VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI XUÂN HIẾU
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRỒNG RỪNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI XUÂN HIẾU
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRỒNG RỪNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN
rừng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.........................................................54
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤp QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG RỪNG VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THI HÀNHTỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH
QUẢNG NAM......................................................................................................... 69
3.1..................................................................................Về phương diện lập pháp
..................................................................................................................... 69
3.2.
Các giải pháp tổ chức thực hiện thông qua tòa án nhân dân để nâng cao
hiệu
quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng.........................................72
3.3.
về phương diện hướng dẫn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp đất
đai nói
chung và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng nói riêng.................74
KẾT LUẬN............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được trong sản
xuất nông, lâm nghiệp, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế,
văn hóa - xã hội; an ninh, quốc phòng; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai còn là nguồn vốn, nguồn lực to lớn
để phát triển đất nước v.v. Ngay từ xa xưa, con người đã nhận thức được tầm quan
hệ thống Tòa án nhân dân được thành lập với chức năng phán quyết, xét xử các tranh
chấp nói chung và tranh chấp về đất đai nói riêng. Giải quyết tranh chấp đất đai
thông qua Tòa án nhân dân không phải là vấn đề mới. Thời gian qua, đã có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này ở phạm vi và mức độ khác nhau
được công bố. Dẫu vậy, các công trình khoa học được công bố chủ yếu nghiên cứu
về khía cạnh lý luận và thực tiễn việc giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân
dân. Xét dưới góc độ luật học, việc nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện
và chuyên sâu vấn đề giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng tham
chiếu từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam thì dường như còn
ít các công trình như vậy. Hơn nữa, qua tổng kết thực tiễn xét xử cho thấy chất lượng
và hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh
chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng nói riêng của ngành Tòa án nhân dân tại tỉnh
Quảng Nam vẫn chưa đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội. Số lượng các phán quyết, bản
án của tòa án cấp dưới bị tòa án cấp trên hủy bỏ, yêu cầu xét xử lại chiếm tỷ lệ
không nhỏ. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá một cách toàn
diện trên phương diện lý luận và thực tiễndưới góc độ luật học về giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất trồng rừng của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam để đề
xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này. Đặc biệt trong
bối cảnh Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2014 và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2017 được ban hành với nhiều sửa
đổi, bổ sung liên quan đến vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân nói chung và thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan này nói riêng. Với lý do đó, học viên
lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn
xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam ” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai luôn là vấn đề "nóng" thu
hút được sự quan tâm đặc biệt của người dân, các nhà quản lý và dư luận xã hội.
Trong khoa học pháp lý, tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa
án nhân dân nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, bằng chứng là vấn đề
ix) Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011) “Giao dịch về quyền
sử dụng đất vô hiệu, pháp luật và thực tiễn xét xử”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
x) Nguyễn Thị Dung (2004), “Về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
trong những quy định của Luật đất đai” , Tạp chí Luật học - Số chuyên đề về Luật
đất đai 2003, tháng 5;
xi) Nguyễn Quang Tuyến (2004), “Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất
đai của Tòa án”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14 - tháng 7;
xii) Lưu Quốc Thái (2006), “Hoàn thiện các quy định pháp luật về giải
quyết tranh chấp đất đai”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17;
xiii) Nguyễn Văn Thắng (2013), “Luật đất đai (sửa đổi) cần mở rộng thẩm
quyền của Tòa án nhân dân (TAND) trong giải quyết các tranh chấp về đất đai”,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21;
3
xiv) Văn phòng Quốc hội (2008), Các chuyên đề trình bày trong Hội thảo:
“Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: thực trạng và các giải pháp ”
tổ chức tại Buôn Mê Thuột - Đắc Lắc, tháng 3;
xv) Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội v.v.
