được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh chấp
quyền sử dụng đất trồng rừng và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân.
ii) Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận lô gic
v.v được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân
tại tỉnh Quảng Nam.
iii) Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp bình luận v.v
được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn với đề tài “Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng
từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam”có những đóng góp
nhất định. Những đóng góp này bao gồm:
- Những kết quả nghiên cứu lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất trồng
rừng và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân của luận văn góp phần bổ sung hệ thống cơ sở lý luận của
các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai; các quy định về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.

6


- Những kết quả nghiên cứu về đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết

chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng. Tuy nhiên, trong Luật đất đai năm 2013 sử dụng
thuật ngữ tranh chấp đất đai mà không sử dụng thuật ngữ tranh chấp QSDĐ. Do đó,
xét trong phạm vi luận văn này, khái niệm tranh chấp đất đai được hiểu đồng nghĩa
với khái niệm tranh chấp QSDĐ. Vậy tranh chấp đất đai là gì?.
Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học: Tranh chấp phát sinh giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình
quản lý và sử dụng đất đai [36].
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: Tranh chấp
đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ
giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai [34]
Theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về
quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ
đất đai [22].
Trên thực tế, tranh chấp đất đai (TCĐĐ) được hiểu là sự tranh chấp về quyền
quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể. Các bên tranh chấp không thể cùng
nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân
xử. Cần làm rõ TCĐĐ ở nước ta chính là tranh chấp QSDĐ hay bao gồm cả tranh
chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ? Về nội dung này, trong khoa
học pháp lí hiện nay còn tồn tại hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCĐĐ chỉ là tranh chấp về QSDĐ. Theo đó,
TCĐĐ không xác định được là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là
tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người SDĐ do pháp luật đất đai quy
định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người SDĐ có được
khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn
được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng là chỉ bao gồm
8


người SDĐ hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người
SDĐ trong quan hệ TCĐĐ. Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của

03/01/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh
chấp liên quan đến QSDĐ sử dụng thuật ngữ khác là “các tranh chấp liên quan đến
quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền của Toà án. Theo đó, các tranh chấp liên
9


quan đến QSDĐ thuộc thẩm quyền của Toà án bao gồm:
- Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ;
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại
QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ;
- Thừa kế QSDĐ;
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc SDĐ.
Vậy, thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” là một
thuật ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền
với đất. Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba loại: tranh chấp
về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện
đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); tranh chấp hợp đồng
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng
QSDĐ; tranh chấp thừa kế QSDĐ.
Không thể phủ nhận rằng, mỗi quan điểm trên đây đều được lập luận dựa
trên những căn cứ nhất định. Song thiết nghĩ, việc hiểu và vận dụng “TCĐĐ” bao
gồm cả tranh chấp QSDĐ và tranh chấp liên quan đến QSDĐ là hợp lý cả về vấn đề
logic ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự, nên bên cạnh
những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, TCĐĐ còn mang những đặc
trưng riêng khác với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh,
thương mại… Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể TCĐĐ chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và QSDĐ,
mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai; bởi lẽ, đất đai ở nước ta thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao QSDĐ cho người

rừng là một thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật đất đai nhưng lại
không được giải thích chính thức trong Luật đất đai năm 2013. Trên cơ sở khái
niệm chung về TCĐĐ, tác giả cho rằng khái niệm tranh chấp QSDĐ được hiểu như
sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng là tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất trồng rừng.
Bên cạnh các đặc điểm của tranh chấp đất đai nói chung, tranh chấp QSDĐ
trồng rừng còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Một là, về phạm vi. Tranh chấp QSDĐ trồng rừng có phạm vi hẹp hơn tranh
chấp đất đai. Điều này có nghĩa là tranh chấp QSDĐ trồng rừng là một dạng cụ thể
của tranh chấp đất đai hay nói cách khác tranh châp đất đai bao gồm tranh chấp
QSDĐ trồng rừng và các loại tranh chấp đất đai khác.
Hai là, đối tượng của tranh chấp QSDĐ trồng rừng là tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất trồng rừng. Điều này có nghĩa là tranh chấp QSDĐ
trồng rừng là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích trồng rừng, công
nhận QSDĐ trồng rừng.
Ba là, loại đất liên quan đến tranh chấp QSDĐ trồng rừng là đất được Nhà
nước giao, cho thuê để trồng rừng (bao gồm trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng).
11