Các công trình khoa học trên đây nghiên cứu ở những khía cạnh, góc độ khác
nhau tạo nên một “bức tranh” tương đối đa dạng về vấn đề tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai nói chung cũng như giải quyết tranh chấp đất đai bằng con
đường Tòa án nhân dân nói riêng ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu vấn đề ở phạm vi
rộng, mang tính toàn diện có những công trình như công trình nghiên cứu khoa học
cấp Bộ của ngành Tòa án nhân dân (năm 2002, năm 2012) hay luận án tiến sĩ của
Mai Thị Tú Oanh (năm 2013); ở phạm vi hẹp tại một địa phương cụ thể có những
công trình như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà, Hồ Xuân Hương... Tuy
nhiên, tìm hiểu, đánh giá pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân nói riêng; luận giải tính ưu việt của giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân v.v.
- Phân tích nội dung của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp quyền
sử dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; đánh giá
thực trạng thực thi chế định pháp luật này từ thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân tại tỉnh Quảng Nam nhằm nhận diện những ưu điểm, hạn chế, tồn tại và
nguyên nhân của hạn chế, tồn tại.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn xét xử của
Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các nội dung cụ thể sau đây:
- Các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Tòa án nhân dân.
- Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về giải quyết các vụ án dân
sự.
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
trồng rừng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
- Quan điểm, đường lối của Đảng về vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong
Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam.
- Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng
dẫn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân v.v.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng từ thực tiễn xét
tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân tại
tỉnh Quảng Nam.
iii) Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp bình luận v.v
được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng
rừng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn với đề tài “Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất trồng rừng
từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam”có những đóng góp
nhất định. Những đóng góp này bao gồm:
- Những kết quả nghiên cứu lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất trồng
rừng và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng thông qua hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân của luận văn góp phần bổ sung hệ thống cơ sở lý luận của
6
các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai; các quy định về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
- Những kết quả nghiên cứu về đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng và thực tiễn thi hành của Toàn án nhân dân
tại tỉnh Quảng Nam cũng như các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất trồng rừng và nâng cao hiệu quả thi hành tham chiếu từ thực
tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam là tài liệu tham khảo bổ ích cho
các cơ quan xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật đất đai.
- Luận văn còn là tài liệu có giá trị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và
nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật đất đai ở các cơ sở đào tạo luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phần phụ lục; luận văn được kết cấu thành ba chương, cụ thể như
các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai [34]
Theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về
quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất
đai [22].
Trên thực tế, tranh chấp đất đai (TCĐĐ) được hiểu là sự tranh chấp về quyền
quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể. Các bên tranh chấp không thể cùng
nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân
xử. Cần làm rõ TCĐĐ ở nước ta chính là tranh chấp QSDĐ hay bao gồm cả tranh
chấp QSDĐ và các tranh chấp liên quan đến QSDĐ? Về nội dung này, trong khoa
học pháp lí hiện nay còn tồn tại hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCĐĐ chỉ là tranh chấp về QSDĐ. Theo đó,
TCĐĐ không xác định được là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là
tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ đơn lẻ của người SDĐ do pháp luật đất đai quy
định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người SDĐ có được
khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn
được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được xác định rõ ràng là chỉ bao gồm
người SDĐ hay là tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người
SDĐ trong quan hệ TCĐĐ. Chính sự chung chung này đã khiến cho nội dung của
TCĐĐ nhiều lúc được mở rộng tối đa ở mức độ có thể. Trường phái này cho rằng
việc mở rộng khái niệm TCĐĐ trong điều kiện của nước ta hiện nay là chưa hợp lý;
vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai mà Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu thì người SDĐ chỉ có quyền sử dụng đối với đất đai. Vì vậy, cái mà
họ tranh chấp khi TCĐĐ chỉ có thể là QSDĐ. Mặt khác, các thuật ngữ TCĐĐ và
tranh chấp QSDĐ đã được sử dụng như những thuật ngữ thay thế nhau kể từ khi có
Luật đất đai năm 1987 đến nay mà không có sự phân biệt. Hơn nữa, các tranh chấp
có liên quan đến QSDĐ của người SDĐ cũng đã từng được quy định cụ thể trong
một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất
đai với tên gọi là tranh chấp liên quan đến QSDĐ chứ không phải TCĐĐ một cách
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc SDĐ.
Vậy, thuật ngữ “các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất” là một thuật
ngữ có nội hàm rất rộng, bao gồm cả tranh chấp về QSDĐ và tài sản gắn liền với đất.
Theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba loại: tranh chấp về việc
ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện đòi đất
đang bị người khác chiếm giữ, tranh chấp mốc giới); tranh chấp hợp đồng chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ và thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ;
tranh chấp thừa kế QSDĐ.
Không thể phủ nhận rằng, mỗi quan điểm trên đây đều được lập luận dựa trên
những căn cứ nhất định. Song thiết nghĩ, việc hiểu và vận dụng “TCĐĐ” bao gồm cả
tranh chấp QSDĐ và tranh chấp liên quan đến QSDĐ là hợp lý cả về vấn đề logic
ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự, nên bên cạnh những
đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, TCĐĐ còn mang những đặc trưng riêng
khác với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh doanh, thương
mại... Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể TCĐĐ chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và QSDĐ,
mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai; bởi lẽ, đất đai ở nước ta thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao QSDĐ cho người
SDĐ thông qua việc giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Do đó, QSDĐ của các
chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc
Nhà nước cho phép nhận QSDĐ hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như
vậy, chủ thể của TCĐĐ là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là
người quản lý hoặc người SDĐ.
Thứ hai, nội dung của TCĐĐ rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động quản lý và
SDĐ trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc SDĐ vào
nhiều mục đích khác nhau với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh
tế thị trường, việc quản lý và SDĐ không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng
một tư liệu sản xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hoá đặc biệt, có giá trị
thương mại. Giá đất lại có biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy,
nghĩa vụ của người sử dụng đất trồng rừng. Điều này có nghĩa là tranh chấp QSDĐ
trồng rừng là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích trồng rừng, công nhận
QSDĐ trồng rừng.
Ba là, loại đất liên quan đến tranh chấp QSDĐ trồng rừng là đất được Nhà
nước giao, cho thuê để trồng rừng (bao gồm trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng).
Bốn là, chủ thể tranh chấp QSDĐ trồng rừng là các bên trong quan hệ đất
trồng rừng bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất sử dụng vào mục đích trồng rừng (gọi chung là người SDĐ trồng rừng).
Năm là, do rừng được trồng ở các tỉnh ven biển để chắn gió, chắn cát bay,
chống xói lở, bảo vệ đất; rừng được trồng ở khu vực miền núi, trung du nên không
phải tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều phát sinh tranh chấp QSDĐ
trồng rừng mà chỉ những tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy hoạch SDĐ
trồng rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mới có loại tranh chấp
QSDĐ này. Thậm chí trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì không phải
quận, huyện, thị xã, thành phố nào cũng phát sinh tranh chấp QSDĐ trồng rừng mà
chỉ có những huyện có quy hoạch SDĐ trồng rừng được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt mới có thể có loại tranh chấp QSDĐ này. Ví dụ: Ở thành phố Hồ
Chí Minh chỉ có huyện Cần Giờ mới có tranh chấp QSDĐ trồng rừng do quy hoạch
SDĐ để trồng rừng ngặp mặn hay ở Hà Nội, có các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức,
thị xã Sơn Tây ... có những khu vực được quy hoạch SDĐ trồng rừng mới phát sinh
tranh chấp QSDĐ trồng rừng; trong khí đó, các quận nội thành lại không tồn tại loại
tranh chấp QSDĐ này.