Bốn là, chủ thể tranh chấp QSDĐ trồng rừng là các bên trong quan hệ đất
trồng rừng bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất sử dụng vào mục đích trồng rừng (gọi chung là người SDĐ trồng rừng).
Năm là, do rừng được trồng ở các tỉnh ven biển để chắn gió, chắn cát bay,
chống xói lở, bảo vệ đất; rừng được trồng ở khu vực miền núi, trung du nên không
phải tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều phát sinh tranh chấp QSDĐ
trồng rừng mà chỉ những tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy hoạch SDĐ
trồng rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mới có loại tranh chấp

12


Thứ hai, tranh chấp hợp đồng cho thuê, cho thuê lại QSDĐ trồng rừng. Việc
phát sinh dạng tranh chấp này là do một bên hoặc cả hai bên vi phạm các điều
khoản của hợp đồng như: Hết thời hạn thuê đất nhưng không chịu trả lại đất cho bên
cho thuê; người thuê không trả tiền thuê đất; SDĐ không đúng mục đích khi thuê;
bên cho thuê đòi lại đất khi chưa hết thời hạn hợp đồng thuê đất v.v.
Thứ ba, tranh chấp hợp đồng thế chấp QSDĐ trồng rừng.Dạng tranh chấp
này thường phát sinh khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ cam kết, nhưng bên thế
chấp QSDĐ trồng rừng (bên vay tiền) đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả
nợ không đầy đủ, đúng thời hạn như đã cam kết trong hợp đồng cho bên nhận thế
chấp QSDĐ trồng rừng là các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng.
Thứ tư, tranh chấp thừa kế QSDĐ trồng rừng. Dạng tranh chấp này thường
xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Người có QSDĐ trồng rừng chết không để lại di chúc; những người thừa kế
theo pháp luật không thoả thận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế.
- Người có QSDĐ trồng rừng chết có để lại di chúc nhưng di chúc không
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước
giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các
quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;
b) Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân
khác;
c) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
d) Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê
quyền sử dụng đất;
đ) Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên

trước đây khi thi hành chính sách về đất trồng rừng, Nhà nước đã giao đất cho
người khác sử dụng, nay chủ cũ tự động chiếm lại đất này và dẫn đến tranh chấp.
Thứ bảy, tranh chấp về đòi lại đất trồng rừng đã giao cho người khác khi
thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ
Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ tám, tranh chấp về tài sản chung là đất trồng rừng của vợ chồng khi ly
hôn. Dạng tranh chấp này giải quyết khá phức tạp khi trước đây giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng và có không ít
trường hợp vợ chồng khi kết hôn không ra Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn(gọi
chung là UBND cấp xã) xin cấp giấy đăng ký kết hôn.
Thứ chín, tranh chấp về cản trở việc thực hiện QSDĐ trồng rừng. Loại tranh
chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính chất lại rất phức tạp. Thông
thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên SDĐ trồng rừng nằm ở bên ngoài không cho
người sử dụng phần đất trồng trong bên trong đi qua khu vực đất của mình trong quá
trình SDĐ.
Thứ mười, tranh chấp đất trồng rừng liên quan đến địa giới hành chính. Dạng
tranh chấp này phát sinh giữa các đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh trong
trường hợp chia tác, sáp nhập, thành lập mới đơn vị hành chính v.v.
1.1.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
1.1.4.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do quan hệ đất đai nói chung và quan hệ đất trồng rừng nói riêng ở
nước ta có nhiều xáo trộn qua các thời kỳ. Việc thay đổi chế độ sở hữu đất đai từ đất
14


đai thuộc nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân (trước Hiến pháp năm
1980) đến đất đai thuộc sở hữu toàn dân (sau Hiến pháp năm 1980) đã khiến nhiều
TCĐĐ (trong đó có QSDĐ trồng rừng) xảy ra. Ngoài ra, các chính sách về xây
dựng kinh tế mới, di dân từ các tỉnh đồng bằng đến khu vực trung du, miền núi hoặc

dựng; ngành giao thông vận tải quản lý đất giao thông; ngành lâm nghiệp quản lý
15


đất lâm nghiệp v.v. Điều này đã dẫn đến việc tranh chấp giữa đất nông nghiệp với
đất lâm nghiệp cũng như với đất chuyên dùng; có loại đất nhiều cơ quan quản lý (ví
dụ đất đô thị), nhưng cũng có loại đất không có loại cơ quan nào quản lý (đất mặt
nước biển, vùng lãnh hải, vùng thềm lục địa).
Thứ hai, chính sách, pháp luật đất đai có một số nội dung chưa phù hợp với
thực tiễn; đặc biệt là các quy định về xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất; quy định về thời hạn sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất nông
nghiệp...Việc thực hiện chính sách bảo vệ đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa
ổn định), đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng với chính sách phát triển các khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị mới; chính sách về trồng, khoanh
nuôi, bảo vệ rừng với khai thác, sử dụng rừng... còn bộc lộ sự mâu thuẫn, không
tương thích. Hơn nữa, chính sách, pháp luật đất đai thường xuyên sửa đổi, bổ sung
nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc làm này
cũng gây ra sự mâu thuẫn về nội dung trong một số quy định của pháp luật đất đai.
Thứ ba, trong việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa đơn vị hành chính cấp
xã, cấp huyện ở một số địa phương được thực hiện song nội dung xác định địa giới
hành chính không thực hiện kịp thời hoặc không rõ ràng, cụ thể làm cho tình trạng
TCĐĐ nói chung và tranh chấp QSDĐ trồng rừng trở nên phức tạp hơn.
Thứ tư, trong quản lý đất đai còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế về mặt chủ
quan như cán bộ thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền dẫn đến tham nhũng, tiêu
cực về đất đai. Công tác giải quyết TCĐĐ (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng
rừng)có trường hợp chưa đúng pháp luật mà chủ yếu dựa vào cảm tính chủ quan của
người có thẩm quyền hoặc hữu khuynh mất cảnh giác để kẻ xấu lợi dụng kích động,
xúi giục quần chúng nhân dân gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Thứ năm, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đất đai đạt hiệu quả thấp.
Mặt khác, một bộ phận quần chúng nhân dân ý thức chấp hành pháp luật chưa cao,

nhạy cảm có ý nghĩa về chính trị, kinh tế, xã hội. Đất đai là một trong những chính
sách đặc biệt quan trọng của Nhà nước ta trong suốt quá trình cách mạng. Khi
TCĐĐ (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng rừng) xảy ra tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn
định chính trị; bởi lẽ, các bất đồng, mâu thuẫn về đất đai nếu không được giải quyết
kịp thời sẽ dễ phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Đây là điều kiện để
các phần tử chống đối xuyên tạc, bôi nhọ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước; kích động, chia rẽ sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân
với âm mưu lật độ chế độ dân chủ nhân dân. Các vụ việc tranh chấp đất ở xã Đồng
Tâm (huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội); vụ việc ở Văn Giang (tỉnh Hưng Yên); vụ
việc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên năm 2002 v.v là những minh chứng điển hình
cho hậu quả chính trị do TCĐĐ (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng rừng) gây ra.
Thứ ba, về mặt xã hội. Tranh chấp đất đai (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng
rừng) là những xung đột phá vỡ kết cấu bền vững của các mối quan hệ xã hội. Do
mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi hoặc quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đất đai mà
không tự giải quyết được khiến các bên đương sự phải khởi kiện nhau ra tòa đã gây
nên rạn nứt trong mối quan hệ tình cảm , “đào hố sâu ngăn cách” giữa những thành
viên trong gia đình bao gồm cha - mẹ, vợ - chồng, anh - em; người thân, họ hàng,
17