1.1.3. Các dạng tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng phổ biến
Như phần trên đã đề cập, tranh chấp QSDĐ trồng rừng là một dạng cụ thể của
tranh chấp đất đai. Do đó, các dạng tranh chấp đất đai phổ biến cũng là các dạng
xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Người có QSDĐ trồng rừng chết không để lại di chúc; những người thừa kế
theo pháp luật không thoả thận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế.
Người có QSDĐ trồng rừng chết có để lại di chúc nhưng di chúc
31
không tuân thủ các quy định của pháp luật, định đoạt toàn bộ di sản chỉ cho một
e)
Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Luật này; tặng cho quyền sử
dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định
tại khoản 1 Điều 186 của Luật này;
g) Thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế
khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;
h) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
để hợp tác sản xuất, kinh doanh;
i) Trường hợp đất thuộc diện thu hồi để thực hiện dự án thì có quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho chủ đầu tư
dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án
theo quy định của Chính phủ.
31. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có
thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau
đây:
a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;
b) Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân
khác;
c) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
d) Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê
quyền sử dụng đất;
đ) Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
người sử dụng phần đất trồng trong bên trong đi qua khu vực đất của mình trong quá
trình SDĐ.
Thứ mười, tranh chấp đất trồng rừng liên quan đến địa giới hành chính. Dạng
tranh chấp này phát sinh giữa các đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh
trong trường hợp chia tác, sáp nhập, thành lập mới đơn vị hành chính v.v.
1.1.4. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
1.14.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do quan hệ đất đai nói chung và quan hệ đất trồng rừng nói riêng ở
nước ta có nhiều xáo trộn qua các thời kỳ. Việc thay đổi chế độ sở hữu đất đai từ đất
đai thuộc nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân (trước Hiến pháp năm
1980) đến đất đai thuộc sở hữu toàn dân (sau Hiến pháp năm 1980) đã khiến nhiều
TCĐĐ (trong đó có QSDĐ trồng rừng) xảy ra. Ngoài ra, các chính sách về xây dựng
kinh tế mới, di dân từ các tỉnh đồng bằng đến khu vực trung du, miền núi hoặc di dân
giữa các huyện trong tỉnh; xây dựng các nông, lâm trường v.v làm phát sinh tranh
chấp QSDĐ trồng rừng.
Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai qua các thời kỳ lịch
sử do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nhau ban hành không những nhiều
về số lượng mà còn có sự không thống nhất, thiếu đồng bộ về mặt nội dung. Chính
điều này đã làm cho thực tế các quan hệ đất đai nảy sinh qua các thời kỳ là rất phức
tạp, khi phát sinh tranh chấp thì không biết phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
nào để giải quyết.
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, đất đai ngày càng có giá trị. Trước đây,
trong nền kinh tế tập trung, bao cấp kế hoạch hóa cao độ, đất đai không được thừa
nhận có giá. Nó chỉ được coi như một thứ “phúc lợi xã hội”, được Nhà nước thay
mặt xã hội thực hiện việc phối cho các nhu cầu sử dụng; mọi hành vi mua bán,
chuyển nhượng đất đai, phát canh thu tô đều bị Nhà nước nghiêm cấm dưới mọi hình
thức. Khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để
tương thích. Hơn nữa, chính sách, pháp luật đất đai thường xuyên sửa đổi, bổ sung
nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc làm này
cũng gây ra sự mâu thuẫn về nội dung trong một số quy định của pháp luật đất đai.
Thứ ba, trong việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa đơn vị hành chính cấp
xã, cấp huyện ở một số địa phương được thực hiện song nội dung xác định địa giới
hành chính không thực hiện kịp thời hoặc không rõ ràng, cụ thể làm cho tình trạng
TCĐĐ nói chung và tranh chấp QSDĐ trồng rừng trở nên phức tạp hơn.