làng xóm, cộng đồng dân cư. Xung đột xã hội xuất hiện và nếu không được giải
quyết triệt để, kịp thời sẽ gây ra sự khủng hoảng xã hội … Lợi ích kinh tế có thể
làm lu mờ, băng hoại các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trong nhiều trường hợp
TCĐĐ (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng rừng), nếu các bên đương sự không kiềm
chế và có cách ứng xử nhân văn, văn minh, phù hợp có thể dẫn đến việc phạm pháp
hình sự và kéo theo hàng loạt các hệ lụy xã hội khác không mong muốn.
1.2. Lý luận giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
Giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói
riêng là phản ứng của các bên đương sự hoặc của Nhà nước, của xã hội nhằm hóa


quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm hại và buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm
pháp lý do hành vi của họ gây ra.
Tìm hiểu nội dung các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ nói chung
và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng, tác giả nhận thấy hoạt động
này có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng
rừng nói riêng là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Hoạt động này do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện căn cứ vào các quy định của pháp luật,
quan điểm, đường lối của Đảng và thực tiễn sử dụng đất để tìm ra phương thức phù
hợp nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp. Điều này có
nghĩa là giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói
riêng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự,
thủ tục và thời hạn giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, giải quyết TCĐĐ nói chung và
giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng là hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước có nghĩa là không phải bất cứ cơ quan, công chức nào cũng có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp mà chỉ cơ quan, cá nhân được pháp luật đất đai quy
định mới có thẩm quyền giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp
QSDĐ trồng rừng nói riêng. Quyết định giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết
tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có
hiệu lực pháp luật bắt buộc các bên đương sự phải chấp hành. Trong trường hợp họ
không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Thứ hai, do đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên
nhiều phương diện. Hơn nữa, việc quản lý và sử dụng đất có nhiều biến động, xáo
trộn qua các thời kỳ lịch sử nên TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ
trồng rừng nói riêng xảy ra rất phức tạp, thường có đông người tham gia. Hoạt động
giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng cần
huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khuyến khích các tổ chức
quần chúng ở cơ sở và người dân tham gia giải quyết. Trong giải quyết TCĐĐ nói
chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng, Nhà nước coi trọng và đề

nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử
dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”3. Vì vậy, khi giải quyết các TCĐĐ nói
chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng, phải tôn trọng và bảo vệ
quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện, bảo vệ quyền
đại diện sở hữu đất đai của Nhà nước, bảo vệ thành quả cách mạng về đất đai mà
nhân dân ta đã giành được. Theo đó, mọi tranh chấp về đòi lại đất (bao gồm đất
trồng rừng) thì Nhà nước không xem xét và không thừa nhận việc đòi đất. Tuy
nhiên, Nhà nước xem xét lại một số trường hợp tranh chấp đất đai nói chung và giải
quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng đã giải quyết nhưng chưa đúng với
quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích
3

Khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013

20


kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hoà giải trong nội bộ nhân dân.
Luật đất đai năm 1993 ra đời với việc quy định năm quyền năng của người
SDĐ, đó là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ.
Tiếp đó, các đạo Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 kế thừa và phát
triển thành tám quyền năng của người SDĐ, bao gồm: quyền chuyển đổi, quyền
chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế, quyền tặng cho,
quyền thế chấp, quyền góp vốn bằng QSDĐ [22].Điều này đã khẳng định tư duy đổi
mới của Nhà nước ta là đề cao và coi trọng địa vị làm chủ của người sử dụng đất
trong lĩnh vực đất đai. Có như vậy mới tạo điều kiện để họ gắn bó lâu dài với đất
đai, khuyến khích đầu tư, bồi bổ, cải tạo đất. Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status