Thứ tư, trong quản lý đất đai còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế về mặt chủ
quan như cán bộ thiếu gương mẫu, lạm dụng chức quyền dẫn đến tham nhũng, tiêu
cực về đất đai. Công tác giải quyết TCĐĐ (bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng rừng)có
trường hợp chưa đúng pháp luật mà chủ yếu dựa vào cảm tính chủ quan của người
có thẩm quyền hoặc hữu khuynh mất cảnh giác để kẻ xấu lợi dụng kích động, xúi
giục quần chúng nhân dân gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Thứ năm, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đất đai đạt hiệu quả thấp.
Mặt khác, một bộ phận quần chúng nhân dân ý thức chấp hành pháp luật chưa cao,
chuyển quyền sử dụng đất trái pháp luật hoặc vi phạm các quy định về trình tự, thủ
tục chuyển quyền sử dụng đất... làm phát sinh các TCĐĐ (bao gồm tranh chấp
QSDĐ trồng rừng).
Thứ sáu, chính sách đất đai và các chính sách có liên quan chưa đồng bộ, có
mặt còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn; ví dụ: chính sách giao đất trồng rừng theo nhân
khẩu, theo hộ gia đình vô hình chung làm gia tăng dân số hoặc tảo hôn để tách lập
gia đình mới. Mặt khác, hồ sơ địa chính, sổ địa chính, bản đồ địa chính còn thiếu,
không đầy đủ hoặc không cập nhật thường xuyên những biến động đất đai; số liệu đo
vẽ đất đai không chính xác với diện tích đất thực tế v.v. Vì vậy, khi TCĐĐ (bao gồm
tranh chấp QSDĐ trồng rừng)xảy ra thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết hoặc đẩy các
cơ quan nhà nước vào thế lúng túng, bị động v.v
1.1.5. Hậu quả của tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
nên rạn nứt trong mối quan hệ tình cảm , “đào hố sâu ngăn cách” giữa những thành
viên trong gia đình bao gồm cha - mẹ, vợ - chồng, anh - em; người thân, họ hàng,
làng xóm, cộng đồng dân cư. Xung đột xã hội xuất hiện và nếu không được giải
quyết triệt để, kịp thời sẽ gây ra sự khủng hoảng xã hội ... Lợi ích kinh tế có thể làm
lu mờ, băng hoại các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trong nhiều trường hợp TCĐĐ
(bao gồm tranh chấp QSDĐ trồng rừng), nếu các bên đương sự không kiềm chế và
có cách ứng xử nhân văn, văn minh, phù hợp có thể dẫn đến việc phạm pháp hình sự
và kéo theo hàng loạt các hệ lụy xã hội khác không mong muốn.
1.2. Lý luận giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trồng rừng
Giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói
riêng là phản ứng của các bên đương sự hoặc của Nhà nước, của xã hội nhằm hóa
giải những bất động, mâu thuẫn và khôi phục lại cấu trúc bền vững của quan hệ đất
đai. Do tranh chấp QSDĐ trồng rừng là một dạng cụ thể của TCĐĐ nên xét về khái
cạnh học thuật, giải quyết TCĐĐ cũng chính là giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng
rừng. Thông qua việc tìm hiểu khái niệm giải quyết TCĐĐ để giải mã khái niệm giải
quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng. Giải quyết TCĐĐ là thuật ngữ được sử dụng
khá phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai. Cho dù Luật đất đai năm 2013
(trong phần giải thích thuật ngữ - Điều 3) không đưa ra giải thích chính thức về giải
quyết TCĐĐ. Tuy nhiên, thuật ngữ này được các sách báo pháp lý ở nước ta giải mã
nội hàm như sau:
Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ học: Giải quyết tranh chấp đất đai là giải
quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi
các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với
hành vi vi phạm Luật đất đai [33].
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: .Giải quyết
tranh chấp đất đai là việc tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải
trồng rừng nói riêng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật bắt
buộc các bên đương sự phải chấp hành. Trong trường hợp họ không chấp hành sẽ bị
cưỡng chế thi hành.
Thứ hai, do đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên
nhiều phương diện. Hơn nữa, việc quản lý và sử dụng đất có nhiều biến động, xáo
trộn qua các thời kỳ lịch sử nên TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ
trồng rừng nói riêng xảy ra rất phức tạp, thường có đông người tham gia. Hoạt động
giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng cần
huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khuyến khích các tổ chức
quần chúng ở cơ sở và người dân tham gia giải quyết. Trong giải quyết TCĐĐ nói
chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng, Nhà nước coi trọng và
đề cao các phương thức thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết ổn thỏa tranh chấp,
duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Thứ ba, do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên Nhà nước
không thừa nhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất đã chia
cấp cho người khác khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ tư, việc giải quyết TCĐĐ nói chung và giải quyết tranh chấp QSDĐ
trồng rừng nói riêng không chỉ dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách,
pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào tâm lý, thị hiếu, phong tục tập quán ...
trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai của người dân ở các vùng, miền khác nhau
trong cả nước. Đặc biệt, đội ngũ già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và người có uy
tín trong cộng động dân cư có vai trò rất lớn trong việc hòa giải TCĐĐ nói chung và
giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng ở khu vực nông thôn, miền núi và
vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Hơn nữa, đối với khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và vùng nông thôn
thì hương ước, quy tắc sinh hoạt cộng đồng, luật tục ... có ảnh hưởng lớn đến việc
thành tám quyền năng của người SDĐ, bao gồm: quyền chuyển đổi, quyền chuyển
nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế, quyền tặng cho, quyền
thế chấp, quyền góp vốn bằng QSDĐ [22].Điều này đã khẳng định tư duy đổi mới
của Nhà nước ta là đề cao và coi trọng địa vị làm chủ của người sử dụng đất trong
lĩnh vực đất đai. Có như vậy mới tạo điều kiện để họ gắn bó lâu dài với đất đai,
khuyến khích đầu tư, bồi bổ, cải tạo đất. Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi ích của
người SDĐ không được đảm bảo, thì việc SDĐ không thể mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Đây không phải là một ngoại lệ đối với giải quyết TCĐĐ nói chung và giải
quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng. Việc giải quyết TCĐĐ nói chung và
giải quyết tranh chấp QSDĐ trồng rừng nói riêng đạt hiệu quả khi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chú trọng đến bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự nói chung và
của người SDĐ nói riêng.
Hơn nữa, một truyền thống tốt đẹp của văn minh lúa nước là tinh thần đoàn
kết, tương thân tương ái của người Việt Nam; đặc biệt là người dân sống ở khu vực
nông thôn, trung du, miền núi. Trong tâm thức của người Việt Nam, đất nước, quê
hương, làng xóm, gia đình gắn bó mật thiết với nhau và hòa quyện làm một. Mọi
người đều có ý thức giữ gìn sự đoàn kết trong nội bộ gia đình, làng xóm, cộng đồng.
Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn trong cuộc sống, người Việt Nam thường
có xu hướng lựa chọn phương thức thương lượng, hòa giải để giải quyết nhằm duy
trì tình đoàn kết cộng đồng. Mặt khác, thương lượng, hòa giải là phương thức giải
quyết tranh chấp đất đai linh hoạt, mềm dẻo, dễ áp dụng, tiết kiệm thời gian và đỡ
tốn kém về tiền bạc trong việc theo đuổi khiếu kiện. Đồng thời, nó tôn trọng sự định
đoạt, ý chí tự nguyên của các bên đương sự. Nhận thức được vai trò của hòa giải
tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng đối với người dân, nên khi giải
quyết tranh chấp đất đai (bao gồm tranh chấp về QSDĐ trồng rừng), Nhà nước
khuyến khích các bên đương sự tự thương lượng, hòa giải; chỉ khi thương lượng, hòa
giải không thành và các bên đương sự có đơn yêu cầu thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền mới tiến hành giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp
QSDĐ trồng rừng nói riêng.
1.2.2.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai nhằm mục đích ổn định tình